Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Đồng bằng sông Hồng, sở hữu mật độ di tích lịch sử - văn hóa cao nhưng ngành du lịch nói chung và du lịch văn hóa tâm linh nói riêng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Trong các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của địa phương, nổi bật nhất là Quần thể di tích Đền thờ và Lăng mộ các vua Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà. Dựa trên các nghiên cứu sử học và phát hiện khảo cổ học, huyện Hưng Hà (xưa là hương Tinh Cương, phủ Long Hưng) không chỉ là nơi lưu giữ mộ tổ 4 đời của họ Trần kể từ thời vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), mà còn được chứng minh là vùng đất phát tích, khởi nghiệp của vương triều Trần (1226–1400) – triều đại oanh liệt với 3 lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông. Nhận thấy vai trò quan trọng của di tích này trong định hướng xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Thái Bình, tác giả Phan Thị Thêu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch với đề tài: "Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu các giá trị du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu tại di tích đền Trần Thái Bình.
  2. Cung cấp hệ thống thông tin, tri thức khoa học và sự hiểu biết cặn kẽ về giá trị văn hóa tâm linh phục vụ du khách tham quan.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch thông qua việc bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng nền tảng cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
  2. Thực hiện khảo sát thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và công tác phát triển du lịch tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch văn hóa tâm linh gắn liền với quảng bá giá trị văn hóa và bảo tồn di tích lịch sử tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hoạt động kinh doanh du lịch, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, cùng toàn bộ các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng hiện hữu tại khu di tích. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại Quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; nội dung tập trung vào thực trạng khai thác hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và các giải pháp quản lý, phát triển điểm đến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành văn hóa và du lịch:

  • Văn hóa và Du lịch văn hóa: Trích dẫn định nghĩa văn hóa của UNESCO (do Tổng Giám đốc Federico Mayor đề xuất) và các giáo trình văn hóa học. Khái niệm du lịch, hoạt động du lịch, sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch và khách du lịch được căn cứ trực tiếp theo quy định tại Điều 3 Chương 1 của Luật Du lịch năm 2017.
  • Tâm linh và Văn hóa tâm linh: Tiếp cận khái niệm tâm linh dưới góc độ ý thức hệ và nhân học văn hóa thông qua công trình Tâm linh Việt Nam của PGS. Nguyễn Duy Hinh (xem tâm linh là thể nghiệm của con người về cái Thiêng trong tự nhiên và xã hội thông qua trải nghiệm sống) và công trình Văn hóa tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy. Khóa luận cũng phân định rõ ranh giới giữa tâm linh, tín ngưỡng lành mạnh với tệ nạn mê tín dị đoan.
  • Du lịch văn hóa tâm linh: Xác định đây là hình thức du lịch kết hợp giữa việc đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan với nhu cầu thực hành tín ngưỡng, hướng thiện, rèn luyện tinh thần tại các không gian linh thiêng (đền, chùa, đình, miếu, lăng tẩm).
  • Phân loại điểm đến tâm linh: Khóa luận hệ thống hóa các thiết chế tôn giáo (Chùa, Nhà thờ) và thiết chế tín ngưỡng dân gian (Đền thờ Thần/Thánh/Nhân thần, Đình thờ Thành hoàng, Miếu, Phủ/Điện thờ Mẫu).

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: Thu thập, đối chiếu và tổng hợp các nguồn tư liệu thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược), các công trình nghiên cứu lịch sử - khảo cổ học và giáo trình chuyên ngành (của GS. Lê Văn Lan, PGS. Trần Thúy Anh, PGS.TS. Dương Văn Sáu).
  • Phương pháp điều tra, điền dã: Quan sát thực địa, thu thập số liệu thực tế tại xã Tiến Đức, ghi nhận lời kể của nhân chứng địa phương (như lời kể của cụ Trần Văn Chuyện về phong tục cổ truyền) và hồ sơ lưu trữ tại Ban quản lý di tích.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Tổng hợp, xử lý dữ liệu về số lượng khách, quy mô hạ tầng, danh mục lễ hội và đối chiếu hoạt động du lịch tại Đền Trần Thái Bình với các di tích đền Trần khác (Đền Trần Nam Định, Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc ở Hải Dương, Đền Trần Thương ở Hà Nam).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh

Chương này tập trung tổng quan tình hình nghiên cứu và chuẩn hóa hệ thống khái niệm lý luận. Về lịch sử nghiên cứu, tác giả tổng hợp các công trình tiêu biểu về thời đại nhà Trần như Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông (Hà Văn Tấn, Đặng Thị Tâm), Trần miếu di sản và tín ngưỡng dân gian (NXB Văn hóa Thông tin, 2006); các tài liệu về địa chí Thái Bình như Đất và người Thái Bình (Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan), Ngàn năm đất và người Thái Bình (Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, 1990); cùng các luận văn nghiên cứu trực tiếp về lễ hội và du lịch Đền Trần của Phạm Văn Duy, Trần Thị Dung.

Tác giả phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa văn hóa và du lịch: văn hóa là nguồn tài nguyên cốt lõi tạo ra sức hút và sản phẩm du lịch, trong khi du lịch là công cụ quảng bá, giao lưu văn hóa và tạo nguồn thu tái đầu tư bảo tồn di sản. Tuy nhiên, nếu thiếu kiểm soát, hoạt động du lịch có thể dẫn đến nguy cơ thương mại hóa, biến tướng nghi lễ và xâm hại văn hóa bản địa.

Khóa luận đúc kết các đặc điểm đặc thù của du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam:

  1. Gắn liền với sự đa dạng tôn giáo (đặc biệt là Phật giáo) và các giá trị triết học phương Đông.
  2. Gắn chặt với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tri ân các anh hùng dân tộc, Thành hoàng làng và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.
  3. Gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cội nguồn dòng họ.
  4. Tích hợp các hoạt động thể thao tâm linh, thiền định (tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử) và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, khảo cứu lịch sử và thực trạng tổ chức khai thác tại di tích.

1. Khái quát tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình Thái Bình có diện tích tự nhiên 1.546,54 km², địa hình bằng phẳng (độ dốc dưới 1%, độ cao phổ biến 1–2m so với mực nước biển), được bao bọc bởi 4 con sông lớn (sông Hóa dài 35,3 km, sông Luộc dài 53 km, sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý dài khoảng 1.000m) và 5 cửa biển (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Về tài nguyên văn hóa, tỉnh lưu giữ hệ thống di tích phong phú qua các triều đại (Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Đinh, Lý, Trần), ghi nhận 111 vị đỗ Tiến sĩ với 66 vị được lập từ đường, đền, miếu thờ phụng. Về phi vật thể, tỉnh sở hữu 3 vùng chèo danh tiếng (chèo Hà Xá ở Hưng Hà, chèo Khuốc ở Đông Hưng, chèo Sáo Đền ở Vũ Thư) và 7 phường múa rối nước cổ truyền (nổi bật là làng Nguyên Xá).

Bảng: Danh mục một số lễ hội tiêu biểu tại tỉnh Thái Bình (trích xuất từ khóa luận)

STT Tên lễ hội Thời gian (Âm lịch) Địa điểm tổ chức
1 Lễ hội chùa Keo Hội xuân: 04/01
Hội thu: 13–15/09
Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư
2 Lễ hội Đền Trần 13–18/01 Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà
3 Lễ hội Đình, đền, bến tượng A Sào 10/02 Thôn A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ
4 Lễ hội Đền Tiên La 17/03 Xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà
5 Lễ hội đền Đồng Bằng 20/08 Xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ
6 Lễ hội làng Lộng Khê 23–25/03 Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ
7 Lễ hội làng Quang Lang 14/04 Xã Thụy Vân, huyện Thái Thụy
8 Lễ hội Sáo Đền 20–27/03 Xã Song An, huyện Vũ Thư

