Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch: Nghiên cứu trường hợp Cát Bà" do nghiên cứu sinh Cao Tuấn Phong thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Trung Lương, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9 34 04 10).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị thế địa lý và giá trị tài nguyên của quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Quần đảo Cát Bà bao gồm 388 hòn đảo lớn nhỏ nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long, đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 02/12/2004 và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt vào tháng 12 năm 2013. Mặc dù sở hữu những giá trị nổi bật về cảnh quan, địa chất địa mạo và sinh thái tầm cỡ quốc tế, sự phát triển du lịch của Cát Bà được tác giả đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng.

Dữ liệu do tác giả dẫn chứng cho thấy, tính đến năm 2017, lượng khách du lịch đến Cát Bà đạt 2,16 triệu lượt, trong đó tỷ lệ khách quốc tế chỉ chiếm 22,1%; doanh thu từ du lịch đạt 1.250 tỷ đồng (trong văn bản ghi nhận là 1.25 tỷ); chi phí bình quân của một lượt khách dao động từ 442.433 đồng và số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch chỉ đạt 1,5 ngày. Tác giả chỉ ra các nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng này bao gồm: tình trạng thiếu hụt sản phẩm du lịch đặc thù, khó khăn về hạ tầng giao thông tiếp cận gây ùn tắc, môi trường du lịch chưa được đảm bảo đồng bộ và chất lượng dịch vụ còn thiếu tính chuyên nghiệp.

Ở cấp độ quy hoạch, Quyết định số 2732/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt đề án "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050" đã đặt mục tiêu phát triển Cát Bà thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo, trở thành đảo "Ngọc Bích" và động lực kinh tế của vùng Duyên hải Đông Bắc. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc đo lường và đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến một cách có căn cứ khoa học là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà tương xứng với vị thế và tiềm năng du lịch sẵn có. Để hoàn thành mục tiêu này, luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến cạnh tranh du lịch ở điểm đến; xác định các yếu tố với hệ thống tiêu chí đo lường đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch.
  2. Thứ hai, phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của du lịch Cát Bà qua các nhóm yếu tố: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo thêm, nguồn lực phụ trợ, chính sách phát triển du lịch và quản lý điểm đến; trên cơ sở đó chỉ ra những điểm hạn chế về năng lực cạnh tranh và nguyên nhân của những hạn chế.
  3. Thứ ba, nghiên cứu đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà đặt trong bối cảnh phát triển mới gắn với quan điểm và định hướng phát triển du lịch Cát Bà trong giai đoạn tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 3 câu hỏi chính:

  1. Những yếu tố chính nào để nhận biết khả năng cạnh tranh và để đánh giá về năng lực cạnh tranh du lịch điểm đến?
  2. Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà là gì? Những yếu tố chính nào ảnh hưởng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà?
  3. Giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà trong giai đoạn phát triển tới đây?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà.
  • Phạm vi không gian: Quần đảo Cát Bà với trọng tâm là đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập và phân tích trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, tầm nhìn định hướng đến năm 2025; số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát thực địa trong hai năm 2017 và 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu nghiên cứu của luận án được tác giả phân chia theo các hướng tiếp cận lý thuyết trên thế giới và các công trình thực nghiệm tại Việt Nam.

Đối với các nghiên cứu nước ngoài, tác giả hệ thống hóa thành bốn hướng tiếp cận chính:

  1. Tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Hướng nghiên cứu này được khởi xướng và phát triển qua các công trình của Ahmed và Krohn (1990), Ritchie và Crouch (1993, 1999, 2003), Bordas (1994), Woodside và Carr (1988), Pearce (1997), Kozak và Rimmington (1999), Buhalis (2000), Hartserre (2000), Go và Govers (2000), Hassan (2000), Mihalic (2000), Thomas và Long (2000), Kozak (2001), và tiêu biểu là mô hình của Dwyer và Kim (2003). Trong đó, Dwyer và Kim (2003) xác định năng lực cạnh tranh điểm đến dựa trên 3 trụ cột: lợi thế so sánh giúp cạnh tranh về giá; khả năng về chiến lược và quản trị; nguồn lực về lịch sử, văn hóa, xã hội. Ritchie và Crouch (2003) phân biệt rành mạch giữa lợi thế so sánh (các nguồn lực tự nhiên sẵn có như cảnh quan, khí hậu, hệ động - thực vật) và lợi thế cạnh tranh (các nguồn lực nhân tạo như hạ tầng giao thông, lưu trú, sự kiện, năng lực quản lý và chất lượng nhân lực).
  2. Tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia: Tác giả dẫn giải mô hình Kim cương của Michael Porter (1990) gồm 4 yếu tố tương tác: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành, cùng hai biến số ngoại sinh là chính sách của chính phủ và cơ hội ngẫu nhiên.
  3. Tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: Phân tích chỉ số PCI tại Việt Nam với 4 đặc trưng điều hành kinh tế và mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh địa phương trong du lịch ở cấp vi mô của Michael Porter (2007) gồm 4 liên kết: cạnh tranh chất lượng, cạnh tranh đầu vào, hỗ trợ cầu và hỗ trợ cung.
  4. Tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh ngành: Vận dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1980) và Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành (TTCI) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) phối hợp cùng Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) công bố từ năm 2004 và định kỳ hàng năm từ năm 2007.

Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả điểm lại các mốc nghiên cứu tiêu biểu:

  • Dự án VIE 89-003 (1989) của UNWTO và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) về Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học của Vụ Thương mại và Dịch vụ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Đại học Kinh tế Quốc dân (2006) do UNDP tài trợ về khả năng cạnh tranh và tự do hóa ngành du lịch.
  • Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2007) về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam.
  • Công trình của Hà Thanh Hải (2010) về năng lực cạnh tranh khách sạn, sử dụng ma trận Thomson - Strickland.
  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2010) về nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam, vận dụng mô hình tích hợp của Dwyer và Kim (2003) kết hợp khảo sát trực tuyến SurveyMonkey.
  • Công trình của Nguyễn Quang Vinh (2011) nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành quốc tế hậu gia nhập WTO dựa trên mô hình chuỗi giá trị và ma trận điểm.
  • Luận án của Nguyễn Thị Thu Vân (2012) nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Nẵng dựa trên 84 chỉ số của Dwyer và Kim, xác định 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng.
  • Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2013) về các yếu tố tác động đến việc lựa chọn điểm đến Quảng Ninh của du khách.
  • Đề tài của Đào Duy Huân (2015) đánh giá ngành du lịch Cần Thơ bằng mô hình 5 áp lực cạnh tranh và ma trận hình ảnh cạnh tranh so với An Giang, Tiền Giang, Bến Tre.
  • Nghiên cứu của Lê Chí Công và Hồ Huy Tựu (2015) vận dụng mô hình đổi mới giá trị khách hàng (Kim và Mauborgne, 2004) tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Nghiên cứu so sánh quốc tế của Hà Thị Thanh Thủy (2014) về năng lực cạnh tranh du lịch biển Việt Nam so với Thái Lan và Indonesia dựa trên số liệu năm 2013 của WEF.
  • Luận án của Trần Thị Thùy Trang (2015) về năng lực cạnh tranh du lịch TP. Hồ Chí Minh theo mô hình kim cương của Porter.
  • Nghiên cứu của Nguyễn Thạnh Vượng (2015) khảo sát 43 doanh nghiệp du lịch tại Tiền Giang.
  • Luận án tiến sĩ của Thái Thị Kim Oanh (2015) về năng lực cạnh tranh du lịch biển đảo tỉnh Nghệ An và các giải pháp chính sách.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, cấp độ doanh nghiệp hoặc tại các trung tâm du lịch đô thị lớn và vùng biển Trung Bộ, Tây Nam Bộ. Đối với Cát Bà, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch biển đảo này thông qua nghiên cứu định lượng; chưa thiết lập hệ thống tiêu chí đo lường cụ thể để phân tích mức độ quan trọng cũng như mức độ thực hiện thực tế các dịch vụ dưới góc nhìn đánh giá trực tiếp của du khách. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ thực nghiệm định lượng kết hợp định tính cho du lịch Cát Bà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận án làm rõ các khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm du lịch: Tiếp cận theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Liên đoàn Quốc tế các Tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO), Martin Mowforth và Ian Munt (2001), Giáo trình Kinh tế Du lịch của Đại học Kinh tế Quốc dân (2006) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017.
  • Khái niệm sản phẩm du lịch: Căn cứ Luật Du lịch năm 2017, sản phẩm du lịch được hiểu là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của du khách. Sản phẩm du lịch mang 4 đặc trưng: không mất đi sau khi tiêu dùng mà có thể gia tăng giá trị cảm nhận; có tính thời vụ và thời điểm cung ứng - tiêu dùng diễn ra đồng thời; không thể dịch chuyển trong không gian; không đồng nhất về chất lượng và sản lượng.
  • Điểm đến du lịch: Được định nghĩa theo UNWTO và Vengesavy (2003) là một không gian vật chất có ranh giới địa lý và hành chính cụ thể, nơi du khách lưu trú ít nhất một đêm, tích hợp các sản phẩm du lịch, dịch vụ bổ trợ và tài nguyên du lịch. Tại Việt Nam, Luật Du lịch 2017 phân định rõ hai cấp độ là khu du lịch và điểm du lịch.
  • Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Luận án đồng thuận với quan điểm của Hong (2008), kết hợp định nghĩa của Craigwell (2007), Barbosa và cộng sự (2010), Dwyer và Kim (2003), xác định năng lực cạnh tranh điểm đến là khả năng tạo ra lợi thế nhằm thu hút du khách, thỏa mãn nhu cầu của khách để phát triển bền vững nhằm bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái.

