Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9 31 01 06) với đề tài "Phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)" do nghiên cứu sinh Lê Xuân Hoàn thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Chi và TS. Nguyễn Anh Tuấn.
Về tính cấp thiết, du lịch được xác định là ngành kinh tế dịch vụ có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu, thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ, tạo việc làm và thu hút nguồn thu ngoại tệ. Theo báo cáo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), vào năm 2019, ngành du lịch đã đóng góp 8,9 nghìn tỷ USD, chiếm 10,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới và tạo ra 330 triệu việc làm, tương đương 1/10 tổng lực lượng lao động toàn cầu. Tại Việt Nam, sau dấu mốc thành lập Công ty Du lịch Việt Nam ngày 09/7/1960, ngành du lịch bước vào giai đoạn mở cửa từ thập niên 1990 gắn liền với tiến trình hội nhập quốc tế: gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Trong ba trụ cột của ASEAN, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) thành lập cuối năm 2015 là trụ cột có tác động trực tiếp và sâu sắc nhất tới du lịch quốc tế thông qua các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ, đầu tư, và di chuyển lao động.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dù số lượng công trình nghiên cứu về du lịch và AEC tương đối phong phú, nhưng các nghiên cứu trực diện về sự phát triển của du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh AEC còn hạn chế. Cụ thể, các công trình trước đây chưa đối chiếu sâu các cam kết pháp lý cụ thể của AEC (như các hiệp định về dịch vụ, đầu tư, thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch) với ngành du lịch, chưa phân tích đầy đủ vai trò của thị trường nội khối ASEAN và sự biến động của du lịch quốc tế Việt Nam theo hai giai đoạn trước và sau dấu mốc thành lập AEC năm 2015. Bên cạnh đó, tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 từ cuối năm 2019 đã làm gián đoạn thị trường, đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại thực trạng và xác định hướng phục hồi.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:
- Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch quốc tế;
- Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN;
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN thời gian tới.
Luận án giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN?
- Cần thực hiện những giải pháp gì để phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN thời gian tới?
Đối tượng nghiên cứu là sự phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động du lịch quốc tế tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Du lịch quốc tế bao gồm hai bộ phận là du lịch quốc tế chủ động (inbound - đón khách nước ngoài đến) và du lịch quốc tế bị động (outbound - đưa công dân trong nước ra nước ngoài). Luận án chỉ tập trung vào du lịch quốc tế đến (inbound); mọi thuật ngữ "du lịch quốc tế" trong văn bản đều được hiểu theo nghĩa này. Nội dung phân tích tập trung vào ba phương diện: tình hình đầu tư, nguồn nhân lực, và kết quả đạt được (lượng khách, cơ cấu chi tiêu, tổng thu ngoại tệ); chủ thể nghiên cứu tập trung vào vai trò quản lý của Nhà nước.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2010 - 2020 (so sánh giai đoạn 2010 - 2015 trước khi AEC hình thành và giai đoạn 2016 - 2020 sau khi AEC thành lập); các giải pháp và kiến nghị được xây dựng với tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình nghiên cứu chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về du lịch và du lịch quốc tế
- Về công trình quốc tế: Stefan F. Schubert và Juan G. Brida (2009) nghiên cứu động lực tăng trưởng kinh tế từ du lịch đối với nền kinh tế quy mô nhỏ, có độ mở cao, xem du lịch quốc tế là ngành xuất khẩu đặc biệt. Larry Dwyer, Peter Forsyth và Andreas Papatheodorou nghiên cứu kinh tế du lịch dưới tác động của toàn cầu hóa, phân tích mô hình cung - cầu và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu theo mùa. Tisdell (2001) làm rõ các chủ đề về nhu cầu, chi phí cơ hội và đóng góp của du lịch tại Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Bồ Đào Nha. Anna Athanasopoulou nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tại Liên minh châu Âu (EU) và ASEAN, đánh giá đóng góp vào GDP, việc làm, đồng thời cảnh báo các tác động tiêu cực đến môi trường, di sản văn hóa và áp lực cạnh tranh địa phương. Về bối cảnh dịch bệnh, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2020) công bố các kịch bản suy giảm và phục hồi du lịch giai đoạn 2021 - 2024 kết hợp ma trận SWOT; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2020) đưa ra các định hướng chính sách nhằm giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 và xây dựng tính bền vững cho ngành du lịch.