2. Lịch sử vương triều Trần và đất phát tích Long Hưng Khóa luận chứng minh Long Hưng (Hưng Hà) là đất phát tích của nhà Trần qua các cứ liệu lịch sử và luận điểm của GS. Lê Văn Lan với công thức văn hóa học: "Đất lăng mộ = Đất phát tích". Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ đời cụ tổ Trần Kinh đã làm nghề chài lưới ở Tức Mặc, đến đời tổ thứ hai là Trần Hấp dời mộ cha sang gò Hỏa Tinh ở Thái Đường (Tam Đường ngày nay). Từ đây, thế lực họ Trần lớn mạnh qua các đời Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung. Sau khi lập quốc (1225–1226), triều Trần đặt kinh đô tại Thăng Long, xây hành cung tại Tức Mặc, nhưng chọn phủ Long Hưng làm nơi đặt tôn miếu, lăng mộ các vị vua đầu triều (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông). Năm 1288, sau chiến thắng Bạch Đằng, hai vua Trần cũng đem tướng giặc bắt được về làm lễ dâng thắng trận tại Chiêu Lăng (Long Hưng).

3. Khảo cứu khảo cổ học và lịch sử kiến trúc di tích

  • Khảo cổ học: Khai quật tại khu mộ địa Tam Đường (1979–1980) trên diện tích hơn 600m² đã thu được 296 hiện vật lớn và hàng ngàn hiện vật gốm, đất nung thời Trần (ngói bò nóc, ngói mũi hài gắn lá đề, tượng đầu rồng, đầu chim phượng, đĩa men ngọc, gạch in chữ "Vĩnh Ninh Trường" tương đồng gạch tháp Phổ Minh). Ngày 30/10/1990, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 1214/QĐBT xếp hạng Tam Đường là Di tích khảo cổ học và lịch sử quốc gia.
  • Quy mô kiến trúc: Đền Trần tọa lạc trên khuôn viên rộng hơn 32ha, phía trước có 3 gò ấn kiếm (phần Đa, phần Bụt, phần Trung), phía sau tựa vào 7 gò thất tinh, hai bên có sông Hồng và sông Thái Sư bao bọc. Công trình được đầu tư tôn tạo từ năm 1999 với tổng kinh phí trên 25 tỷ đồng. Ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng di tích là Di tích quốc gia đặc biệt.

Bảng: Cấu trúc không gian và bố trí thờ tự tại Đền Trần (Tiến Đức, Hưng Hà)

Hạng mục kiến trúc Diện tích / Quy mô Đặc điểm kiến trúc Nội dung thờ tự / Hiện vật tiêu biểu
Nghi môn tứ trụ Dài 11m, cao 6,5m Tam quan cuốn vòm, mái chồng diêm 2 tầng, đao song loan, trụ biểu đắp hình phượng lá lật, nghê chầu Cổng đón tiếp tôn nghiêm ngăn cách không gian
Sân đền 550 m² Lát gạch rộng rãi Hai bên bố trí giếng ngọc tạo thế phong thủy cân đối
Tòa Bái Đường 330 m² (7 gian) Hai tầng mái chồng diêm, cửa lim chạm rồng thời Lê, vì kèo chạm tứ linh tứ quý thời Nguyễn Chuông đồng nặng gần 300kg (đường kính 80cm, cao 1,1m) do ông Trần Nhượng tiến cúng; bài vị Văn quan - Võ tướng
Sân Chầu & Giải vũ 400 m²; 2 dãy giải vũ Đông - Tây (5 gian/dãy) Kết cấu gỗ lim, vì kèo chồng đấu hoa sen, hồi văn 5 đấu Không gian hành lễ ngoài trời; Thư viện Đền Trần (khai trương 10/12/2009) lưu giữ 1.500 đầu sách
Tòa Đệ Nhị 270 m² (5 gian) Kết cấu chữ Đinh, gỗ lim chạm tứ quý tứ linh, hoành phi "Đông A hào khí" Chính giữa: Thánh tượng Trần Thái Tông; Tả: Thánh tượng Trần Thánh Tông; Hữu: Thánh tượng Trần Nhân Tông
Tòa Hậu Cung 90 m² (kết cấu chữ Đinh, 8 gian tổng thể 359m²) Nền cao hơn 1m, rồng đá chạm trổ tinh xảo thời Lê - Nguyễn Chính cung: Linh vị Trần Kinh, Trần Hấp, Trần Lý, Thánh tượng Thái Tổ Trần Thừa; Tả: Trần Thị Dung; Hữu: Trần Thủ Độ

