Tổng quan nghiên cứu

Du lịch toàn cầu hiện đóng góp khoảng 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới. Tại Việt Nam, ngành kinh tế xanh này đã khẳng định vị thế mũi nhọn khi mang lại 32,8 tỷ USD vào năm 2019, tương đương 12,5% GDP quốc gia. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tỉnh Quảng Ninh sở hữu tiềm năng vượt trội với Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, 250 km bờ biển liên hoàn cùng hơn 600 di tích lịch sử - văn hóa. Doanh thu từ du lịch của tỉnh giai đoạn trước đại dịch đã chiếm khoảng 10% quy mô kinh tế địa phương, đạt mốc 14 triệu lượt khách vào năm 2019.

Tuy nhiên, sự phát triển nóng của ngành du lịch địa phương cũng bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tính mùa vụ sâu sắc, cơ sở hạ tầng dịch vụ tại một số khu vực chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng và hiệu quả can thiệp quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ còn phân tán. Đặc biệt, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020 - 2021 đã khiến lượng khách đến Quảng Ninh sụt giảm nghiêm trọng xuống còn 4,38 triệu lượt vào năm 2021.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Phạm Hùng Thiện, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Bùi Anh Tuấn tại Trường Đại học Ngoại thương, tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2017 - 2021, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2022 - 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc tái thiết ngành du lịch địa phương hướng tới mục tiêu đón 9,5 triệu lượt khách năm 2022 và định vị thương hiệu trung tâm du lịch quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết quản trị công hiện đại (New Public Management) và Lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Luận văn vận dụng khung định nghĩa chuẩn hóa theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), xác định du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao.

Quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh được tiếp cận dưới góc độ là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chính quyền địa phương thông qua hệ thống công cụ pháp lý, chính sách, quy hoạch và thanh tra nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực kinh tế - xã hội. Luận văn kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu tiêu biểu của Nguyễn Thị Bích Vân (2001) về quản lý bằng pháp luật, Bùi Thị Hải Yến (2009) về quy hoạch tuyến điểm, và Lê Thu Hương (2011) về kinh tế du lịch. Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh qua 6 nội dung trọng tâm:

  1. Xây dựng chiến lược và quy hoạch không gian phát triển du lịch.
  2. Ban hành và tổ chức thực thi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
  3. Hoàn thiện bộ máy tổ chức và nâng cao năng lực thực thi công vụ.
  4. Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ và hỗ trợ phát triển sản phẩm.
  5. Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp.
  6. Quảng bá, xúc tiến, hợp tác quốc tế và tăng cường công tác thanh tra, giám sát.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo thống kê định kỳ từ Tổng cục Du lịch Việt Nam, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017 - 2021, cùng hệ thống các nghị quyết, quyết định quy hoạch của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Ninh.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và khảo sát thực địa: Luận văn kế thừa dữ liệu điều tra chuyên sâu từ Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh do Tập đoàn tư vấn BCG thực hiện, với cỡ mẫu khảo sát trực tiếp hơn 1.000 du khách nội địa và quốc tế tại 30 điểm đến trọng điểm. Đồng thời, tác giả thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên gia với hơn 100 cuộc trao đổi chuyên sâu cùng đại diện lãnh đạo Sở Du lịch, các chuyên gia kinh tế và cán bộ quản lý cấp cao tại các tập đoàn du lịch hàng đầu trên địa bàn.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và phương pháp so sánh đối chuẩn (benchmarking) kinh nghiệm thực tiễn từ TP. Đà Nẵng (về phát triển du lịch thông minh) và tỉnh Kiên Giang (về thu hút 323 dự án đầu tư với tổng vốn 355.000 tỷ đồng). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bóc tách chính xác các nguyên nhân cản trở hiệu quả thực thi chính sách và lượng hóa rõ nét sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô du lịch Quảng Ninh tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn tiền đại dịch nhưng dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Lượng khách tăng từ 9,87 triệu lượt năm 2017 lên 14 triệu lượt năm 2019 (tăng 41,8%), trong đó khách quốc tế đạt 6,75 triệu lượt. Doanh thu du lịch tăng trưởng ấn tượng từ 17.800 tỷ đồng (2017) lên 29.487 tỷ đồng (2019), đạt mức tăng 65,6%. Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, doanh thu năm 2020 sụt giảm 72,71% và lượng khách năm 2021 giảm mạnh xuống 4,38 triệu lượt.

Thứ hai, hạ tầng du lịch và cơ sở lưu trú có bước nhảy vọt về lượng và chất. Toàn tỉnh phát triển từ 1.213 cơ sở lưu trú với 24.652 buồng năm 2017 lên 2.213 cơ sở với 36.358 buồng đạt chuẩn xếp hạng vào cuối năm 2021. Sự hình thành chuỗi hạ tầng giao thông động lực như cao tốc Hải Phòng - Hạ Long (25 km), cao tốc Hạ Long - Vân Đồn (60 km), Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn và Cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai đã giải quyết căn bản nút thắt kết nối liên vùng.