- Về công trình trong nước: Văn Dương (2018) khái quát tình hình du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017, phân tích các cơ hội và hạn chế về nhân lực trong quá trình hội nhập quốc tế. Lê Anh Tuấn (2017) phân tích các nguồn lực phát triển du lịch gồm tài nguyên, vốn đầu tư, khoa học công nghệ, con người và nguồn lực mềm. Đoàn Mạnh Cương (2019) nghiên cứu sự cần thiết và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Nguyễn Thị Hồng Lâm và Nguyễn Kim Anh phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch của Trung Quốc, Singapore, Thái Lan; Đoàn Thị Trang tổng kết bài học xúc tiến, quy hoạch vùng và đào tạo nhân lực từ Thái Lan, Singapore, Malaysia, Trung Quốc. Về ứng phó Covid-19, Trung tâm WTO (2020) chỉ ra xu hướng chuyển đổi của doanh nghiệp lữ hành; Võ Đức Tâm và Võ Văn Bản dự báo các kịch bản tác động và đề xuất giải pháp phục hồi du lịch hậu đại dịch.
Nhóm 2: Các nghiên cứu về Cộng đồng Kinh tế ASEAN và du lịch ASEAN
- Về công trình quốc tế: Koichi Ishikawa phân định ba giai đoạn hội nhập của ASEAN gồm 1992 - 2002 (Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - AFTA), 2003 - 2015 (chuẩn bị thành lập AEC) và 2016 - 2025 (xây dựng AEC), xác định AEC có bản chất tương đương một hiệp định đối tác kinh tế toàn diện. Meeryung La nghiên cứu tiến trình tự do hóa thị trường dịch vụ trong khối ASEAN. Yuphadee phân tích năng lực cạnh tranh du lịch ASEAN ở phân khúc cao cấp, chỉ ra điểm nghẽn tại hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực tiểu vùng Mekong. Vannarith Chheang phân tích chính sách du lịch của 10 quốc gia thành viên và khẳng định mối quan hệ tương hỗ giữa hội nhập khu vực và tăng trưởng du lịch.
- Về công trình trong nước: Nguyễn Hồng Sơn hệ thống hóa cơ sở lý luận về hội nhập cộng đồng kinh tế, đánh giá kinh nghiệm tham gia AEC và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Hà Nam Khánh Giao và Đinh Kiệm phân tích thị trường lao động Việt Nam trong AEC, nêu rõ hạn chế về năng suất lao động thấp so với mức trung bình của khối.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về sự phát triển của du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh AEC
Lê Thanh Tùng và Lê Tuấn Anh vận dụng mô hình SWOT để đánh giá ngành du lịch Việt Nam khi AEC thành lập; Lê Anh Tuấn chỉ ra thách thức trong công tác đào tạo nhân lực phục vụ hội nhập khu vực; Tố Linh đánh giá cơ hội phát triển du lịch nhân sự kiện Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và nhấn mạnh việc triển khai Thỏa thuận Thừa nhận Lẫn nhau về Tiêu chuẩn Nghề Du lịch (MRA-TP); Bùi Thị Nhân phân tích ảnh hưởng của các cam kết hội nhập du lịch ASEAN đối với Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Thứ nhất, làm rõ các cam kết, hiệp định thể chế của AEC tác động trực tiếp đến ngành du lịch quốc tế; Thứ hai, phân tích có hệ thống thực trạng du lịch quốc tế đến Việt Nam trong sự so sánh hai giai đoạn trước và sau năm 2015 khi AEC chính thức vận hành; Thứ ba, định vị vai trò của thị trường khách nội khối ASEAN; Thứ tư, cập nhật dữ liệu thực tế đến năm 2020 phản ánh tác động của biến động kinh tế toàn cầu và đại dịch Covid-19, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gắn với định hướng phát triển đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án tiếp cận khái niệm du lịch dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Du lịch tại Roma (1963), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: du lịch là tổng hợp các hoạt động di chuyển và lưu trú của con người bên ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục vì mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, kinh doanh mà không nhằm mục đích kiếm tiền từ nơi đến. Du lịch quốc tế được cấu thành từ hai bộ phận: du lịch quốc tế đến (inbound) và du lịch quốc tế đi (outbound). Tác giả xác định phát triển du lịch quốc tế đến là quá trình gia tăng về quy mô lượng khách, doanh thu, hạ tầng kỹ thuật và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách nước ngoài, mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho quốc gia dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Luận án phân loại du lịch quốc tế theo mục đích chuyến đi (nghỉ dưỡng, sinh thái, văn hóa - lịch sử, thể thao mạo hiểm), theo phương tiện vận chuyển (hàng không, đường thủy, đường bộ) và theo độ dài thời gian (ngắn ngày, dài ngày). Các loại hình kinh doanh chính gồm: lữ hành quốc tế, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch và các dịch vụ du lịch liên quan (ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí, y tế). Về vai trò, luận án chia thành hai nhóm: (1) Vai trò kinh tế: đóng góp vào GDP (trực tiếp, gián tiếp, phát sinh), xuất khẩu tại chỗ thu ngoại tệ, kích thích dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tạo hiệu ứng lan tỏa sang các ngành giao thông, bưu chính viễn thông, bảo hiểm; (2) Vai trò xã hội: tạo việc làm (cứ 1 việc làm du lịch tạo ra 2 việc làm gián tiếp cho các ngành khác), giảm tải áp lực đô thị hóa, thúc đẩy giao lưu văn hóa và bảo tồn di sản.