Luận án phân tích 6 mô hình lý thuyết quốc tế tiêu biểu:

  1. Mô hình Kim và Dwyer (2003): Bao gồm 6 thành phần: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo ra, nguồn lực hỗ trợ, chính sách du lịch - hoạch định và phát triển, quản lý điểm đến, điều kiện cầu; chỉ rõ mối quan hệ tương tác hai chiều tác động tới sự thịnh vượng kinh tế - xã hội.
  2. Mô hình Crouch (2007): Gồm 5 nhóm yếu tố chính với 36 tiêu chí đánh giá, xác định 10 thuộc tính cốt lõi ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh điểm đến.
  3. Các khung phân loại tài nguyên du lịch: 3F (Flowre, Fauna, Folklore), 5H (Hospitality, Honesty, Heritage, History, Heroic), 3S (Sight seeing, Sport, Shopping), 6S (Sanatary, Health, Security, Serenity, Service, Satisfaction) và cách tiếp cận marketing của Krippendorf (1987), Jeffries (2001), Buhalis (2000).
  4. Mô hình Goffi (2012): Điều chỉnh từ Crouch và Ritchie để đánh giá 61 điểm đến tại Italia, gồm 7 biến độc lập với 64 biến quan sát, sử dụng phần mềm khảo sát trực tuyến Limesurvey.
  5. Mô hình Yoon (2002): Đánh giá sự tương tác giữa các bên liên quan tại cộng đồng du lịch bang Virginia (Hoa Kỳ).
  6. Mô hình Craigwell và More (2008): Nghiên cứu năng lực cạnh tranh tại 45 hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Hoa Kỳ với 7 nhân tố cấu thành (giá cả, nhân lực, cơ sở hạ tầng, môi trường, công nghệ, sự cởi mở, khía cạnh xã hội).
  7. Mô hình TTCI của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2013): Cấu thành từ 3 chỉ mục lớn (Khung pháp lý; Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng; Nguồn lực tự nhiên, văn hóa và con người), sử dụng thang đo 7 điểm.

Khung phân tích đề xuất của luận án được kế thừa và hiệu chỉnh từ mô hình tích hợp của Dwyer và Kim (2003), bao gồm 5 nhóm yếu tố cấu thành tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến Cát Bà:

  • Nguồn lực thừa hưởng (Inherited resources).
  • Nguồn lực tạo ra / tạo thêm (Created resources).
  • Nguồn lực hỗ trợ / phụ trợ (Supporting resources).
  • Chính sách du lịch, hoạch định và phát triển (Tourism policy, planning and development).
  • Quản lý điểm đến (Destination management).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng (mixed methods) theo quy trình thiết kế như sau:

Bước Phương pháp Kỹ thuật nghiên cứu Số lượng người dự kiến Mục đích nghiên cứu
Bước 1 Định tính Phỏng vấn sâu 03 khách du lịch, 05 chuyên gia Khám phá, bổ sung và hoàn thiện sự phù hợp của mô hình
Bước 2 Định lượng Bảng hỏi khảo sát 300 - 500 khách du lịch Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà
Bước 3 Định tính bổ sung Phỏng vấn sâu 05 chuyên gia Giải thích rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng

Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp bổ trợ:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Hệ thống hóa tài liệu lý luận, báo cáo thống kê, văn bản chính sách chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Kết hợp bảng hỏi và phỏng vấn sâu 31 người để thu thập đánh giá thực tế.
  • Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA): Thăm dò, lấy ý kiến đánh giá của du khách và chuyên gia về năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà.
  • Phương pháp thống kê - so sánh: Phân tích các chuỗi số liệu thứ cấp, so sánh sự thay đổi của các chỉ tiêu du lịch Cát Bà qua các năm từ 2013 đến 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến năng lực cạnh tranh du lịch.

  • Phần nghiên cứu nước ngoài phân định 4 hướng tiếp cận: tiếp cận điểm đến du lịch (Dwyer & Kim, Crouch & Ritchie, Buhalis, Hassan), tiếp cận quốc gia (Porter), tiếp cận cấp tỉnh (PCI, Porter vi mô) và tiếp cận cấp ngành (5 áp lực Porter, TTCI của WEF). Tác giả phân tích cấu trúc của các mô hình lý thuyết quốc tế, chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh điểm đến phụ thuộc đồng thời vào lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh.
  • Phần nghiên cứu tại Việt Nam điểm luận các đề tài nghiên cứu từ cấp độ quốc gia (dự án VIE 89-003, đề tài Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2006, luận án Nguyễn Anh Tuấn 2010), cấp độ ngành/doanh nghiệp (Nguyễn Anh Tuấn 2007, Hà Thanh Hải 2010, Nguyễn Quang Vinh 2011) đến các nghiên cứu địa phương cụ thể (Đà Nẵng của Nguyễn Thị Thu Vân 2012; Quảng Ninh của Nguyễn Việt Cường 2013; Cần Thơ của Đào Duy Huân 2015; Duyên hải Nam Trung Bộ của Lê Chí Công và Hồ Huy Tựu 2015; so sánh biển đảo quốc tế của Hà Thị Thanh Thủy 2014; TP. Hồ Chí Minh của Trần Thị Thùy Trang 2015; Tiền Giang của Nguyễn Thạnh Vượng 2015; Nghệ An của Thái Thị Kim Oanh 2015).
  • Tác giả tổng kết 3 tuyến vấn đề chính và xác định khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm định lượng tại điểm đến Cát Bà.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh du lịch

Chương 2 thiết lập cơ sở lý thuyết chuẩn mực và xây dựng khung phân tích cho luận án.

  • Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm: du lịch, sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch và năng lực cạnh tranh du lịch ở các cấp độ (quốc gia, địa phương, doanh nghiệp, sản phẩm).
  • Phân tích chi tiết 6 mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch: mô hình Dwyer và Kim (2003) với các liên kết đa chiều giữa nguồn lực cốt lõi, nguồn lực hỗ trợ, quản lý điểm đến, điều kiện hoàn cảnh và điều kiện cầu; mô hình Crouch (2007) xác định 10 thuộc tính cốt lõi (địa lý - khí hậu, lịch sử - văn hóa, phối hợp hoạt động, cấu trúc thượng tầng, hình ảnh điểm đến, sự kiện, vui chơi giải trí, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận, xây dựng thương hiệu); các cách phân loại tài nguyên du lịch 3F, 5H, 3S, 6S; mô hình tính bền vững của Goffi (2012) với 7 biến độc lập và 64 biến quan sát; mô hình các bên liên quan của Yoon (2002); mô hình hải đảo của Craigwell và More (2008) tại 45 hòn đảo nhỏ; mô hình TTCI (2013) của WEF với 3 nhóm chỉ mục.
  • Trình bày kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến trong và ngoài nước.
  • Đề xuất khung phân tích điều chỉnh áp dụng cho Cát Bà gồm 5 nhóm yếu tố: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo ra, nguồn lực hỗ trợ, chính sách du lịch - hoạch định và phát triển, quản lý điểm đến.

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Chương 3 là chương thực nghiệm trọng tâm, kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra sơ cấp để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Cát Bà.