Thứ ba, nguồn nhân lực ngành du lịch tăng nhanh về số lượng nhưng bộc lộ khoảng trống lớn về trình độ chuyên môn. Quy mô lao động ngành du lịch tăng từ 25.000 người năm 2010 lên 62.000 người năm 2020 (chiếm 7,8% lực lượng lao động toàn tỉnh). Tuy nhiên, trong 23.000 lao động trực tiếp, có tới khoảng 50% lao động chưa qua đào tạo hoặc chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn; tỷ lệ này ở nhóm lao động gián tiếp lên tới 60%.

Thứ tư, không gian phát triển du lịch được định hình rõ nét qua 4 phân vùng chiến lược theo Quyết định số 1418/2014/QĐ-UBND: Trung tâm Hạ Long; Móng Cái - Trà Cổ; Vân Đồn - Cô Tô; và Uông Bí - Đông Triều - Quảng Yên, bước đầu giảm tải áp lực cho vùng lõi di sản vịnh Hạ Long.

Thảo luận kết quả

Tốc độ tăng trưởng doanh thu giai đoạn 2017 - 2019 đạt bình quân trên 22%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng lượng khách, phản ánh hiệu quả tích cực của chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hạ tầng dịch vụ cao cấp (các dự án lớn của Sun Group, Vinpearl, FLC, Silk Path).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường thể hiện sự tương quan giữa biến động quy mô khách du lịch và tốc độ tăng trưởng doanh thu qua các năm 2017 - 2021. Đồng thời, bảng thống kê phân loại cơ sở lưu trú theo thứ hạng sao minh chứng cho sự chuyển dịch từ lưu trú bình dân sang phân khúc cao cấp 4 - 5 sao.

Khi so sánh với mô hình quản lý của TP. Đà Nẵng (nơi du lịch đóng góp 28,4% GRDP năm 2019) và tỉnh Kiên Giang (du lịch đóng góp 25,89% GRDP với trọng điểm Phú Quốc), mức đóng góp khoảng 10% GRDP của du lịch Quảng Ninh cho thấy dư địa khai thác giá trị gia tăng vẫn còn rất lớn. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở việc công tác xúc tiến quảng bá chưa số hóa triệt để, thiếu các ứng dụng du lịch thông minh tích hợp đa ngôn ngữ và các chuỗi sản phẩm kinh tế ban đêm chưa phong phú để kích thích mức chi tiêu của du khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và phục hồi toàn diện ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2022 - 2025, luận văn đưa ra 5 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý liên ngành: UBND tỉnh chủ trì rà soát, sửa đổi 100% các quy chế phối hợp quản lý tàu du lịch, quản lý điểm đến di sản vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long theo đúng Luật Du lịch 2017; ban hành chính sách ưu đãi tiếp cận tín dụng, giảm tiền thuê đất cho các doanh nghiệp du lịch bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh trước quý II/2023.
  2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn: Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng các trường đại học, hiệp hội doanh nghiệp triển khai Đề án chuẩn hóa kỹ năng nghề du lịch theo tiêu chuẩn quốc gia và ASEAN; mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo bài bản đạt trên 70%, tổ chức tối thiểu 15 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng đón tiếp du khách quốc tế và ngoại ngữ.
  3. Đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh: Sở Thông tin và Truyền thông kết hợp với Sở Du lịch hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa 100% hướng dẫn viên, cơ sở lưu trú và điểm đến; ra mắt ứng dụng du lịch Quảng Ninh thông minh (tích hợp bản đồ số, trợ lý ảo chatbot đa ngôn ngữ và tổng đài tiếp nhận khiếu nại phản ứng nhanh) trong giai đoạn 2022 - 2024 tương tự mô hình Đà Nẵng 1022.
  4. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù: Hiệp hội Du lịch tỉnh và các doanh nghiệp lữ hành phát triển các dòng sản phẩm chất lượng cao: du lịch MICE tại Hạ Long, nghỉ dưỡng suối khoáng nóng cao cấp Quang Hanh, du lịch sinh thái trải nghiệm tại Bình Liêu - Ba Chẽ và du lịch văn hóa tâm linh Yên Tử - Bạch Đằng, đặt mục tiêu nâng mức chi tiêu bình quân của mỗi lượt khách tăng 15% vào năm 2025.
  5. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và bảo vệ môi trường sinh thái: Thanh tra Sở Du lịch thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành định kỳ tối thiểu 2 lần/năm tại các địa bàn trọng điểm; xử lý nghiêm 100% các hành vi "chặt chém", cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát chặt chẽ tải lượng môi trường tại các vùng biển đảo nhạy cảm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản trị công và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Du lịch, Sở Văn hóa - Thể thao, UBND các thành phố, thị xã và huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng như các tỉnh ven biển khác sử dụng tài liệu làm căn cứ rà soát cơ chế phân cấp quản lý, xây dựng quy hoạch du lịch địa phương.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp du lịch, khách sạn và lữ hành: Các giám đốc điều hành, nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng tham khảo số liệu thị trường, định hướng phân vùng không gian để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới và dự báo nhu cầu khách hàng.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên, sinh viên các ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Du lịch học tại các trường đại học sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá chính sách công và phân tích thực trạng kinh tế ngành.
  • Chuyên gia tư vấn phát triển kinh tế vùng: Các tổ chức tư vấn độc lập khai thác nguồn tư liệu và bài học so sánh thực tiễn để thiết kế các dự án quy hoạch phát triển bền vững cho các trung tâm du lịch biển đảo.