Khung phân tích của luận án xác lập ba nhóm chỉ tiêu đánh giá và hai nhóm nhân tố ảnh hưởng:
| Nhóm nội dung |
Các tiêu chí / Chỉ tiêu cụ thể |
| I. Nhóm chỉ tiêu đánh giá sự phát triển |
- Đầu tư: Vốn đầu tư toàn xã hội vào ngành; vốn FDI đăng ký và cấp phép; số lượng và tốc độ tăng trưởng cơ sở lưu trú (đặc biệt phân khúc 4-5 sao); số lượng doanh nghiệp lữ hành và lưu trú. - Nguồn nhân lực: Tổng số lao động làm việc trong ngành; năng suất lao động xã hội trong ngành; tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn; số lượng hướng dẫn viên du lịch quốc tế. - Kết quả đạt được: Tổng số lượt khách quốc tế đến; tốc độ tăng trưởng khách; cơ cấu thị trường khách (theo khu vực và nội khối ASEAN); chi tiêu bình quân một ngày của khách; tổng thu từ khách quốc tế và tỷ lệ đóng góp vào GDP. |
| II. Nhóm nhân tố tác động |
- Nhân tố chủ quan: Tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn); cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông; chất lượng nguồn nhân lực du lịch; tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong nước; mức độ hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế. - Nhân tố khách quan: Tình hình kinh tế - chính trị thế giới; thảm họa tự nhiên hoặc nhân tạo; dịch bệnh truyền nhiễm (đặc biệt đại dịch Covid-19); khoảng cách địa lý; xu hướng tiêu dùng du lịch và năng lực cạnh tranh của các quốc gia trong khu vực. |
Về phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận: Luận án sử dụng cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận chuyên ngành kinh tế quốc tế kết hợp nghiên cứu liên ngành (quan hệ quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế, địa lý kinh tế, chính sách công).
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản chính sách, báo cáo thường niên, niên giám thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê ASEAN, báo cáo của WTTC, UNWTO, WEF và OECD trong giai đoạn 2010 - 2020.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi theo kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất đối với hai nhóm đối tượng: (1) Doanh nghiệp kinh doanh du lịch quốc tế tại Việt Nam (Phụ lục 10); (2) Chuyên gia, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý nhà nước về du lịch (Phụ lục 11).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả (thông qua bảng số liệu, biểu đồ biểu diễn quy mô và tốc độ tăng trưởng); phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu giữa hai giai đoạn 2010 - 2015 và 2016 - 2020; phương pháp phân tích dự báo; và phương pháp phân tích ma trận SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của du lịch quốc tế Việt Nam trong AEC.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba tuyến nội dung chính: kinh tế du lịch và du lịch quốc tế; tiến trình xây dựng AEC và du lịch khu vực; sự phát triển của du lịch quốc tế đến Việt Nam trong mối quan hệ với AEC. Trên cơ sở phân tích kết quả của các công trình đi trước, chương làm rõ những luận điểm đã được chứng minh về vai trò của du lịch như một phương thức xuất khẩu vô hình, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm.
