Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Đồng Mô (Sơn Tây - Hà Nội)" do sinh viên Nguyễn Thanh Thùy (Mã sinh viên: VH1003, ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Văn Sáu.

Trong bối cảnh ngành du lịch toàn cầu và Việt Nam phát triển nhanh chóng, loại hình du lịch sinh thái (DLST) ngày càng khẳng định vai trò là phương thức dung hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như văn hóa bản địa. Khu du lịch Đồng Mô nằm trên địa bàn thị xã Sơn Tây và một phần huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội), sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú với hồ nước ngọt diện tích lớn, các đồi đảo cảnh quan ven núi Ba Vì cùng hệ thống sân golf 36 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, hoạt động du lịch tại Đồng Mô phần lớn mang tính tự phát, chưa được quy hoạch đồng bộ và chịu áp lực suy thoái cảnh quan do sự gia tăng nhanh chóng của lượng du khách. Đề tài được triển khai nhằm giải quyết yêu cầu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho khu vực này.

Theo văn bản khóa luận, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu hệ thống lý luận chung về du lịch sinh thái, các đặc trưng, nguyên tắc và điều kiện phát triển loại hình này.
  2. Khảo sát, thu thập và đánh giá thực trạng các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên nhân văn và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại khu du lịch Đồng Mô.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng quản lý nhằm bảo tồn tài nguyên, nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy du lịch sinh thái Đồng Mô phát triển bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Đồng Mô, bao gồm khả năng khai thác tài nguyên và thực trạng dịch vụ du lịch tại đây. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát toàn bộ lãnh thổ thị xã Sơn Tây, một phần huyện Ba Vì và các vùng phụ cận có liên quan; phạm vi thời gian tập trung vào các mốc lịch sử phát triển từ khi thành lập Quốc doanh thủy sản Đồng Mô Ngải Sơn (15/11/1971), chuyển đổi thành Nông trường Đồng Mô (16/09/1986) đến giai đoạn điều chỉnh địa giới hành chính sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội (2008 - 2009).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa tiêu biểu về du lịch sinh thái trên thế giới và trong nước, bao gồm định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987), định nghĩa của Nepal, Malaysia, Australia, Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), và khái niệm chính thức tại Việt Nam được thông qua tại Hội thảo quốc gia "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" (tổ chức từ ngày 07 đến 09/09/1999 do Tổng cục Du lịch phối hợp cùng ESCAP và WWF). Nghiên cứu viện dẫn khái niệm đa dạng sinh thái theo Công ước Đa dạng Sinh học (Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất Rio de Janeiro) và mô hình tính toán sức chứa du lịch của Boullon (1985) dựa trên tiêu chuẩn không gian cá nhân ($m^2/\text{người}$) kết hợp hệ số luân chuyển.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm 3 phương pháp chính:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Tập hợp các thông số môi trường (không khí, nước, hệ thực vật, thủy sản) và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội từ các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Tiến hành quan sát trực tiếp cảnh quan, khảo sát các đảo nổi, hệ thống lưu trú, nhà hàng và trao đổi thông tin với cán bộ quản lý, người dân địa phương.
  • Phương pháp thống kê: Thống kê, phân loại các đối tượng quy hoạch, các chỉ số hạ tầng kỹ thuật, chỉ tiêu khí hậu sinh học và dữ liệu kinh tế nhằm phân tích tác động qua lại trong hoạt động du lịch.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được trích xuất từ báo cáo của Ủy ban Kinh tế UBND thành phố Hà Nội, UBND thị xã Sơn Tây, Ban Quản lý Khu du lịch Đồng Mô, Công ty TNHH Thung lũng Vua và các tài liệu khoa học chuyên ngành du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Du lịch sinh thái và khái quát về khu du lịch sinh thái Đồng Mô

Chương này tập trung trình bày khung lý luận chuyên ngành và đặc điểm điều kiện tự nhiên của khu du lịch Đồng Mô:

  • Lý luận về DLST: Phân tích 7 đặc trưng chung của ngành du lịch (đa ngành, đa thành phần, đa mục tiêu, liên vùng, mùa vụ, chi phí, xã hội hóa) và 3 đặc trưng riêng của DLST (tính giáo dục môi trường cao, bảo vệ tài nguyên và duy trì đa dạng sinh học, thu hút cộng đồng địa phương tham gia). Tác giả làm rõ 4 nguyên tắc hoạt động, 4 điều kiện phát triển DLST và 11 loại hình DLST phổ biến tại Việt Nam (dã ngoại, leo núi, đi bộ trong rừng, nghiên cứu đa dạng sinh học, miệt vườn, quan sát chim, thăm bản làng dân tộc, du thuyền, mạo hiểm, săn bắn - câu cá và các loại hình liên vùng).
  • Vị trí và địa hình Đồng Mô: Khu du lịch cách trung tâm Hà Nội hơn 40 km về phía Tây, tiếp giáp huyện Thạch Thất (phía Đông), xã Yên Bài thuộc Ba Vì (phía Tây), xã Kim Sơn (phía Nam) và xã Sơn Đông (phía Bắc). Địa hình kết hợp giữa vùng đồi núi thấp ven núi Ba Vì và diện tích mặt hồ 1.200 ha (trong tổng diện tích vùng hồ 2.000 ha).
  • Khí hậu: Khu vực mang tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm với nhiệt độ trung bình năm đạt 23,5°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29°C, biên độ nhiệt ngày 5,7°C, độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa trung bình năm đạt 1.651,5 mm. Khóa luận dẫn bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học và lưu ý số ngày dông bão trung bình 56,5 ngày/năm (chiếm 15% tổng số ngày), tập trung vào các tháng 2, 3 và 6, 7, 8 trùng với thời gian cao điểm du lịch.
  • Tài nguyên nước và thủy sản: Hồ Đồng Mô là công trình nhân tạo xây dựng từ năm 1967 đến 1970, tiếp nhận nguồn nước từ Suối Cò (núi Vua Bà, Hòa Bình), Suối Bài và Suối Bán Xôi (núi Ba Vì). Hồ có dung tích trữ nước tối đa khoảng 10 triệu $m^3$, mực nước thiết kế từ cos 13 đến cos 24 (mực nước vận hành phục vụ sân golf là cos 21,5). Hệ động vật thủy sinh phong phú gồm cá chép (Cyprinus carpio), cá lăng (đặc biệt là cá lăng nghệ thương phẩm giá từ 250.000 đồng), cá chim trắng nước ngọt (nhập nội năm 1998, cho sinh sản nhân tạo năm 2000), cá trắm cỏ và cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus).

Chương II: Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Đồng Mô

Chương II phản ánh toàn diện thực trạng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ du lịch tại khu vực:

  • Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây: Giai đoạn 2004 - 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Sơn Tây đạt 15%/năm (năm 2008 đạt xấp xỉ 16%, 8 tháng đầu năm 2008 đạt 15,5%). Cơ cấu kinh tế gồm công nghiệp - xây dựng chiếm 48%, thương mại - dịch vụ chiếm 39,4%, nông - lâm nghiệp chiếm 12,6%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 11,2 triệu đồng/năm. Thị xã có 90 dự án đầu tư với tổng vốn 1.000 tỷ đồng, 208 doanh nghiệp và 168 trang trại nông lâm kết hợp.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn phụ cận: Gồm 172 di tích lịch sử - văn hóa (15 di tích cấp quốc gia). Các điểm tiêu biểu gồm: Làng cổ Đường Lâm (xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 77/2005/QĐ-BVHTT ngày 28/11/2005); Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự, trùng tu năm 1632, lưu giữ 287 pho tượng nghệ thuật gồm 174 tượng đất nung, 107 tượng mộc, 6 tượng đồng, xác lập kỷ lục Phật giáo Việt Nam tháng 5/2006); Đền Và (Đông Cung, xây dựng lại năm Minh Mạng thứ 12 - 1831, diện tích 2.000 $m^2$, lưu giữ 18 đạo sắc phong từ thời Phúc Thái thứ 3 - 1645 đến Khải Định thứ 9 - 1924, xếp hạng quốc gia năm 1962). Vùng còn tập trung 7 học viện và trường sĩ quan quân đội.
  • Hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất du lịch:
    • Hạ tầng chung: Trục giao thông kết nối qua Đại lộ Thăng Long (Láng - Hòa Lạc), Quốc lộ 32, Quốc lộ 21; mạng lưới viễn thông đạt 19.900 máy cố định (26,5 máy/100 dân); 100% hộ dân dùng nước sạch (60% dùng nước máy công suất 4,8 triệu $m^3$); nguồn điện cấp từ trạm biến áp E7 Xuân Khanh công suất 96.000 kVA.
    • Sân golf quốc tế Đồng Mô (Đảo Vua): Do Công ty TNHH Thung lũng Vua quản lý, quy mô 350 ha mặt đất và 1.500 ha mặt hồ. Gồm sân Lakeside 18 lỗ (hoạt động từ 1993, chuẩn 72 par, 7.100 thước Anh do Pacific Coast Design thiết kế, 13/18 lỗ ven hồ) và sân Mountain View 18 lỗ (hoạt động từ 2004). Công trình phụ trợ gồm nhà ăn câu lạc bộ, phòng thay đồ 260 tủ, khu tập 12 làn có mái che và dự án khu nghỉ dưỡng gồm khách sạn 80 phòng cùng 50 biệt thự đang xây dựng.
    • Dịch vụ lưu trú và ẩm thực: Khách sạn Thiên Mã có 24 phòng nghỉ, hội trường 150 chỗ, 3 phòng ăn VIP, 30 nhân viên; Khu nhà hàng Cơm Lam Mường Động quy mô 2,7 ha nhà sàn ven hồ sen; Đội tàu thuyền vận chuyển gồm 2 xuồng cao tốc và 30 canô.
  • Thuận lợi và khó khăn: Vị trí thuận lợi và cảnh quan tốt tạo điều kiện đón khách cuối tuần, song khu du lịch gặp khó khăn do mâu thuẫn sử dụng nguồn nước giữa du lịch và tưới tiêu nông nghiệp, hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu hướng dẫn viên chuyên nghiệp có ngoại ngữ và công tác quảng bá còn hạn chế.

Chương III: Những định hướng, giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Đồng Mô

Dựa trên phân tích xu hướng du lịch (gia tăng số lượng, xã hội hóa thành phần, mở rộng địa bàn, kéo dài thời vụ), tác giả đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp phát triển cho Đồng Mô:

  • Xác định mục tiêu phát triển DLST gắn liền với bảo tồn tính nguyên vẹn của hệ sinh thái hồ và nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương.
  • Hệ thống 8 nhóm giải pháp thực thi bao gồm:
    1. Giải pháp tổ chức quản lý: Kiện toàn bộ máy quản lý khu du lịch, phối hợp liên ngành giữa thị xã Sơn Tây, huyện Ba Vì và các doanh nghiệp khai thác.
    2. Giải pháp quy hoạch - đầu tư hợp tác: Thu hút nguồn vốn đầu tư hoàn thiện các phân khu chức năng theo quy hoạch tổng thể.
    3. Giải pháp nâng cấp cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Nâng cấp hệ thống cầu cảng, bến đỗ thuyền, đường nội bộ trên các đảo và phương tiện vận chuyển đạt chuẩn an toàn.
    4. Giải pháp mở rộng thị trường: Tập trung thu hút khách nghỉ dưỡng cuối tuần từ nội thành Hà Nội và khách quốc tế có nhu cầu thể thao, nghiên cứu.
    5. Giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch: Phát triển các tour tham quan lòng hồ, câu cá giải trí, khám phá đa dạng sinh học kết hợp du lịch văn hóa Làng cổ Đường Lâm - Chùa Mía - Đền Và.
    6. Giải pháp tiếp thị, quảng bá: Xây dựng chương trình xúc tiến du lịch, cung cấp thông tin chỉ dẫn qua các phương tiện truyền thông.
    7. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực: Bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch sinh thái, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nhân viên và huy động người dân địa phương tham gia cung ứng dịch vụ.
    8. Giải pháp giáo dục và bảo vệ môi trường: Lắp đặt biển chỉ dẫn, hệ thống thùng rác, trạm xử lý nước thải và kiểm soát tải lượng du khách theo sức chứa sinh thái.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống dữ liệu thực chứng phản ánh các chỉ số điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật tại khu vực nghiên cứu:

