Chương 1. Cơ sở lý luận và các điều kiện hình thành du lịch Chương 2. Thực trạng hoạt động du lịch tại Thiên đường hoa Quảng La Chương 3. Giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại Thiên đường hoa Quảng La 5 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH DU LỊCH 1.
Cơ sở lý luận về du lịch 1. Khái niệm du lịch Du lịch là một hoạt động có từ lâu đời, ban đầu nó manh nha từ việc con người di chuyển khai phá ra các vùng đất mới, sau đó là các hoạt động đi lại gắn liền với hoạt động buôn bán của các thương nhân và hoạt động truyền đạo của các nhà truyền đạo từ nơi này đến nơi khác. Khi đó, tuy khái niệm du lịch chưa ra đời nhưng các chuyến đi với mục đích du lịch đã xuất hiện. Du lịch lúc này đa phần thuộc về tầng lớp vua chúa, quan lại, quý tộc và tầng lớp giàu có.
Họ thực hiện các chuyến đi du ngoạn để ngắm cảnh, các chuyến đi ngoại giao giữa các nước và sẽ lưu trú tại đó trong một khoảng thời gian ngắn. Thuật ngữ “du lịch” đã xuất hiện rất sớm và bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành thành “tornus” và sau đó được mỗi quốc gia chuyển đổi thành các từ khác nhau. Chẳng hạn như: tourisme (Tiếng Pháp), tourism (Tiếng Anh), Mypuzy (Tiếng Nga)… Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều các định nghĩa về du lịch, có thể nói tới như: Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO) được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi và phát triển các khái niệm, định nghĩa về du lịch.
Đầu tiên, du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.[35] Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên 6 Luan van cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ”.I Pirogionic đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.[35] Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization: WTO) định nghĩa: “Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong thời gian là 24 giờ với mục đích giải trí tiêu khiển”. [35] Tại Việt Nam, theo Khoản 1 Điều 3 Luật du lịch 2017, định nghĩa du lịch được đưa ra: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.[16] Như vậy, qua các định nghĩa về du lịch đã nêu trên, ta có thể thấy rằng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch nhưng nhìn chung thì du lịch là việc xoay quanh các chuyến đi của con người, đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm mới khác về không gian địa lý cũng như các yếu tố tự nhiên – xã hội và cư trú tại đó trong một thời gian ngắn và mang mục đích thư giãn, giải trí chứ không mang mục đích kinh tế.
Phân loại du lịch Căn cứ vào nhu cầu của thị trường và trên cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng khai thác và các điều kiện phát triển du lịch, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch. Mục đích của 7 Luan van việc xác định các loại hình du lịch nhằm vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa phương và định hướng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch. Mỗi một loại hình du lịch có một thị trường khác nhau và có những đòi hỏi về quy trình, cách thức tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ khác nhau.Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động du lịch có sự đan xen giữa các loại hình du lịch trong quá trình phục vụ khách du lịch. Việc phân loại các loại hình du lịch căn cứ vào những tiêu thức cơ bản sau: 1.
Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ Cùng với sự phát triển kinh tế và quan hệ ngoại giao giữa các nước, nhu cầu đi du lịch của khách không chỉ trong phạm vi quốc gia mà phát triển vượt ra ngoài biên giới của quốc gia. Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ, có thể chia ra làm ba loại hình du lịch sau: Du lịch nội địa Du lịch nội địa là khách du lịch thực hiện chuyến đi du lịch trong phạm vi quốc gia của mình. Ví dụ: người Việt Nam đi du lịch trong các điểm du lịch ở trong nước như: Hạ Long, Đồ Sơn, Nha Trang, Mũi Né, Tam Đảo, Sa Pa, Đà Lạt. Kinh tế của đất nước phát triển, thu nhập của nhân dân tăng lên, tuần làm việc 5 ngày và các ngày nghỉ lễ tết tăng nên hoạt động du lịch nội địa phát triển mạnh mẽ.
Các trung tâm du lịch lớn của đất nước và các khu du lịch đều quá tải trong những ngày nghỉ. Phát triển du lịch nội địa có ý nghĩa rất lớn về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Về chính trị, đây là một phương tiện giáo dục truyền thống tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào với truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc đối với mọi công dân trong nước. Về kinh tế, du lịch nội địa thực hiện việc tài phân chia nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tái phân chia nguồn thu nhập giữa các vùng và địa phương trong nước.