Đồng thời, chương chỉ rõ các vấn đề còn bỏ ngỏ: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét AEC như một bối cảnh rộng, thiếu sự gắn kết chi tiết với các hiệp định pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động thương mại dịch vụ và lao động du lịch; thiếu chuỗi dữ liệu định lượng so sánh cụ thể tình trạng du lịch quốc tế của Việt Nam qua hai mốc thời gian trước và sau khi thành lập AEC (2015); chưa đi sâu phân tích cơ cấu chi tiêu và đặc thù của luồng khách nội khối ASEAN trong mối tương quan với luồng khách quốc tế từ các châu lục khác. Do đó, chương 1 xác lập tính cấp thiết khoa học và định vị nhiệm vụ nghiên cứu cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch quốc tế
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của việc phát triển du lịch quốc tế đến (inbound) dưới giác độ kinh tế quốc tế. Tác giả phân tích chức năng của các chủ thể tham gia: tổ chức quốc tế định hướng tiêu chuẩn; Chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước ban hành thể chế, quy hoạch và bảo đảm an ninh; doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; người lao động trực tiếp và gián tiếp; và khách du lịch quốc tế. Chương xây dựng khung chỉ tiêu đánh giá dựa trên hai góc độ: yếu tố đầu vào (vốn đầu tư toàn xã hội, FDI, cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú 4-5 sao, doanh nghiệp lữ hành, quy mô và chất lượng lao động) và yếu tố đầu ra (lượng khách, cơ cấu thị trường, chi tiêu bình quân ngày, doanh thu ngoại tệ, đóng góp vào GDP). Chương cũng luận giải chi tiết hai nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ quan và khách quan.
Ở phần thực tiễn, chương nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch quốc tế của ba quốc gia thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN theo Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Du lịch của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2019, trong đó Singapore xếp hạng 17, Malaysia hạng 29, Thái Lan hạng 31, Indonesia hạng 40, Việt Nam xếp thứ 63 toàn cầu và thứ 5 trong ASEAN):
- Singapore: Kinh nghiệm hoạch định chiến lược thương hiệu quốc gia qua các giai đoạn (bắt đầu từ Hội đồng Xúc tiến Du lịch Singapore - STPB), tập trung phát triển phân khúc khách MICE (hội họp, khen thưởng, hội nghị, triển lãm), xây dựng cơ sở hạ tầng hàng không và ứng dụng công nghệ trong thủ tục nhập cảnh.
- Malaysia: Mô hình Ban Xúc tiến Du lịch Malaysia (MTPB), Ban Thư ký Mua sắm Malaysia (SSM), việc thành lập Quỹ Phát triển Sản phẩm Du lịch (TPDF) và sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với các hội nghề nghiệp như Hiệp hội Tự nhiên Malaysia (MNS).
- Thái Lan: Vai trò điều hành xúc tiến của Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT), Văn phòng Hội nghị và Triển lãm Thái Lan (TCEB), chính sách đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển đảo, văn hóa và y tế được quốc tế công nhận (chứng nhận JCI), chính sách miễn thị thực linh hoạt và phát triển hạ tầng kết nối đường bộ tiểu vùng.
Từ kinh nghiệm của ba quốc gia này, chương rút ra bốn bài học cho Việt Nam: định vị thương hiệu du lịch gắn với chiến lược marketing bài bản; chú trọng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù có giá trị gia tăng cao; chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực theo chuẩn khu vực; và nâng cao vai trò điều phối thể chế của cơ quan quản lý nhà nước.
Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Chương 3 phân tích thực trạng phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 gắn với bối cảnh trước và sau khi thành lập AEC. Về khuôn khổ pháp lý khu vực, tác giả điểm lại Kế hoạch Chiến lược Du lịch ASEAN (ATSP), Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS), Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định về Di chuyển Thể nhân (MNP), và trọng tâm là Thỏa thuận Thừa nhận Lẫn nhau về Tiêu chuẩn Nghề Du lịch (MRA-TP) với 6 bộ phận nghiệp vụ và 32 chức danh công việc, cùng Chương trình Du lịch Chung ASEAN (CATC).
Về tình hình đầu tư, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội vào ngành du lịch tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2010 - 2019. Lũy kế dự án và tổng vốn FDI đăng ký vào du lịch tăng dần. Hệ thống cơ sở lưu trú mở rộng nhanh chóng, đặc biệt số lượng khách sạn đạt chuẩn 4-5 sao giai đoạn 2014 - 2019 tăng cả về cơ sở lẫn số buồng, tập trung tại các trung tâm du lịch lớn. Số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú và doanh nghiệp lữ hành quốc tế tăng mạnh trong giai đoạn 2010 - 2020, tạo điều kiện mở rộng thị trường đón khách.