Câu hỏi thường gặp

Đại dịch Covid-19 đã tác động cụ thể như thế nào đến chỉ số tăng trưởng của du lịch Quảng Ninh? Dịch bệnh đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng dịch vụ. Lượng khách đến tỉnh giảm từ đỉnh cao 14 triệu lượt năm 2019 xuống 8,8 triệu lượt năm 2020 và chạm đáy 4,38 triệu lượt năm 2021. Khách quốc tế năm 2020 giảm tới 90% so với 2019, kéo theo tổng doanh thu du lịch năm 2020 sụt giảm 72,71%, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc công tác quản trị khủng hoảng.

Đâu là nút thắt lớn nhất về chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại địa phương? Mặc dù quy mô lực lượng lao động đạt 62.000 người vào năm 2020, hạn chế lớn nhất là có tới 50% lao động trực tiếp và 60% lao động gián tiếp chưa qua đào tạo chuyên sâu hoặc chỉ đào tạo sơ cấp ngắn hạn. Điều này tạo ra khoảng cách lớn giữa hạ tầng dịch vụ đạt chuẩn 5 sao và kỹ năng phục vụ thực tế của đội ngũ nhân viên.

Mô hình phân vùng không gian du lịch Quảng Ninh được tổ chức ra sao? Theo Quy hoạch phát triển du lịch đến 2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định 1418/2014/QĐ-UBND do BCG tư vấn), không gian tỉnh chia thành 4 vùng: Vùng trung tâm Hạ Long và phụ cận; Vùng biên giới Móng Cái - Trà Cổ; Vùng biển đảo nghỉ dưỡng cao cấp Vân Đồn - Cô Tô; và Vùng văn hóa - lịch sử - tâm linh Uông Bí - Đông Triều - Quảng Yên.

Tỉnh Quảng Ninh có thể tiếp thu kinh nghiệm gì từ mô hình du lịch thông minh của TP. Đà Nẵng? Quảng Ninh cần học tập Đà Nẵng trong việc ứng dụng công nghệ số toàn diện: xây dựng ứng dụng di động chính thống cho du khách, triển khai hệ thống phản ứng nhanh thông qua tổng đài dịch vụ công để bảo vệ quyền lợi du khách 24/7, và xây dựng cơ sở dữ liệu số chuẩn hóa cho hơn 2.000 cơ sở lưu trú và đội ngũ hướng dẫn viên.

Mục tiêu phục hồi và phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2022 - 2025 là gì? Tỉnh đặt mục tiêu phục hồi nhanh chóng lượng khách đạt 9,5 triệu lượt vào năm 2022, từng bước quay trở lại mốc trên 15 triệu lượt khách trong giai đoạn đến năm 2025, đồng thời gia tăng tỷ trọng đóng góp của kinh tế du lịch vào GRDP của tỉnh vượt mức 10%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ngành kinh tế du lịch ở cấp chính quyền địa phương cấp tỉnh.
  • Bóc tách bức tranh thực trạng du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2017 - 2021 với sự đối lập giữa hạ tầng bứt phá mạnh mẽ (2.213 cơ sở lưu trú, sân bay quốc tế, hệ thống cao tốc liên hoàn) và những bất cập về chất lượng nguồn nhân lực (50% chưa qua đào tạo chính quy).
  • Làm rõ tác động tiêu cực của dịch Covid-19 và phân tích bài học so sánh thực tiễn sâu sắc từ hai trung tâm du lịch hàng đầu là TP. Đà Nẵng và tỉnh Kiên Giang.
  • Đề xuất khung 5 giải pháp hành động chiến lược có tính khả thi cao cho giai đoạn 2022 - 2025, tập trung vào hoàn thiện thể chế, số hóa dịch vụ công và liên kết vùng.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực, cung cấp góc nhìn khoa học chuẩn xác giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp cùng chung tay đưa Quảng Ninh bứt phá thành trung tâm du lịch đẳng cấp quốc tế. Hãy áp dụng ngay các định hướng nghiên cứu này vào thực tiễn quản lý địa phương!