Chương 1 giới thiệu, trình bày khái quát về dé tài nghiên cứu bao gồm ly do chọn dé tai, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, bố cục của bài nghiên cứu. Nội dung chương | thể hiện cái nhìn tông thé về nghiên cứu và đưa ra định hướng cho toàn bộ bài nghiên cứu, là cơ sở dé triển khai nghiên cứu trong những chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 2. Một số khái niệm chung e Du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hợp Quốc (UNWTO, 1994): Du lịch là các hoạt động của những người đi du lịch ở những nơi ngoài môi trường bình thường của họ ít hơn một năm cho bất kỳ mục đích chính (giải trí, kinh doanh hoặc mục đích cá nhân) khác với một cư dân cư trú tại quốc gia hoặc nơi đến thăm.
Theo Luật Du Lịch (2017): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Theo Trần Đức Thanh và cộng sự (2022): “Du lịch là hoạt động kinh tẾ, xã hội, đào tạo và nghiên cứu liên quan đến sự đi chuyên và lưu trú tạm thời của con người vào thời gian rảnh rỗi ở ngoài nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe thé chất và tinh thần, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh”. Nhìn chung có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch, tuy nhiên để phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu, có thé hiểu một cách khái quát nhất: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong một thời gian nhất định vì mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, v. mà không phải mục đích kiếm tiền.
e Khách du lịch Theo tác giả Trần Đức Thanh, khách du lịch là “những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuôi mục đích kinh tế” (Trần Đức Thanh, 2005). Luật Du Lịch (2017) quy định: "Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến". Theo đó, khách du lịch được phân thành khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thô Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoàải vào Việt Nam du lịch. Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài”. 16 Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu khách du lịch là những người đi đến một địa điểm nào đó vì mục đích du lịch như nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí và sử dụng các dịch vụ du lịch. Luận văn này tập trung vào khách DLĐS, nghĩa là khách du lịch sử dụng các dịch vụ DLDS nhằm mục đích tham quan, giải trí.
e Tài nguyên du lịch Trong khai thác du lịch, tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng đề hình thành các điểm, tuyến du lịch cũng như các vấn đề liên quan đến tổ chức lãnh thổ du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú và có giá trị thì sức hấp dẫn du lịch càng cao. Hiện nay, có nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau về tài nguyên du lịch. Tác giả Nguyễn Minh Tuệ & Vũ Đình Hòa (2017) nhận định: "Tài nguyên du lịch là tong thé tự nhiên, lịch sử - văn hóa cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách đã, đang và sẽ khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả, bền vững".
Luật Du lịch Việt Nam (2017) định nghĩa: “Tai nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa là cơ sở để hình thành sản pham du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa". Như vậy, các định nghĩa đều thể hiện được đặc điểm của tài nguyên du lịch là giá trị hap dẫn của tong thể các thành phan của tự nhiên và văn hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác du lịch hiệu quả. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm cảnh quan thiên nhiên, địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác.
Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, đi tích cách mạng, khảo cô, kiến trúc, giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian, các giá trị văn hóa khác cũng như các công trình lao động sáng tạo của con người cho mục đích du lịch. Tài nguyên DLĐS là tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa được khai thác phục vụ DLĐS. 17 e Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là thành phần quan trọng phục vụ khách du lịch, thể hiện mức độ hiệu quả trong khai thác du lịch. Tác giả Trần Đức Thanh (2005) trong giáo trình Nhập môn Du lịch định nghĩa "Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vu và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách du lịch một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”.
Luật Du lịch Việt Nam (2017) cũng quy định “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch dé thỏa mãn nhu cau của khách du lich". Như vậy, sản phẩm du lịch là tập hợp dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch dựa trên sự kết hợp của tải nguyên du lịch và các phương tiện. Sản pham du lich rat da dang và được ton tại ở nhiều dạng khác nhau. Sản phẩm du lịch chỉ được tạo thành khi có dịch vụ du lịch cụ thé và phải có sự phối hợp của nhiều yếu tô khác nhau tạo nên.
e Điểm du lịch Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam (2004): “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong một không gian nhất định được quy hoạch để cung cấp một số dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn và tìm hiểu của khách du lịch". Theo Nguyễn Minh Tuệ & Vũ Đình Hòa (2017), điểm du lịch “là nơi tập trung một loại tai nguyên nao đó (tự nhiên, van hóa - lịch sử hoặc kinh tẾ — xã hội) hoặc một loại công trình riêng phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ”. Theo Luật Du lịch (2017), “Điểm du lich là nơi có tai nguyên du lịch được đầu tư, khai thác, phục vụ khách du lịch”. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu về điểm du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới có sự phân biệt giữa điểm đến du lịch và điểm tham quan.
Điểm đến du lịch (Tourism destination) “là không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng trên thị trường"; Điểm tham quan (Tourist attraction) “là một điểm thu hút khách du lịch, nơi khách du lịch tham quan, thường có các giá trị vốn có của nó, hoặc trưng bày các giá trị văn hóa, ý nghĩa lịch sử hoặc được xây dựng, cung 18 cấp các dịch vụ về vui chơi giải trí hoặc mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm những điều mới lạ” (Nguyễn Minh Tuệ & Vũ Đình Hòa, 2017). Như vậy, điểm du lịch là khái niệm cơ bản trong du lịch. Điểm du lịch phải gồm những yếu tố sơ cấp đặc thù làm nền tảng thu hút du khách như tài nguyên du lịch (môi trường tự nhiên, sinh thái, truyền thống, văn hóa, v.) và những yếu tố thứ cấp được hình thành sau đó như cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, trung tâm vui chơi giải trí được đầu tư hoàn chỉnh. Trong luận văn này, điểm DLĐS là các điểm du lịch có thé tiếp cận bằng đường sông và có những giá trị hap dẫn du khách.
e© Tuyến du lịch Tuyến du lịch là phần quan trọng trong phát triển du lịch, có nhiều quan điểm khác nhau về tuyến du lịch. Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2004): “Tuyến du lịch là lộ trình nối các khu, điểm du lịch với nhau và nối các thị trường du lịch, các điểm được coi là nơi xuất phát điểm của khách du lịch quốc tế vào du lịch với các khu điểm du lịch". Theo Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa và các cộng sự (2017): “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch gắn với các tuyến giao thong". Như vậy có thé xem tuyến du lich là sự kết hợp 3 nhóm thành tố cơ bản, gồm điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch và mạng lưới giao thông.
Tuyến du lịch là cơ sở quan trọng dé xây dựng các tour du lịch. Tuyến DLĐS có thé được hiểu là lộ trình du lịch kết nối các diém DLDS theo đường sông bằng các phương tiện giao thông đường thủy, hoặc kết hợp phương tiện giao thông đường thủy và đường bộ dé tiếp cận các tài nguyên DLĐS. e Loại hình du lịch Theo tác giả Trần Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008): “Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm có những đặc điểm giống nhau hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự hoặc được bản cho một nhóm khách hàng hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tô chức như nhau hoặc được xếp chung theo một mức giá nào đó". Còn theo Trần Đức Thanh và cộng sự (2022), loại hình du lịch là “các hoạt động du lịch có chung một đặc điểm nhất định”.
Việc phân loại loại hình du lịch có nhiều cách khác nhau: 19 - Theo nhu cau du lịch: tham quan, giải tri, thé thao không chuyên, khám pha, nghỉ dưỡng, tôn giáo, học tập nghiên cứu, thé thao kết hợp, công vụ, chữa bệnh, thăm thân.