Chương I, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam 2005, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.4 Vai trò của du lịch đối với kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội 2.1 Đối với kinh tế 2.1 Tác động tích cực - Góp phần tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). - Xuất khẩu du lịch là hoạt động "xuất khẩu tại chỗ" sẽ thu được ngoại tệ từ việc du khách trả tiền cho các hoạt động của mình khi họ đến du lịch trong lịch trình chuyến đi. Mặt khác, hoạt động du lịch cũng khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. - Tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và quốc gia.
Khách du lịch đến mua sắm hoặc sử dụng những sản phẩm sản xuất tại địa phương là yếu tố giúp quảng bá sản phẩm của địa phương đến nhiều nơi trên thế giới. Một hình thức tiếp thị không tốn chi phí đầu tư. - Sản phẩm du lịch được kết hợp từ rất nhiều các sản phẩm đơn lẻ khác nhau như: vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, vui chơi giải trí. đây là sản phẩm của rất nhiều ngành kinh doanh.
Chính vì thế, có thể nói du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. 8 - Tạo ra nhiều việc làm cho người dân địa phương khi làm việc trực tiếp như các công việc tại các khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch… Bên cạnh đó du lịch cũng tạo ra nhiều việc làm mang tính thời vụ hoặc nhất thời như công việc vào các ngày nghỉ cuối tuần hay ngày lễ. - Tạo tiền đề để phát triển kinh tế các vùng sâu, vùng xa, hải đảo vì để phát triển du lịch ở các vùng đặc biệt đó, nhà nước phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết lập mạng lưới giao thông liên lạc thông suốt, thu hút các nhà đầu tư khác đến đầu tư khách sạn, resot… 2.2 Những hạn chế của phát triển du lịch - Nguy cơ lạm phát cục bộ vì khi du khách có khả năng thanh toán cao nên có cách sống của những người có thu nhập cao và lối sống của họ sẽ tác động đến người dân địa phương. Điều này sẽ tác động và làm ảnh hưởng những cư dân vùng du lịch có mức sống thấp hơn.
- Nguy cơ ô nhiễm môi trường vì hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cực nhất định đến môi trường. Một mặt, do tốc độ phát triển du lịch quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương tiện xử lý môi trường. Mặt khác, nhận thức của con người về môi trường còn thấp bên cạnh các biện pháp xử lý về môi trường còn hạn chế, chưa đồng nhất.2 Đối với văn hóa Thúc đẩy việc giữ gìn và phát huy tìềm năng của tài nguyên du lịch: khi khai thác, phát triển du lịch thì tài nguyên du lịch đã được sử dụng để phục vụ du lịch, để đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài, buộc chính quyền trung ương và địa phương, các tổ chức khai thác phải đầu tư, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các thế mạnh hiện có của nguồn tài nguyên du lịch đó để đảm bảo sự phát triển này được bền vững. Thông qua du lịch, du khách có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, biết được nhiều nơi, nhiều danh lam thắng cảnh của thiên nhiên lẫn nhân tạo, từ đó thể hiện lòng tự hào dân tộc và có ý thức 9 bảo vệ những tài sản, di sản mà các quốc gia đang có.
Điều này sẽ hình thành nên nhân cách của mỗi cá nhân về bảo tồn thiên nhiên, cách ứng xử với thiên nhiên.3 Đối với xã hội Bản chất của của du lịch là nghỉ ngơi và khám phá. Điều này, đem lại cho con người cân bằng tâm lý, thể lý sau thời gian dài làm việc. Về mặt y học thì du lịch giúp con người giảm áp lực công việc, phục hồi sức khoẻ và tăng cường thể chất. Mặt khác, du lịch cũng là phương tiện tuyên truyền, quảng bá hình ảnh địa phương, quốc gia về thành tựu kinh tế, chính trị, con người, danh lam thắng cảnh, các phong tục tập quán, các di tích văn hoá, lịch sử, các làng nghề truyền thống…đến khách du lịch khi đến địa phương.
Ngoài ra, thông qua khách du lịch đến từ các địa phương khác và từ các quóc gia khác, sự hiểu biết của người dân địa phương sẽ được nâng lên đáng kể qua sự giao lưu văn hóa, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị, mối quan hệ của nhân dân giữa các vùng trong nước và với các quốc gia khác.4 Đối với chính trị Thông qua các hoạt động du lịch thì chúng ta có thể khẳng định rằng du lịch cũng có chức năng chính trị. Nó thể hiện ở vai trò to lớn trong việc củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Mở rộng mối liên hệ và gia tăng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Qua việc giao lưu văn hóa làm cho con người ở các nền văn hóa khách nhau càng hiểu nhau hơn.