4. Giá trị văn hóa phi vật thể và lễ hội Lễ hội Đền Trần Thái Bình được khôi phục quy mô lớn từ năm 2010 (diễn ra từ 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch), được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014. Các hoạt động tâm điểm gồm:

  • Lễ Khai ấn: Tổ chức đúng giờ Tý (23h00) đêm 13 rạng sáng ngày 14 tháng Giêng, tái hiện việc vua Trần mở tiệc khao quân và bắt đầu công việc quốc sự sau Tết.
  • Màn sử thi "Âm vang hào khí Đông A" với sự tham gia của hàng nghìn diễn viên, liên hoan diễn xướng chầu văn (thu hút 8 huyện, thành phố với hơn 20 bài hát văn, ca trù), thi kéo co, cờ người, chọi gà, vật võ.
  • Tục thi Cỗ cá làng Tam Đường: Bắt nguồn từ mối giao hảo cổ truyền giữa làng Thái Đường (Tam Đường) và làng Vân Đài nhân ngày giỗ công chúa Diệu Từ Ân (15/2 ÂL) và công chúa Diệu Từ Dong (15/9 ÂL). Năm 2012, tục dâng 3 mâm cỗ cá chính thức được phục dựng tại đền. Quy chuẩn làm cỗ gồm: Cỗ kép (1 con cá trắm đen từ 3kg trở lên ở giữa, 4 con cá mè từ 1kg trở lên xếp 4 góc úp bụng xuống, trang trí lá đinh lăng, hoa mẫu đơn cắm miệng cá; tầng dưới lót 4 bát thịt lợn thái phay, 2 đĩa giò lụa, 2 đĩa giò pha, chả chìa, nem, dưa hành, mọc miến, chân giò ninh, xôi); Cỗ đơn (cá chép từ 3kg trở lên cùng 4 cá mè, không dùng cá trắm đen).

5. Hoạt động du lịch và so sánh liên vùng Lễ hội thu hút đông đảo khách thập phương (điển hình lễ khai mạc năm 2016 thu hút hàng trăm nghìn lượt khách cùng sự tham dự của các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước). Khóa luận cũng so sánh đặc điểm khai thác với Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương - gắn với dấu ấn Hưng Đạo Đại vương), Đền Trần Nam Định (hành cung Tức Mặc, nổi tiếng với phát ấn thu hút lượng khách thương mại lớn) và Đền Trần Thương (Hà Nam - căn cứ kho lương thời Trần).