Khách có thu nhập cao tại các thành phố lớn và khu công nghiệp sẽ chi tiêu tại các vùng, các tỉnh phát triển du lịch. Về mặt xã hội, du 8 Luan van lịch nội địa sẽ tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp phục vụ du lịch và tạo ra sự giao lưu giữa người dân trong nước. Về văn hoá, du lịch nội địa sẽ góp phần vào việc bảo tồn, duy tu và khôi phục các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các loại hình nghệ thuật và làng nghề truyền thống. Đây là tiền đề cho việc phát triển du lịch quốc tế chủ động.
Theo định nghĩa về khách du lịch, khách tham quan đến các điểm du lịch cũng rất lớn trong những ngày lễ, hội như: Hội Chùa Hương, Hội Đền Hùng, Hội Bà Chúa Kho, Hội Yên Tử. Hoặc số lượng khách đến tham quan và viếng Lăng Hồ Chủ Tịch, viện bảo tàng, đến các khu vui chơi giải trí như : Suối Tiên, Đầm Sen (Thành phố Hồ Chí Minh), công viên nước Hồ Tây. Người nước ngoài làm việc tại các tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của nước ngoài ở Việt Nam, ngày nghỉ cuối tuần họ thường đi du lịch, chơi golf đều được tính là khách du lịch nội địa nếu họ nghỉ qua đêm tại nơi đến du lịch, còn lại là khách tham quan.[29]ư Du lịch quốc tế chủ động hay còn gọi là xuất khẩu dịch vụ Đó là việc đón khách du lịch nước ngoài đến tham quan và du lịch ở nước ta. Trong những năm qua, số lượng khách du lịch nước ngoài đến nước ta tham quan và du lịch ngày càng tăng.
Năm 2019, khách quốc tế đến Việt Nam đạt xấp xỉ 18 triệu lượt. Phát triển du lịch quốc tế chủ động với rất nhiều mục tiêu như: tăng thu ngoại tệ, thực hiện “ xuất khẩu tại chỗ”, xuất khẩu vô hình với hiệu quả kinh tế cao, tạo ra việc làm cho xã hội, quảng bá hình ảnh Việt Nam với nhân dân trên thế giới. Chính vì lợi ích của phát triển du lịch quốc tế chủ động mà nhiều nước đã tập trung phát triển loại hình du lịch này và đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.[29] Du lịch quốc tế thụ động hay còn gọi là nhập khẩu dịch vụ Đó là việc đưa công dân của Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Trong những năm gần đây, do đời sống của một số tầng lớp dân cư có thu nhập cao 9 Luan van và với chính sách cởi mở của Nhà nước, nên người Việt Nam đi nước ngoài tăng lên.
Điểm đến du lịch của khách Việt Nam là Thái Lan, Malayxia, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông, Macao và một số ít đi du lịch ở châu Âu, Úc và Mỹ. Theo thống kê, năm 2019 có khoảng 10 triệu lượt người Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Phát triển loại hình du lịch này với mục đích tạo cho con người được mở rộng tầm nhìn, giao lưu với các dân tộc khác nhau, mở rộng các mối quan hệ kinh tế, học hỏi kinh nghiệm để áp dụng vào đất nước. Bên cạnh đó, khi ra nước ngoài khách tiêu thụ một số lượng lớn hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài, vì vậy người ta gọi loại hình du lịch này là nhập khẩu dịch vụ.
Căn cứ vào mục đích của chuyến đi du lịch Con người đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó có mục đích chính của chuyến đi. Căn cứ vào tiêu thức này có thể phân ra một số loại hình du lịch sau: Du lịch tham quan văn hoá - lịch sử Đây là một loại hình du lịch mang tính phổ biến nhất và là cốt lõi của các chương trình du lịch. Con người khi đi du lịch với những mục đích khác nhau, nhưng cái cốt lõi vẫn là tìm hiểu truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, nếp sống của cộng đồng dân cư nơi họ đến du lịch.