phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng chính: Chƣơng 1: Mấy vấn đề lý luận về du lịch Thiền. Chƣơng 2: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch Thiền ở Thiền viện Trúc Lâm - Yên Tử. Chƣơng 3: Một số khuyến nghị nhằm phát triển du lịch Thiền tại Thiền viện Trúc Lâm - Yên Tử. Sinh viªn: NguyÔn ThÞ Sen - Líp: VHL 201 8 T×m hiÓu vÒ du lÞch ThiÒn (zen tourism) ë ThiÒn viÖn Tróc L©m Yªn Tö CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH THIỀN 1.
Sự ra đời của đạo Phật tại Việt Nam: 1. Sự ra đời của đạo Phật: Đức Phật sống vào khoảng thế kỷ thứ VI trƣớc công nguyên tại vùng Bắc Ấn Độ. Ngài vốn là một vị Hoàng tử của Vƣơng quốc Sakya tại chân dãy núi Hymalaya, ngày nay thuộc Nepal. Cuộc sống của ngài rất sung sƣớng, ngài kết hôn với công chúa Yasodhara và có một con trai là Rahula.
Mặc dù sống trong nhung lụa nhƣng Ngài luôn trăn trở về những mặt đen tối của xã hội Ấn Độ lúc đó, nỗi đau khổ của đồng loại, sự bất bình đẳng giai cấp trong xã hội, tính vô thƣờng của sự việc thông qua các cảnh vật đã làm thay đổi tƣ duy của ngài. Ngài thấy một ngƣời già run rẩy, ngƣời bệnh rên siết và một ngƣời chết khiến cho con ngƣời ta thoát khỏi quá trình sinh lão bệnh tử, và ngài cũng thấy một vị chƣ tăng, ngài nảy sinh việc kiên quyết đi tìm chân lý thoát khỏi bể khổ của loài ngƣời. Ngài rời bỏ cuộc sống vƣơng giả để đi tu tập tìm con đƣờng diệt khổ. Khi ngồi Thiền dƣới gốc cây bồ đề ngài đã tìm đƣợc lời giải đáp và giác ngộ, lúc đó ngài 35 tuổi.
Sau đó, Đức Phật đi tu hành khắp nơi để thuyết pháp và giảng dạy về con đƣờng giác ngộ cho những ai hữu duyên và sẵn sàng tu học. Tăng đoàn do đức Phật thành lập ngày càng lớn mạnh, giáo pháp của ngài đƣợc truyền đạo đến hết thảy dân chúng mà không dành riêng cho tầng lớp nào cả, không nhƣ đạo Bà La Môn chỉ dành cho các nhà quý tộc Ấn Độ thời đó. Sau khi ngài nhập Niết bàn, giáo pháp và đạo của ngài đã đƣợc truyền bá khắp nơi và sang cả các quốc gia ở những châu lục khác. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam: Với điều kiện cơ bản để phát huy đƣợc du lịch Thiền chính là nền tảng của đạo Phật tại quốc gia đó.
Để hiểu rõ hơn về du lịch Thiền tại Việt Nam, chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn về Phật giáo tại Việt Nam. Phật giáo đƣợc du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sƣ Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc Sinh viªn: NguyÔn ThÞ Sen - Líp: VHL 201 9 T×m hiÓu vÒ du lÞch ThiÒn (zen tourism) ë ThiÒn viÖn Tróc L©m Yªn Tö tỉnh Bắc Ninh ngày nay) là trụ sở của quận Giao Chỉ từ thời đầu phong kiến đô hộ phƣơng Bắc sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nƣơng Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La trong thời gian 168 - 189.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) đƣợc phiên âm trực tiếp thành Bụt, từ Bụt đƣợc dùng nhiều trong các chuyện dân gian. Phật giáo và thời điểm đó mang màu sắc Phật giáo Tiểu thừa, Bụt đƣợc coi nhƣ là một vị thần chuyên đi cứu giúp ngƣời tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này vào thế kỷ thứ IV - V, do ảnh hƣởng của Phật giáo Đại Thừa đến từ Trung Quốc mà từ Bụt mất dần đi và thay vào đó là từ Phật. Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm.
Thời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh đƣợc coi là quốc giáo, ảnh hƣởng đến mọi mặt của cuộc sống. Đến thời nhà Hậu Lê thì Nho giáo đƣợc coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đầu thế kỷ thứ 18, vua Quang Trung cố gắng chấn hƣng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhƣng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hƣởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sƣ Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
Với các hoạt động của Phật giáo trong suốt thời gian truyền bá tại Việt Nam và các biến cố của lịch sử, Phật giáo Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay tạm thời đƣợc phân ra làm bốn giai đoạn chính sau: Giai đoạn 1: Từ đầu Công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc (Thế kỷ X) là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp. Giai đoạn 2: Thời kỳ Đại Việt là giai đoạn cực thịnh. Giai đoạn 3: Từ thời Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn suy thoái. Giai đoạn 4: Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn Phục hƣng.
Đạo Phật sau khi đƣợc truyền bá vào Trung Quốc đã phát triển, hình thành các tông phái khác nhau và cũng theo đó truyền bá vào Việt Nam trong đó nổi bật là tác động của 3 tông phái lớn: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Sinh viªn: NguyÔn ThÞ Sen - Líp: VHL 201 10 T×m hiÓu vÒ du lÞch ThiÒn (zen tourism) ë ThiÒn viÖn Tróc L©m Yªn Tö Nhƣ vậy, Phật giáo đến Việt Nam từ rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn phát triển đặc biệt là thời gian phát triển dƣới thời Lý và tiếp đến triều Trần để rồi Việt Nam có dòng Thiền Tông riêng biệt với sự hợp nhất các thiền phái của Phật Hoàng Trần Nhân Tông để hình thành thiền phái Trúc Lâm. Quan trọng nhất, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại giá trị đạo đức xã hội trong suốt thời gian tồn tại ở Việt Nam. Ngoài ra Phật giáo còn góp phần không nhỏ trong các giá trị văn hóa còn lại đến hiện nay nhƣ các công trình điêu khắc mang đậm nét văn hóa, các công trình kiến trúc có tính thẩm mỹ cao, các tác động của Phật giáo vào nếp sống, giáo dục nhân cách con ngƣời.