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Trên cơ sở phân tích thực trạng và định hướng quy hoạch của tỉnh, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao trách nhiệm quản lý và hoàn thiện quy hoạch: Kiện toàn bộ máy Ban quản lý di tích; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và thi công các hạng mục còn dang dở (như tòa Ngũ Tiền Môn, trục thần đạo, bãi đỗ xe và hệ thống đường kết nối lăng mộ các vua).
  2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù: Khai thác chiều sâu các sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể (trình diễn hát chèo Hà Xá, múa rối nước, diễn xướng chầu văn); thương mại hóa các đặc sản ẩm thực truyền thống (bánh cáy làng Nguyễn, bánh gai Đại Đồng, cỗ cá, giò lụa) làm quà lưu niệm.
  3. Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tuyên truyền giáo dục người dân xã Tiến Đức và du khách về ý thức bảo vệ cảnh quan, vệ sinh môi trường, bài trừ các tệ nạn mê tín dị đoan, buôn bán chèo kéo, đổi tiền lẻ tại không gian linh thiêng.
  4. Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh, giao tiếp ứng xử văn minh du lịch cho cán bộ Ban quản lý, nhân viên phục vụ và đội ngũ tình nguyện viên tại điểm đến.
  5. Đẩy mạnh truyền thông, quảng bá xúc tiến: Phân công trách nhiệm rõ ràng giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (xây dựng chiến lược xúc tiến cấp tỉnh, kết nối tour tuyến với chùa Keo, đền Đồng Bằng, đền Tiên La) và Ban quản lý di tích (biên soạn tài liệu giới thiệu chuẩn xác, số hóa thông tin, vận hành thư viện và cổng thông tin).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc và thực trạng khai thác du lịch tại Quần thể di tích Đền Trần Thái Bình với các kết quả cụ thể:

  • Xác lập cơ sở khoa học khẳng định huyện Hưng Hà là đất phát tích, nơi đặt mộ tổ và lăng miếu đầu tiên của triều đại nhà Trần, phân biệt rõ chức năng lịch sử giữa Long Hưng (đất phát tích, tôn miếu), Thăng Long (kinh đô chính trị) và Tức Mặc (hành cung nghỉ ngơi).
  • Khảo cứu chi tiết không gian kiến trúc 32ha và phân loại bài vị, thánh tượng thờ tự tại các tòa Bái Đường, Đệ Nhị và Hậu Cung; ghi nhận đầy đủ hiện trạng Thư viện Đền Trần với 1.500 đầu sách.
  • Ghi chép và mô tả tỉ mỉ quy trình thực hành nghi lễ phi vật thể cổ truyền, đặc biệt là kỹ thuật chế biến và bài trí mâm "Cỗ cá Thái Đường" (cỗ đơn và cỗ kép) - một nét văn hóa ẩm thực tâm linh độc nhất tại Thái Bình.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp có tính khả thi, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước (Sở VHTTDL) và đơn vị vận hành trực tiếp (Ban quản lý di tích).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của khóa luận chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm Đền Trần (thôn Tam Đường, xã Tiến Đức), chưa thể mở rộng khảo sát chuyên sâu toàn diện hệ thống các lăng mộ hoàng thân, công chúa nhà Trần và các phế tích liên quan rải rác trên toàn huyện Hưng Hà. Nguồn số liệu thống kê du khách qua các năm chưa được xử lý bằng các mô hình định lượng phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu liên kết chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh liên tỉnh (kết nối di tích nhà Trần tại Thái Bình - Nam Định - Hải Dương - Quảng Ninh); nghiên cứu sâu hơn về tiềm năng khai quật khảo cổ học tại các điểm phế tích thời Trần ven sông Luộc và sông Hồng.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Văn hóa, Lịch sử học và Bảo tàng học.
  • Hướng dẫn viên du lịch và các doanh nghiệp lữ hành khai thác tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh vùng Đồng bằng sông Hồng.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, Ban quản lý di tích tại Thái Bình trong việc tham khảo các đề xuất quy hoạch, bài trí không gian thờ tự và khôi phục lễ hội truyền thống.
  • Các phần có giá trị trích dẫn cao: Quy trình chuẩn bị tục thi Cỗ cá Thái Đường; Tư liệu khảo cổ học năm 1979–1980 tại Tam Đường; Luận điểm "Đất lăng mộ = Đất phát tích" của GS. Lê Văn Lan.