Hạng mục khảo sát Thông số và dữ liệu thực tế trong văn bản
Quy mô mặt nước hồ Đồng Mô Diện tích mặt nước 1.200 ha (vùng hồ 2.000 ha), dung tích tối đa ~10 triệu $m^3$, mực nước cos 13 đến cos 24 (sân golf vận hành ở cos 21,5).
Đặc điểm khí hậu Nhiệt độ trung bình năm 23,5°C; lượng mưa 1.651,5 mm; 56,5 ngày dông bão/năm.
Tăng trưởng kinh tế Sơn Tây (2008) Tốc độ tăng trưởng GDP xấp xỉ 16%; công nghiệp 48%, dịch vụ 39,4%, nông nghiệp 12,6%; thu nhập 11,2 triệu đồng/người/năm.
Di tích văn hóa phụ cận 172 di tích (15 di tích quốc gia); Chùa Mía (287 tượng); Đền Và (18 đạo sắc phong); Làng cổ Đường Lâm (Quyết định 77/2005/QĐ-BVHTT).
Cơ sở vật chất Sân golf Đảo Vua Diện tích 350 ha đất + 1.500 ha hồ; 2 sân 18 lỗ (Lakeside - 1993, Mountain View - 2004); 260 tủ đồ cá nhân; 12 làn tập có mái che.
Cơ sở lưu trú và dịch vụ khác Khách sạn Thiên Mã (24 phòng, hội trường 150 chỗ, 30 nhân viên); Nhà hàng Mường Động (2,7 ha); 2 xuồng cao tốc, 30 canô.

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả nêu rõ:

  • Công trình đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết về du lịch sinh thái áp dụng vào địa bàn vùng bán sơn địa ven đô Hà Nội.
  • Khóa luận là một trong những nghiên cứu tổng thể đầu tiên tiếp cận khu du lịch Đồng Mô dưới góc độ phát triển du lịch sinh thái chuyên biệt (khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn chỉ khảo sát đơn lẻ ở khía cạnh môi trường hoặc kinh tế thủy sản).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa khai thác kinh tế du lịch và bảo vệ tài nguyên nước, sinh vật lòng hồ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng tại thời điểm thị xã Sơn Tây sáp nhập về thành phố Hà Nội (2008 - 2009), chưa phản ánh các biến động hạ tầng và quy hoạch đô thị sau giai đoạn này.
  • Các số liệu thống kê về lượt khách, doanh thu phân kỳ và đo lường định lượng sức chứa du lịch sinh thái ($m^2/\text{người}$) cho từng đảo nổi cụ thể chưa được kiểm chứng đầy đủ bằng mô hình thực nghiệm do hạn chế về nguồn số liệu thứ cấp tại điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài bao gồm:

  • Ứng dụng công thức tính toán sức chứa du lịch của Boullon để xác định tải lượng du khách tối đa cho từng phân khu và hòn đảo trên hồ Đồng Mô.
  • Nghiên cứu định lượng tác động của hoạt động canô và hóa chất bảo dưỡng cỏ sân golf đối với chất lượng nước và hệ sinh vật thủy sinh hồ Đồng Mô.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Du lịch và Quản lý Môi trường.

Nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo cao ở các phần:

  • Phần tổng quan lý luận về các nguyên tắc, điều kiện và công thức xác định sức chứa trong du lịch sinh thái.
  • Hệ thống tư liệu mô tả chi tiết về đặc tính sinh học của các loài cá nước ngọt hồ Đồng Mô phục vụ phát triển sản phẩm du lịch ẩm thực và câu cá giải trí.
  • Báo cáo hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật sân golf quốc tế Đảo Vua, Khách sạn Thiên Mã và hệ thống di tích văn hóa lịch sử Xứ Đoài (Làng cổ Đường Lâm, Chùa Mía, Đền Và).

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước hình thành lòng hồ Đồng Mô bắt nguồn từ các nhánh suối nào và có trữ lượng bao nhiêu?
Hồ Đồng Mô có diện tích mặt nước 1.200 ha với trữ lượng lớn nhất khoảng 10 triệu $m^3$. Hồ được hình thành từ năm 1967 đến 1970 nhờ dòng chảy của ba nhánh chính: Suối Cò (bắt nguồn từ núi Vua Bà, tỉnh Hòa Bình), Suối Bài (từ núi Ba Vì chảy qua xã Vân Hòa, Yên Bài) và Suối Bán Xôi (từ núi Ba Vì và núi Yên Ngựa) hợp lưu thành sông Măng trước khi tích tụ thành hồ chứa.

2. Sân golf quốc tế Đồng Mô có quy mô, cấu trúc và thời điểm vận hành các phân khu như thế nào?
Sân golf Đồng Mô (Đảo Vua) do Công ty TNHH Thung lũng Vua sở hữu và quản lý, xây dựng trên 350 ha đất liền và 1.500 ha mặt hồ. Sân gồm 2 sân golf 18 lỗ: Sân Lakeside (thiết kế bởi Pacific Coast Design Pty.Ltd của Australia, tiêu chuẩn 72 par, 7.100 thước Anh, đưa vào hoạt động năm 1993) và Sân Mountain View (khai trương năm 2004).

3. Khóa luận chỉ ra những điểm nghẽn chính nào đang cản trở du lịch sinh thái Đồng Mô?
Các trở ngại chính được xác định gồm: xung đột chức năng mặt nước khi hồ Đồng Mô phải đồng thời cấp nước tưới tiêu nông nghiệp khiến mực nước du lịch không ổn định; đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đồng bộ; thiếu khu vui chơi giải trí; đội ngũ nhân lực thiếu hướng dẫn viên tại điểm có ngoại ngữ; và công tác quảng bá, tiếp thị du lịch còn hạn chế.

4. Khảo sát tài nguyên nhân văn phụ cận ghi nhận những giá trị đặc sắc nào của Chùa Mía và Đền Và?
Chùa Mía (làng Đông Xàng) được tôn tạo năm 1632, lưu giữ 287 pho tượng thờ (174 tượng đất nung sơn son thếp vàng, 107 tượng mộc, 6 tượng đồng) và được xác lập kỷ lục Việt Nam năm 2006. Đền Và (thờ Đức Thánh Tản Viên) mở rộng năm 1831 với diện tích 2.000 $m^2$, lưu giữ 18 đạo sắc phong cổ (từ năm 1645 đến 1924) cùng 47 đôi câu đối và 18 bức hoành phi.

5. Cơ sở lưu trú và dịch vụ canô phục vụ khách tại Đồng Mô được ghi nhận gồm những đơn vị nào?
Tại thời điểm nghiên cứu, khu vực có Khách sạn Thiên Mã (24 phòng nghỉ, hội trường 150 người, 30 nhân viên phục vụ), Nhà hàng Cơm Lam Mường Động (nhà sàn ven hồ rộng 2,7 ha) và phương tiện di chuyển trên hồ gồm 2 xuồng cao tốc cùng 30 canô.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thanh Thùy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, tài nguyên nhân văn cùng thực trạng kinh doanh du lịch tại Đồng Mô giai đoạn 2008 - 2009. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng lớn về cảnh quan hồ nước, sân golf và di tích lịch sử Xứ Đoài, đồng thời nhận diện các điểm nghẽn về hạ tầng, nhân lực và điều tiết thủy lợi. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác quản lý và định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực phía Tây thủ đô Hà Nội.