Chính các giá trị tinh thần, giá trị văn hóa to lớn qua tác động truyền bá của Phật giáo đã đem lại một kho tàng nhân văn để các thế hệ tiếp sau biết đƣợc các hoạt động phát triển của Phật giáo của thế hệ đi trƣớc và cũng là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn để giới thiệu với bạn bè năm châu về hoạt động không chỉ mang tính chất tôn giáo thuần túy mà còn mang tính xã hội rất cao, và với khía cạnh du lịch là nguồn tài nguyên hấp dẫn để khai thác, đem lại nguồn thu bền vững cho nền kinh tế. Khởi nguyên của Thiền Tông Trung Hoa: Trong các tông phái Phật giáo Trung Quốc, Thiền Tông là tông phái có tầm ảnh hƣởng quan trọng nhất đối với toàn bộ hệ thống tƣ tƣởng Phật giáo Trung Quốc từ đời Đƣờng trở về sau. Nếu xét từ cội nguồn thì hai phái chính trong hệ thống Thiền Tông là Nhƣ Lai Thiền và Tổ Sƣ Thiền. Nhƣ Lai Thiền đƣợc xem là phƣơng pháp tu thiền có cội nguồn từ Phật giáo Ấn Độ, trong khi Tổ Sƣ Thiền lại có khuynh hƣớng đƣợc xem là sáng tạo riêng của Phật giáo Trung Quốc và khởi nguyên với sự hiện diện của Ngài Bồ Đề Đạt Ma.
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) là thái tử thứ 3, con vua Kancipura xứ Nam Ấn. Theo lời dạy của thầy là ngài Bát Nhã Đa La (Prajnàtara), Ngài sang Trung Quốc vào đời Lƣơng, khoảng năm 470 - 520. Theo phổ hệ truyền thừa của Thiền Tông Ấn Độ, từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến đời Ngài là thứ 28, nhƣng Ngài Sinh viªn: NguyÔn ThÞ Sen - Líp: VHL 201 11 T×m hiÓu vÒ du lÞch ThiÒn (zen tourism) ë ThiÒn viÖn Tróc L©m Yªn Tö đƣợc xem là ngƣời khai sáng của phổ hệ truyền thừa Thiền Tông Trung Quốc gồm: 1/Bồ Đề Đạt Ma. Bắt đầu từ ngài Hoằng Nhẫn, Thiền Tông Trung Quốc đã bắt đầu phát triển cực mạnh với sự truyền giảng của hai ngài Thiền Tú (605 - 706) và Huệ Năng (đƣợc xem là Tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Quốc, 638 - 713).
Ngài Thần Tú truyền giáo ở phƣơng Bắc nên dòng thiền này gọi là dòng thiền Bắc tông. Tƣơng tự dòng thiền của Huệ Năng đƣợc gọi là dòng thiền Nam tông. Thiền Bắc tông chủ trƣơng giáo pháp tiệm ngộ (sự bừng sáng của trí tuệ giải thoát có đƣợc theo quá trình tu tập thứ lớp) nên đƣợc coi là “Bắc tiệm”. Trong khi đó thiền Nam tông lại có mục tiêu đốn ngộ (giác ngộ ngay, không theo thứ lớp) nên đƣợc gọi là “Nam đốn”.
Trong các thời đại sau đó, thiền phái của ngài Huệ Năng phát triển rất mạnh và phân thành 5 tông phái là Lâm Tế, Quy Ngƣỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn. Lâm Tế tông sau lại chia thành hai phái là Hoàng Long và Dƣơng Kỳ. Năm tông trên, thêm vào hai phái sau thƣờng đƣợc sử viết là “Ngũ gia thất tông”. Vào các thời đại Nguyên, Minh, Thanh, trong khi một số tôn phái khác bị suy thoái dần do sự du nhập và phát triển mạnh mẽ của Lạt Ma giáo Tây Tạng thì Thiền Tông lại trở thành tông phái phổ biến nhất.
Từ Trung Hoa dân quốc đến nay, Thiền Tông vẫn là một tông phái chủ đạo của Phật giáo Trung Quốc. Thiền Tông Việt Nam: Thiền có nghĩa là tĩnh tâm, chủ trƣơng tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền Tông, “thiền” không phải là “suy nghĩ” vì suy nghĩ là “tâm vọng tưởng”, làm phân tâm và mầm mống của sanh tử luân hồi. Cách tu theo Thiền Tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian cộng với khả năng đốn ngộ.
Yêu cầu đó chỉ có kẻ căn cơ cao mới có đƣợc nên ngƣời tu thiền thì nhiều nhƣng ngƣời chứng ngộ quả thực hiếm hoi. Tuy nhiên, lịch sử Thiền Tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ ràng hơn cả. Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sƣ Tì Ni Đa Lƣu Chi lập ra. Ông là ngƣời Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam năm 580, Sinh viªn: NguyÔn ThÞ Sen - Líp: VHL 201 12 T×m hiÓu vÒ du lÞch ThiÒn (zen tourism) ë ThiÒn viÖn Tróc L©m Yªn Tö tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho Tổ thứ hai là Pháp Hiền.