CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1. DL và vai trò của DL 1. Khái niệm DL Một trong những hoạt động phổ biến và không thể thiếu của con người trong thời đại hiện nay đó là hoạt động DL.
Trên sách báo và những phương tiện thông tin đại chúng cũng sử dụng rộng rãi khái niệm du lịch. Trả qua các thời kỳ phát triển khác nhau thì mang những đặc trung khác nhau và khái niệm về du lịch cũng được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Khái niệm DL có thể được được định nghĩa theo quan niệm sản phẩm - dịch vụ DL hoặc theo hoạt động DL. Theo Tổ chức DL thế giới - World Tourism Organization (2007): “DL bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khán phá và tìm hiểu, trải nghiện hoặc với mục đích nghỉ ngơi , giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”.
Ở Việt Nam, Luật DL năm 2017 tại Điều 3 định nghĩa: “DL là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khán phá tài nguyên DL hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Dưới góc độ du khách thay đổi hay dịch chuyển không gian cư trú tạm thời để hưởng thụ là những yếu tố mà đa số quan điểm trên nhìn nhận về du lịch mà chưa gắn du lịch với hoạt động kinh tế. Khác với các quan niệm trên, tại Hội nghị Liên hợp quốc về DL họp tại Rome, các chuyên gia quốc tế đưa ra quan niệm: “DL là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi đến lúc trở về nhà và hồi tưởng”. Như vậy, DL là tổng hợp các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành 7 trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Từ những quan niệm khác nhau về DL, có thể thấy DL được hiểu theo hai nghĩa cơ bản như sau: “Thứ nhất, DL là nói đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, thỏa mãn các nhu cầu giải trí. Thứ hai, DL là tổng hợp các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú”. Trong phạm vi của luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm về DL như sau: “DL là tổng hợp các hoạt động tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụ cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn, tìm kiếm việc làm, thực hiện thăm viếng thường xuyên, thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người”. Đặc điểm của DL Từ những khái niệm về DL vừa đưa ra, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu về DL như sau: Thứ nhất, DL mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ.
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học-kỹ thuật, công nghệ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân hoá lao động trong xã hội Với trình độ phát triển tiên tiến và nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật ngày nay, quá trình phân công lao động xã hội đã được thúc đẩy mạnh mẽ, du lịch đã trở thành một lĩnh vực kinh tế độc lập và nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của con người. Tại các nước phát triển và các nước đang phát triển, tỷ trọng du lịch đang ngày càng tăng lên trong thu nhập quốc dân. DL là một ngành kinh tế dịch vụ 8 nên các sản phẩm của nó vừa mang những đặc tính chung của ngành dịch vụ vừa mang những đặc tính riêng mà chỉ ngành này mới có. Thứ hai, để thoả mãn các nhu cầu về tinh thần cũng như vật chất khi du khách đi du lịch thì loại hình dịch vụ du lịch đã ra đời.
Dịch vụ du lịch thường chỉ thoả mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thoả mãn nhu cầu cho tất cả người dân do đó đây là điểm khác biệt giữa dịch vụ du lịch đối với các ngành dịch vụ khác. “Dịch vụ DL là nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của khách DL như ăn ở, nghỉ ngơi, đi lại, vui chơi giải trí, tham quan, thông tin về văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ” - (Lê Thu Hương, 2011). Khi thu nhập tăng và người dân đủ khả năng chi trả cho các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của mình thì một điều tất yếu để thoả mãn cả những nhu cầu về tình cảm và lý trí đó là du lịch và đây được coi như một hình thức nghỉ dưỡng để có thể tái tạo sức lao động của con người ở một vài quốc gia trên thế giới. Thứ ba, thời gian và không gian của việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ DL là giống nhau.