Về nguồn nhân lực, tổng số lao động làm việc trong ngành du lịch gia tăng đều đặn từ năm 2010 đến 2019, kéo theo sự gia tăng năng suất lao động xã hội của ngành. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo chuyên môn du lịch giai đoạn 2010 - 2020 được cải thiện nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp so với yêu cầu hội nhập. Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch quốc tế tăng về số lượng, tuy nhiên cơ cấu ngoại ngữ còn mất cân đối. Luận án chỉ ra điểm nghẽn lớn khi triển khai thỏa thuận MRA-TP tại Việt Nam là sự chênh lệch về kỹ năng nghề, trình độ ngoại ngữ và năng lực cấp chứng chỉ của Hội đồng Cấp chứng chỉ Nghiệp vụ Du lịch (VTCB).
Về kết quả đạt được:
- Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng vượt bậc: từ mức 5,049 triệu lượt khách năm 2010 lên 7,943 triệu lượt năm 2015, và đạt đỉnh 18,008 triệu lượt khách vào năm 2019. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015 - 2019 đạt trên 22%/năm. Năm 2020, do tác động của đại dịch Covid-19 và chính sách đóng cửa biên giới, lượng khách quốc tế giảm sâu xuống còn khoảng 3,8 triệu lượt (chủ yếu là khách đến trong quý I/2020).
- Về cơ cấu thị trường: Khu vực châu Á luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 70% tổng lượng khách giai đoạn 2015 - 2019), tiếp theo là châu Âu, châu Mỹ và châu Úc.
- Về thị trường nội khối ASEAN: Năm 2019, khách từ các nước ASEAN đến Việt Nam đạt khoảng 2,1 triệu lượt, chiếm tỷ trọng 11,31% trong tổng số khách quốc tế. Bốn thị trường gửi khách lớn nhất trong khối ASEAN là Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.
- Về chi tiêu và doanh thu: Chi tiêu bình quân một ngày của khách du lịch quốc tế nói chung giai đoạn 2009 - 2019 có xu hướng tăng, đạt mức khoảng 132 USD/ngày vào năm 2019. Tuy nhiên, mức chi tiêu bình quân của khách từ khu vực ASEAN đến Việt Nam năm 2019 chỉ đạt 110,6 USD/ngày, thấp hơn mức bình quân chung của khách quốc tế. Tổng thu từ khách du lịch quốc tế tăng từ năm 2015 đến 2019, kéo theo sự gia tăng tỷ lệ đóng góp của du lịch quốc tế vào GDP của Việt Nam (từ mức khoảng 4% - 6% trong giai đoạn 2015 - 2019).
Chương 3 kết luận bằng việc đánh giá thành công: du lịch quốc tế phát triển nhanh về quy mô, mở rộng hạ tầng lưu trú cao cấp, đóng góp đáng kể vào GDP và nguồn thu ngoại tệ. Hạn chế còn tồn tại bao gồm: năng suất lao động thấp so với các nước ASEAN (Phụ lục 3), năng lực ngoại ngữ và chứng chỉ nghề MRA-TP chưa phổ quát; sản phẩm du lịch chưa đa dạng; thị trường khách ASEAN chưa được khai thác tối ưu về mức chi tiêu; tính liên kết chuỗi dịch vụ nội khối còn yếu; và khả năng thích ứng với khủng hoảng dịch bệnh toàn cầu còn bị động.
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch quốc tế đến Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN thời gian tới
Chương 4 xây dựng định hướng phát triển dựa trên việc nhận diện bối cảnh kinh tế quốc tế, các xu hướng tiêu dùng du lịch thế giới (du lịch số, du lịch sinh thái, du lịch sức khỏe, du lịch an toàn) và đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thông qua mô hình SWOT:
| Yếu tố |
Nội dung phân tích trong luận án |
| Điểm mạnh (S) |
Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú; môi trường chính trị ổn định, an toàn; chi phí dịch vụ cạnh tranh; tốc độ đầu tư cơ sở lưu trú 4-5 sao tăng nhanh. |
| Điểm yếu (W) |
Năng suất lao động ngành du lịch thấp |