chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch (tourist product) là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [16]. Tóm lại, sản phẩm du lịch là một dạng sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người. Trong đó, nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu về tinh thần. Khái niệm du lịch cộng đồng Thuật ngữ DLCĐ xuất phát từ hình thức du lịch làng bản ngay từ những năm 1970 ở các nước khu vực châu Âu, châu Mỹ, châu Úc.
Khách du lịch tham quan các làng bản, tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán, khám phá hệ sinh thái của vùng núi non. Các cuộc du ngoại này thường được tổ chức tại những vùng rừng núi, mang tính chất hoang dã, địa hình hiểm trở, thưa dân cứ, các điều kiện đi lại, sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn. Những lúc như vậy du khách rất cần có sự giúp đỡ của người dân bản địa như: dẫn đường khỏi bị lạc, nơi ở qua đêm, ăn uống,… khách du lịch thường gọi những chuyến đi đó là những chuyến đi hỗ trợ của người dân địa phương. Đây chính là tiền đề cho phát triển loại hình DLCĐ.
Năm 1980, một tổ chức phi lợi nhuận về trao đổi giáo dục nên có tên gọi “Cultural Homestay International” được thành lập để giúp những người có nhu cầu, đặc biệt là những cựu học sinh đến được với các gia đình ưng ý và qua đó xúc tiến, thúc đẩy tinh thần đoàn kết, tăng cường sự hiểu biết quốc tế thông qua các chương trình homestay của họ. Năm 1995 DLCĐ homestay tại Việt Nam đã bắt đầu được khá nhiều người chú ý kể từ khi có chưng trình tàu Thanh niên Đông Nam Á cập cảng lần đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, du lịch cộng đồng dần phát triển ở nước ta. Trải qua hơn một thập kỷ phát triển du lịch cộng đồng đã dần khẳng định được vị thế m 12 của mình trong ngành du lịch nước nhà.
Năm 2006 DLCĐ tại Việt Nam bắt đầu trở thành loại hình được đông đảo du khách du lịch tham gia, mang lại lợi ích kinh tế khá cao cho ngành du lịch nước nhà và khẳng định được nhiều địa điểm du lịch được thiên nhiên ưu đãi vô cùng. *) Du lịch cộng đồng được các tổ chức định nghĩa như sau: Qũy quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) định nghĩa: “Du lịch dựa vào cộng đồng là một hình thức du lịch mà cộng đồng địa phương làm chủ, tham gia vào quá trình phát triển và quản lí, và phần lớn các lợi ích sẽ thuộc về cộng đồng”. Theo định nghĩa này, cộng đồng được nêu bật lên với vai trò tuyệt đối trong du lịch dựa và cộng đồng. Họ cũng chính là nhân tố thu lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch [7].
Theo Viện Nghiên cứu phát triển nông thôn Miền Núi (thuộc hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam) đưa ra định nghĩa du lịch dựa vào cộng đồng “Là hoạt động du lịch nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đông khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng”. Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu phát triển Miền Núi, định nghĩa này cho ta thấy cái nhìn rộng hơn về du lịch dựa vào cộng đồng, hiểu được mục tiêu của hình thức du lịch này [7]. Tóm lại, Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hoá…) sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định [7].
Xét về bản chất, DLCĐ là một loại hình du lịch do chính CĐ người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung, thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của m 13 địa phương (phong cảnh, văn hoá…). Mô hình DLCĐ tạo điều kiện cho du khách trải nghiệm cuộc sống của người dân bản địa với những sinh hoạt rất đời thường và những món ăn dân dã đậm chất địa phương. Ngoài ra, mô hình du lịch bền vững này góp phần thúc đẩy các chiến lược xóa đói giảm nghèo, tạo ra sinh kế đồng thời khuyến khích vai trò của người dân bản địa trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng và bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa cũng như các di sản thiên nhiên tại địa phương. Đặc điểm của du lịch cộng đồng: Du lịch cộng đồng đảm bảo văn hoá, thiên nhiên bền vững.
Du lịch cộng đồng cần có sở hữu cộng đồng. Thu nhập từ du lịch cộng đồng cần giữ lại cho cộng đồng. Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Du lịch cộng đồng cần tăng cường quyền lực cho cộng đồng.
Du lịch cộng đồng cần tăng cường hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước [9]. Nguyên tắc của du lịch cộng đồng: 1. Cộng đồng phải tham gia trực tiếp và được trao quyền để đảm bảo quyền sở hữu và minh bạch trong quản lý. Thiết lập mối quan hệ đối tác với các bên liên quan.
Đạt được những chứng nhận tiêu chuẩn từ các cơ quan ban ngành và tổ chức có liên quan. Cải thiện phúc lợi xã hội và đảm bảo về nhân phẩm. Đảm bảo sự công bằng và cơ chế phân chia lợi ích minh bạch. Tăng cường kết nối với nền kinh tế địa phương và khu vực.
Tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương. Đóng góp vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên tự nhiên. Cải thiện chất lượng trải nghiệm của khách du lịch thông qua việc tăng cường những hoạt động tương tác có ý nghĩa giữa cộng đồng địa phương và khách du lịch. Tác nghiệp hướng tới việc tự chủ về tài chính [9].
Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập Hồ sơ năng lực của công ty. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên Thế Giới 2.
Lào Hiện nay Lào có trên 50 sản phẩm DLCĐ tại 11 tỉnh trong cả nước, gồm những sản phẩm chính như: khám phá đường mòn (trekking); homestay; tham quan bằng tàu; cưỡi voi, quan sát các loài chim; bán sản phẩm thủ công; cắm trại; biểu diễn văn hóa; Bài học điển hình của DLCĐ tỉnh Nam Nern với sản phẩm công viên bảo tồn động vật hoang dã Nam Nern (Nam Nern Night Safari): công viên nằm trong vùng lõi của khu bảo tồn Nam Et-Phou, thuộc tỉnh Huaphan. Chương trình DLCĐ này do Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã phối hợp xây dựng với 14 bản của tỉnh Huaphan. Có 5 nhóm công tác tham gia cung cấp dịch vụ, mỗi nhóm khoảng 5 - 10 người, gồm nhóm hướng dẫn viên, tàu tham quan, nấu ăn, cắm trại và sản xuất thủ công. Cơ chế tài chính: Thu nhập được chia đều cho 14 bản và quỹ đóng góp trực tiếp cho bảo vệ rừng, bảo tồn và các chương trình phát triển kinh tế dựa trên hoạt động du lịch của các bản.
Kết quả trong việc áp dụng tiêu chuẩn DLCĐ ASEAN: Lào đã thực hiện 2 khóa tập huấn cho đào tạo viên, các hội thảo phổ biến Tiêu chuẩn, đánh giá các cộng đồng mục tiêu; 2 CĐ đã nhận được giải thưởng DLCĐ ASEAN năm m 15 2017. Trong tương lai, Lào sẽ tiếp tục các hoạt động nâng cao nhận thức về DLCĐ và du lịch sinh thái, đồng thời, lựa chọn và phát triển các CĐ mục tiêu đáp ứng đủ tiêu chuẩn DLCĐ ASEAN [8]. Nhật Bản Từ những năm đầu của thế kỉ XXI, bên cạnh việc ban hành các chính sách về du lịch (Luật cảnh quan, Luật qui hoạch thành phố lịch sử, …), Nhật Bản tích cực phát huy sức mạnh cộng đồng trong phát triển du lịch qua phương châm “Thương hiệu của lối sống”, qua đó đưa ra một khái niệm mới “nơi khách du lịch muốn ghé thăm” là “nơi mà người dân địa phương đang tích cực sống”, xây dựng các điểm đến độc đáo (lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn), và khai thác một cách sáng tạo những nét văn hóa của mình (lĩnh vực ẩm thực). Trong nông nghiệp - nông thôn: nông nghiệp Nhật Bản tuy chỉ chiếm 1% GDP nhưng lại là một trong những ngành đặc trưng và mang lại hiệu quả kinh tế cao - không chỉ cung cấp đầy đủ cái ăn chất lượng cho hơn 127 triệu dân (dù nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này chỉ chiếm 3% dân số) mà còn tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo.
Ví dụ: những cánh đồng lúa “đẹp như tranh” ở Hirosaki (Aomori), những cánh đồng hoa rực rỡ ở Furano (Hokkaido), vương quốc trái cây Yamanashi,… Từ cái gốc của ngành nông nghiệp vốn có, cộng đồng người Nhật đã tạo ra những sản phẩm du lịch ấn tượng và đầy tính nghệ thuật bằng cách áp dụng các kĩ thuật của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 vào nông nghiệp như: sử dụng các phần mềm thiết kế trên máy tính để vẽ và tính toán hình ảnh để làm sao có thể nhìn thấy từ xa (kể cả trên máy bay) nhằm mục đích tăng tính quảng cáo thương mại, sau đó khi thời vụ đến người ta chọn ra các giống lúa/giống hoa/giống trái cây (loại chuyển đổi gen) để tạo ra nhiều gam màu khác lạ như đỏ đậm, vàng và trắng, và pha trộn với các giống cây truyền thống để làm ra các thiết kế như đã vẽ trên máy vi tính, biến những ruộng m 16 lúa/vườn cây thành những bức tranh đẹp, trở thành điểm du lịch hấp dẫn không thể bỏ qua. Trong văn hóa ẩm thực: ẩm thực truyền thống Nhật Bản vốn nổi tiếng bậc nhất thế giới bởi sự cầu kỳ trong cách chế biến lẫn bài trí mỗi món ăn. Hương vị món ăn Nhật thường thanh tao, nhẹ nhàng, hợp với không khí thiên nhiên của mỗi mùa và mang đậm bản sắc riêng. Đặc biệt những món ăn này là đã tạo điểm riêng biệt cho mỗi vùng, điểm DLCĐ, thu hút khách du lịch đến với vùng nông thôn tại Nhật Bản.