Việc sử dụng các dịch vụ và một số mặt hàng (như đồ ăn, thức uống) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm. “Trong DL, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại đó là tự du khách phải đi đến nơi có hàng hóa, dịch vụ “- (Bùi Thị Hải Yến, 2009). Do đó hết sức quan trọng trong việc quảng bá, xúc tiến thông tin cũng như quản lý thị trường DL. Thứ tư, đối với kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia thì du lịch mang lại lợi ích thiết thực .“Tuy nhiên, sự chi phối mạnh mẽ nhất đối với ngành DL vẫn là lợi ích về kinh tế” - (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2004).
Ngành DL đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân đe, lại nguồn thu lớn trong tổng sản phẩm xã hội ở một số quốc gia. Như vậy, ngoài việc thoả mãn những nhu cầu của du khách thì dịch vụ du lịch còn cần đảm bảo đem lại các lợi ích cho quốc gia cũng như các cá nhân, tổ chức về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. 9 Thứ năm, DL chỉ có thể phát triển khi ở trong một môi trường ổn định và hoà bình. Đây là một lĩnh vực khá nhạy cảm liên quan tới chính trị xã hội dù nó mang lại cho đất nước nhiều lợi ích về tất cả các mặt.
“Hòa bình ổn định là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động DL, ngược lại, DL có tác dụng trở lại tới việc tồn tại hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia”- (Hoàng Thị Lan Hương 2011). Con người có thể thể hiện khát vọng của mình thông qua D quốc tế, những khát vọng về quyền được sống, được học tập và lao động trong một môi trường hữu nghị và hoà bình. DL cũng có thể bị giảm sút ngay lập tức khi gặp sự biến động về chính trị-xã hội ở một vài vùng, khu vực hay quốc gia và sẽ tốn rất nhiều thời gian nếu muốn khôi phục lại trạng thái ban đầu. Vai trò của phát triển DL Đối với du khách, đối với doanh nghiệp, đối với người dân địa phương hay đối với nền kinh tế thì DL đóng những vai trò khác nhau.
DL có những vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của địa phương, của quốc gia như sau: Thứ nhất, DL giúp phát tăng trưởng kinh tế một cách bền vững và giúp kinh tế phát triển. DL có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ, từ đó, đóng góp tích cực cho ngân sách Nhà nước và địa phương có tuyến, điểm DL (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2004). DL được phát triển dựa trên các tài nguyên DL, môi trường, khí hậu, các giá trị văn hoá của người dân địa phương, do đó, các sản phẩm DL được tiêu thụ tại nơi sản xuất, do đó, DL thúc đẩy khả năng sản xuất của địa phương để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách DL. Từ đó, DL sẽ tạo ra thu nhập qua hệ thống cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Cùng với đó, DL phát triển sẽ góp phần thu hút đầu tư trong nước và quốc tế tại địa phương, từ đó, làm tăng tổng cầu và tăng trưởng kinh tế bền vững. Có thể thấy, DL phát triển không chỉ đem lại nguồn thu cho ngành DL mà còn thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế. Ngoài ra, sự phát triển DL cũng gắn với sự nâng cấp, đồng bộ hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, tạo động lực thúc đẩy kinh tế của địa phương, quốc gia. Tại Việt Nam, năm 2019, GDP của cả nước là 261,9 tỷ USD, trong đó, ngành DL chiếm 32,8 tỷ USD, tương ứng với tỷ trọng 12,5%.
10 Thứ hai, DL góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. DL liên quan tới nhièu ngành nghề lĩnh vực trong cuộc sống, được xem như là một hoạt động phức tạp và tác động lẫn nhau. Như vậy cơ cấu kinh tế sẽ có sự chuyển dịch khi mà hoạt động du lịch phát triển. “DL phát triển sẽ góp phần gia tăng giá trị dịch vụ, đồng thời tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, quốc gia theo hướng tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP sẽ giảm dần và tỷ trọng khu vực dịch vụ sẽ tăng lên”- (Bùi Thị Hải Yến, 2009).
Theo kết quả điều tra kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2015, , khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 23,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,21%; khu vực dịch vụ chiếm 33,17%.