Câu hỏi thường gặp

1. Dựa trên những cơ sở lịch sử và văn hóa nào để khẳng định Hưng Hà (Thái Bình) là đất phát tích của nhà Trần?
Cơ sở khẳng định bao gồm ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí về mộ tổ nhà Trần tại Thái Đường; tài liệu Đại Việt sử ký toàn thư về việc Trần Hấp dời mộ cha (Trần Kinh) về gò Hỏa Tinh thuộc phủ Long Hưng; và luận điểm khoa học của GS. Lê Văn Lan ("Đất lăng mộ = Đất phát tích"). Theo phong tục các triều Lý, Trần, Lê, các vị vua khi băng hà đều được đưa về an táng tại đất tổ phát tích (như vua Trần Thái Tông được đưa về táng tại Chiêu Lăng, Long Hưng).

2. Lễ khai ấn tại Đền Trần xã Tiến Đức được tổ chức vào thời điểm nào và mang ý nghĩa gì?
Lễ khai ấn được tổ chức vào đúng giờ Tý (23h00) đêm ngày 13 rạng sáng ngày 14 tháng Giêng âm lịch. Nghi lễ này bắt nguồn từ tích xưa sau chiến thắng giặc Nguyên lần thứ nhất, vua Trần mở tiệc chiêu đãi, phong thưởng cho tướng sĩ và tiến hành khai ấn báo hiệu việc triều đình chính thức bắt đầu làm việc quốc sự trở lại sau kỳ nghỉ Tết.

3. Tục thi Cỗ cá làng Tam Đường tại lễ hội Đền Trần có quy cách chế biến như thế nào?
Cỗ cá gồm hai loại: Cỗ kép (1 con cá trắm đen nặng từ 3kg trở lên đặt ở giữa, 4 con cá mè trên 1kg xếp ở 4 góc úp bụng xuống, phủ đinh lăng và cắm hoa mẫu đơn; tầng dưới đỡ bằng 4 bát thịt luộc thái phay, giò lụa, giò pha, chả chìa, nem, dưa hành, xôi) và Cỗ đơn (dùng cá chép từ 3kg trở lên thay cho cá trắm đen, kết hợp 4 cá mè). Cá khi luộc phải tính thời gian đúng một tuần hương đen to dài, giữ nguyên vảy, vây và uốn thân thẳng đẹp.

4. Khai quật khảo cổ học tại Tam Đường (1979–1980) đã thu được những hiện vật tiêu biểu nào?
Các nhà khảo cổ học đã khai quật trên diện tích hơn 600m² tại khu Cồn Nhãn và Phần Bia, thu được 296 hiện vật lớn cùng hàng ngàn mảnh gốm đất nung: vật liệu kiến trúc (ngói chiếu, ngói bò nóc, ngói mũi hài), hiện vật trang trí (ngói gắn lá đề, ngói chạm rồng phượng), tượng tròn (đầu rồng tả thực, đầu rồng đuôi tôm, đầu chim phượng) và gạch chỉ in nổi chữ "Vĩnh Ninh Trường".

5. Những cột mốc pháp lý quan trọng nào xác lập vị thế di sản của quần thể di tích Đền Trần Hưng Hà?

  • Ngày 30/10/1990: Được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích khảo cổ học và Di tích Lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 1214/QĐBT).
  • Ngày 31/12/2014: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt.
  • Năm 2014: Lễ hội Đền Trần được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phan Thị Thêu là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, làm sáng tỏ các giá trị lịch sử, khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật của Quần thể di tích Đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà. Bằng việc phân tích sâu sắc mối liên hệ giữa không gian di tích với nghi lễ dân gian và lễ hội truyền thống, đề tài đã khẳng định vị thế đất phát tích vương triều Trần của vùng đất Long Hưng xưa. Các đánh giá thực trạng cùng hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính ứng dụng thiết thực, góp phần hỗ trợ công tác quản lý di sản và định hướng phát triển bền vững sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh cho tỉnh Thái Bình.