Giúp con người quý trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia khác, tạo nên sự hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc.5 Một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài Để đo mức độ hài lòng của khách hàng với các dịch vụ cụ thể mà các doanh nghiệp đưa ra, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp, công cụ khác nhau nhằm tạo ra một khoảng cách dựa trên sự khác biệt giữa “sự mong đợi” và “sự nhận được” vì “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi nhận được từ dịch vụ và thực tế nhận được của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”, như vậy 10 đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ cụ thể cũng chính là đo lường chất lượng dịch vụ bằng cách dựa vào các thang đo.1 Mô hình HOLSAT (Holiday Satisfaction) (Tribe & Snaith, 1988) Mô hình HOLSAT đo lường sự hài lòng của khách du lịch tại một điểm đến bằng cách so sánh sự cảm nhận về mặt tính cực hoặc tiêu cực các thuộc tính khi du khách sử dụng dịch vụ. Trong mô hình không áp dụng các thuộc tính cố định cho tất cả các điểm đến mà tùy vào từng địa điểm sẽ có các thuộc tính khác nhau được sử dụng cho phù hợp. Bảng câu hỏi trong mô hình này được thiết kế theo thang đo Likert (5 lựa chọn) trong đó người trả lời được yêu cầu đánh giá cho từng thuộc tính dựa trên thang đo này cho cả trước và sau khi sử dụng dịch vụ. Sự khác biệt giữa “mong đợi” và “thực tế đối với từng thuộc tính sẽ thể hiện về sự hài lòng của du khách”.2 Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nhân (2013) Nghiên cứu của Nguyễn Trọng nhân (2013), đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa đối với du lịch Miệt-Vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu này đã đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đi du lịch gồm: cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển tham quan, dịch vụ ăn uống, mua sắm giải trí, an ninh trật tự và an toàn, hướng dẫn viên du lịch Miệt-Vườn, giá cả các loại dịch vụ. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Các nhân tố ảnh hưởng Cơ sở lưu trú đến sự hài lòng của Phương tiện vận chuyển tham quan khách du lịch nội địa Dịch vụ ăn uống, mua sắm và giải trí đối với du lịch Miệt An ninh trật tự và an toàn vườn vùng đồng bằng Hướng dẫn viên du lịch Miệt vườn sông Cửu Long Giá cả các loại dịch vụ Hình 2.1 Mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của du khách nội địa đối với du lịch Miệt-vƣờn vùng đồng bằng sông Cửu Long Nguồn: Nguyễn Trong Nhân (2013) 11 Trong đó - Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch có tác động đến sự hài lòng của du khách như cần mở rộng thêm đường xá đến các khu du lịch, cần xây thêm các nhà vệ sinh, quy hoạch bãi đậu xe, bến tàu rộng rãi và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ… - Cơ sở lưu trú có ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách như phòng nghỉ phải thoáng mát, sạch sẽ và đầy đủ tiện nghi, nhân viên phục vụ thân thiện, lịch sự… Các sơ sở lưu trú ở vị trí thuận tiện với cảnh quan đẹp cũng làm du khách hài lòng hơn. - Phương tiện vận chuyển tham quan có tác động mạnh nhất trong các yếu tố chính vì thế cần phải trang bị dụng cụ y tế và phải đảm bảo an toàn cho du khách, các nhân viên trong lĩnh vực này cần được huấn luyện tốt để có thái độ, tác phong làm việc chuyên nghiệp. - Dịch vụ ăn uống, mua sắm và giải trí cần phát triển thêm các loại hình giải trí, các cửa hàng đồ lưu niệm nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách.
- An ninh trật tự và an toàn cũng là một trong những nhân tố cần được xem xét tránh tình trạng chèo kéo du khách, nói thách giá, trộm cắp, cướp giật cũng cần được quan tâm. - Hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) cũng cần được đào tạo để có kỹ năng giao tiếp, ứng xử… vì nhân tố này cũng tác động đến sự hài lòng của du khách. - Giá cả các loại dịch vụ phải phù hợp với chất lượng, giá phải được kiểm soát vì yếu tố này cũng tác động đến sự hài lòng của du khách.3 Nghiên cứu của Lê Văn Hưng (2013) Đề tài nghiên cứu của Lê văn Hưng (2013), đánh giá sự hài lòng của du khách đối với loại hình du lịch sinh thái “Miệt vườn- Sông nước” tỉnh Tiền Giang. Mô hình này đề xuất các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách gồm: phong cảnh du lịch miệt vườn, cơ sở hạ tầng, hướng dẫn viên du lịch và nhân viên phục vụ du lịch, giá cả cảm nhận về chi phí du lịch.
12 Phong cảnh du lịch miệt vườn Sự hài lòng của du khách Cơ sở hạ tầng du lịch đối với loại hình du lịch sinh HDVDL và nhân viên phục vụ du lịch thái “Miệt vườn-sông nước” Giá cả cảm nhận về chi phí du lịch tỉnh Tiền Giang Hình 2.