  • Đánh giá theo 5 nhóm tiêu chí từ tài liệu và dữ liệu thống kê:
    • Nguồn lực thừa hưởng: Phân tích lợi thế vị trí địa lý của Cát Bà so sánh với Đồ Sơn và Hạ Long (Bảng 3.1); giá trị tài nguyên tự nhiên của 388 hòn đảo, vịnh Lan Hạ, Vườn quốc gia Cát Bà, Khu dự trữ sinh quyển thế giới, di tích danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt; các giá trị văn hóa như lễ hội cầu ngư (Hình 3.2).
    • Nguồn lực tạo thêm: Thực trạng cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú và các dịch vụ vui chơi, mua sắm, giải trí.
    • Nguồn lực phụ trợ: Đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực du lịch Cát Bà năm 2017 (Bảng 3.2); lực lượng lao động huyện Cát Hải năm 2017 (Bảng 3.3) và dự kiến quy hoạch nguồn nhân lực đến năm 2030 (Bảng 3.4). Phân tích điểm nghẽn giao thông ùn tắc tại các bến phà ra đảo (Hình 3.3).
    • Chính sách du lịch, hoạch định, phát triển: Rà soát việc thực thi Quyết định số 2732/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng và các cơ chế hỗ trợ đầu tư.
    • Quản lý điểm đến: Tổ chức quản lý hành chính, bảo vệ môi trường, kiểm soát an ninh trật tự và giá cả dịch vụ.
  • Đánh giá năng lực cạnh tranh qua số liệu tăng trưởng giai đoạn 2013 - 2017: Khách du lịch nội địa (Hình 3.4); khách du lịch quốc tế (Hình 3.5); tổng doanh thu du lịch tăng từ năm 2013 đến 2017 (Hình 3.6); tổng số lao động phục vụ du lịch giai đoạn 2014 - 2017 (Hình 3.7).
  • Kết quả nghiên cứu định lượng khảo sát du khách:
    • Đặc điểm mẫu điều tra: Cơ cấu giới tính nam/nữ (Hình 3.8a), tần suất số lần đến Cát Bà (Hình 3.8b), mục đích chuyến đi (Hình 3.9), hình thức tổ chức chuyến đi theo tour hay tự túc (Hình 3.10), các kênh tiếp cận thông tin du lịch (Hình 3.11). Tổng hợp các hình thức khảo sát thực hiện tại Bảng 3.5.
    • Đánh giá điểm trung bình của các tiêu chí đo lường qua bảng hỏi: Tiêu chí sản phẩm điểm đến du lịch (Bảng 3.6); Tiêu chí an ninh - trật tự - môi trường xã hội (Bảng 3.7); Tiêu chí vệ sinh môi trường (Bảng 3.8); Tiêu chí cơ sở hạ tầng tiện ích (Bảng 3.9); Tiêu chí giá cả (Bảng 3.10); Tiêu chí độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên và cán bộ bản địa (Bảng 3.11); Tiêu chí thương hiệu du lịch (Bảng 3.12).
    • Tổng hợp đánh giá và phân tích tương quan điểm số của các tiêu chuẩn cạnh tranh (Bảng 3.13 và Hình 3.12). Kết quả chỉ ra các tiêu chuẩn đạt điểm đánh giá thấp tập trung vào: hạ tầng giao thông tiếp cận, vệ sinh môi trường trong mùa cao điểm, tính chuyên nghiệp của lao động dịch vụ, sự khan hiếm của sản phẩm bổ trợ và tính mùa vụ đậm nét.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Chương 4 đưa ra các định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng.

  • Phân tích bối cảnh phát triển: Xu hướng tăng trưởng du lịch quốc tế toàn cầu đến năm 2030 (Hình 4.1); bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các chỉ số xếp hạng của Việt Nam theo báo cáo TTCI của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (Bảng 4.1).
  • Xác định quan điểm, mục tiêu và định hướng: Định vị Cát Bà thành trung tâm du lịch sinh thái đẳng cấp quốc tế, phát triển theo mô hình đảo "Ngọc Bích", gắn kết không gian du lịch với Đồ Sơn, Hạ Long, Vân Đồn. Xây dựng dự báo tăng trưởng lượng khách và doanh thu du lịch.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Nhóm giải pháp khắc phục hạn chế về nguồn lực thừa hưởng: Bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng và biển thuộc Vườn quốc gia Cát Bà và Khu dự trữ sinh quyển thế giới; bảo tồn và khai thác bền vững các giá trị địa chất địa mạo, di tích danh thắng quốc gia đặc biệt; phục dựng và phát huy các giá trị văn hóa bản địa như lễ hội cầu ngư.
    2. Nhóm giải pháp khắc phục hạn chế về nguồn lực tạo thêm: Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù (du lịch sinh thái rừng ngập mặn, leo núi, lặn biển ngắm san hô, du thuyền vịnh Lan Hạ); đầu tư các khu vui chơi giải trí về đêm và dịch vụ mua sắm; nâng cấp chất lượng hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn quốc tế.
    3. Nhóm giải pháp khắc phục hạn chế về các nguồn lực phụ trợ: Nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông kết nối, giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc giao thông tại phà Gót và các trục đường xuyên đảo; nâng cấp hệ thống cấp điện, cấp nước sạch và hạ tầng viễn thông; triển khai quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực du lịch Cát Hải đến năm 2030 nhằm chuẩn hóa kỹ năng nghề và trình độ ngoại ngữ.
    4. Nhóm giải pháp về chính sách du lịch, hoạch định, phát triển: Rà soát, hoàn thiện quy hoạch chi tiết trên cơ sở Quyết định 2732/QĐ-UBND; ban hành chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực tài chính; đẩy mạnh liên kết phát triển vùng giữa Cát Bà với Hải Phòng, Quảng Ninh và vùng Duyên hải Bắc Bộ.
    5. Nhóm giải pháp về quản lý điểm đến: Kiện toàn mô hình tổ chức quản lý điểm đến; siết chặt kiểm tra, kiểm soát giá cả, niêm yết công khai nhằm ngăn chặn hiện tượng gian lận thương mại; tăng cường kiểm soát chất thải, nước thải du lịch để bảo vệ môi trường; đẩy mạnh chiến dịch tiếp thị số và xây dựng thương hiệu nhận diện cho du lịch Cát Bà.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học, luận án có những đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết về du lịch, sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch.
  • Vận dụng thành công mô hình lý thuyết tích hợp của Dwyer và Kim (2003) vào việc xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến tại một địa bàn biển đảo cụ thể của Việt Nam.
  • Thiết lập quy trình nghiên cứu thực nghiệm kết hợp giữa điều tra xã hội học định lượng đối với du khách và phỏng vấn sâu chuyên gia định tính, tạo căn cứ phương pháp luận cho việc đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả sau:

  • Cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm toàn diện về thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà giai đoạn 2013 - 2017 qua đánh giá của du khách trên các tiêu chí: sản phẩm, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, hạ tầng tiện ích, giá cả, thái độ phục vụ và thương hiệu.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn hạn chế năng lực cạnh tranh của Cát Bà: hạ tầng giao thông tiếp cận quá tải, tính thời vụ cao, thời gian lưu trú ngắn (1,5 ngày), chi tiêu bình quân thấp (442.433 đồng/lượt), tỷ lệ khách quốc tế thấp (22,1%), thiếu hụt sản phẩm bổ trợ và sự phối hợp quản lý liên vùng chưa chặt chẽ.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với các nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo thêm, nguồn lực phụ trợ, chính sách hoạch định và quản lý điểm đến, làm cơ sở khoa học để thực hiện đề án quy hoạch Cát Bà thành đảo "Ngọc Bích" theo định hướng của thành phố Hải Phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi thời gian của dữ liệu:

  • Nguồn số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2013 - 2017 và dữ liệu sơ cấp được khảo sát trong hai năm 2017 - 2018. Giai đoạn sau 2018 có nhiều thay đổi lớn về hạ tầng kết nối (như việc hoàn thiện cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện và hệ thống cáp treo), đòi hỏi dữ liệu cần được cập nhật liên tục để phản ánh sát thực tế.
  • Phạm vi khảo sát không gian tập trung chủ yếu vào đảo Cát Bà, chưa bao quát đồng đều toàn bộ 388 hòn đảo thuộc quần đảo Cát Hải.
  • Mẫu khảo sát định lượng tập trung vào đối tượng khách du lịch, số lượng chuyên gia phỏng vấn định tính giới hạn ở 5 chuyên gia qua hai giai đoạn, chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với khối doanh nghiệp tư nhân và cộng đồng dân cư bản địa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các nhóm đối tượng liên quan khác như doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, cộng đồng dân cư địa phương và các nhà đầu tư bất động sản du lịch.
  • Cập nhật chuỗi dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động của các công trình hạ tầng giao thông mới đến năng lực cạnh tranh điểm đến Cát Bà.
  • Vận dụng các mô hình kinh tế lượng nâng cao (như mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố thành phần đến sự hài lòng và lòng trung thành của du khách.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở Du lịch Hải Phòng, Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải và Ban Quản lý Vịnh Cát Bà có thể sử dụng các phát hiện thực nghiệm để rà soát cơ chế quản lý điểm đến, điều chỉnh quy hoạch phân khu, đầu tư giải quyết ách tắc giao thông và cải thiện tiêu chí vệ sinh môi trường.
  • Doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, vận tải tại Hải Phòng và Cát Bà có thể tham khảo kết quả đánh giá của du khách về mức độ hài lòng đối với giá cả, chất lượng dịch vụ và sản phẩm để tái cấu trúc sản phẩm tour, khắc phục tính thời vụ và nâng cao tính chuyên nghiệp của nhân viên.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế du lịch: Luận án là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận ứng dụng mô hình Dwyer và Kim (2003) vào thực tiễn nghiên cứu kinh tế điểm đến biển đảo tại Việt Nam, đặc biệt là quy trình kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn mô hình lý thuyết nào làm khung phân tích chính để đánh giá năng lực cạnh tranh của Cát Bà?
Luận án lựa chọn mô hình tích hợp của Dwyer và Kim (2003) làm khung phân tích chính, có điều chỉnh thuật ngữ để phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Khung nghiên cứu gồm 5 nhóm yếu tố: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo ra, nguồn lực hỗ trợ, chính sách du lịch - hoạch định và phát triển, và quản lý điểm đến.

2. Thực trạng phát triển du lịch Cát Bà năm 2017 được ghi nhận qua các chỉ số cụ thể nào?
Năm 2017, Cát Bà đón 2,16 triệu lượt khách du lịch, trong đó tỷ lệ khách quốc tế đạt 22,1%; doanh thu du lịch đạt 1.250 tỷ đồng (văn bản ghi 1.25 tỷ); chi phí bình quân một lượt khách dao động từ 442.433 đồng; số ngày lưu trú trung bình của khách đạt 1,5 ngày.

3. Thiết kế nghiên cứu định tính và định lượng của luận án được tiến hành qua các bước nào?
Nghiên cứu được thiết kế theo 3 bước: Bước 1 nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu 3 khách du lịch và 5 chuyên gia để hoàn thiện mô hình; Bước 2 nghiên cứu định lượng khảo sát bằng bảng hỏi từ 300 - 500 khách du lịch để đánh giá thực trạng; Bước 3 nghiên cứu định tính bổ sung phỏng vấn sâu 5 chuyên gia để giải thích kết quả. Ngoài ra, tác giả kết hợp điều tra thực địa 31 người và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA).

4. Khảo sát định lượng khách du lịch tại Cát Bà đánh giá những tiêu chuẩn cụ thể nào?
Khảo sát định lượng đánh giá điểm trung bình của 7 tiêu chí: sản phẩm điểm đến du lịch; an ninh - trật tự - môi trường xã hội; vệ sinh môi trường; cơ sở hạ tầng tiện ích; giá cả; độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa; và thương hiệu du lịch Cát Bà.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Cát Bà?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp tương ứng với khung phân tích: (1) Khắc phục hạn chế về nguồn lực thừa hưởng; (2) Khắc phục hạn chế về nguồn lực tạo thêm; (3) Khắc phục hạn chế về nguồn lực phụ trợ; (4) Khắc phục hạn chế về chính sách du lịch, hoạch định, phát triển; (5) Khắc phục hạn chế về quản lý điểm đến.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Tuấn Phong đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên khung phân tích tích hợp của Dwyer và Kim (2003). Thông qua việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên dữ liệu thực tế tại quần đảo Cát Bà giai đoạn 2013 - 2017 và khảo sát 2017 - 2018, công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng, đo lường cảm nhận của du khách và xác định các điểm nghẽn hạn chế năng lực cạnh tranh của địa phương. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý kinh tế, hoạch định chính sách phát triển du lịch bền vững tại Cát Bà trong giai đoạn định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050.