Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62310640) với đề tài "Festival du lịch Hà Nội" do nghiên cứu sinh Ngô Ánh Hồng thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Cương, bảo vệ năm 2017.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định festival là loại hình lễ hội đương đại xuất hiện tại phương Tây và bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX dưới các tên gọi như lễ hội du lịch, liên hoan du lịch hay lễ hội văn hóa du lịch. Xuất phát từ vị thế thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và tiềm năng tài nguyên du lịch, năm 1999, Festival du lịch Hà Nội chính thức ra đời nhằm xúc tiến du lịch và giao lưu văn hóa. Tuy nhiên, qua 5 kỳ tổ chức (từ năm 1999 đến năm 2010), sự kiện này chưa xây dựng được thương hiệu điểm đến riêng biệt cho thủ đô và chưa nhận được sự quan tâm của người dân địa phương. Trong khi các nghiên cứu trước đó mới chỉ dừng lại ở một vài bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp dưới góc độ quản lý du lịch, luận án này lựa chọn tiếp cận Festival du lịch Hà Nội dưới góc nhìn văn hóa học như một hiện tượng văn hóa đương đại để làm rõ điều kiện tồn tại, cấu trúc, đặc điểm và sự hòa nhập của sự kiện vào đời sống văn hóa đô thị.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cấu trúc, đặc điểm, tác động của Festival du lịch Hà Nội trong sự đối sánh với một số festival tương đồng, từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại làm cơ sở đề xuất khuyến nghị nhằm phát triển Festival du lịch Hà Nội trong tương lai. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về Festival du lịch Hà Nội.
- Làm rõ cấu trúc, đặc điểm, tác động của Festival du lịch Hà Nội qua việc khái quát các kỳ tổ chức Festival du lịch Hà Nội.
- So sánh Festival du lịch Hà Nội với một số festival khác, tìm ra vấn đề còn tồn tại và đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển Festival du lịch Hà Nội.
- Xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn mới để hoàn thiện hơn nữa chất lượng của Festival du lịch Hà Nội.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 3 câu hỏi chính:
- Vì sao sau 5 kỳ tổ chức, Festival du lịch Hà Nội chưa xây dựng được thương hiệu điểm đến và chưa nhận được sự quan tâm của người dân?
- Cấu trúc, đặc điểm của Festival du lịch Hà Nội là gì? Cấu trúc đó có phù hợp với quy mô của một lễ hội du lịch mang tầm cỡ quốc tế không?
- Festival du lịch Hà Nội có điểm gì giống và khác các festival khác? Liệu nó có đi vào đời sống văn hóa và trở thành festival thường niên của Hà Nội không?
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: diễn biến các kỳ Festival du lịch Hà Nội; cấu trúc, đặc điểm của Festival du lịch Hà Nội; tác động của Festival du lịch Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Không gian: Không gian tổ chức festival du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Thời gian: 5 kỳ tổ chức Festival du lịch Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2010.
- Nội dung: Luận án triển khai từ cách tiếp cận văn hóa học, tập trung vào cấu trúc chương trình và đặc điểm của festival du lịch làm cơ sở so sánh với các festival khác. Văn bản nêu rõ không đi sâu vào khía cạnh tài chính, kinh phí vì đây là dữ liệu báo cáo nội bộ của ban tổ chức, khó tiếp cận đầy đủ để đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản luận án được chia tách thành hai khối tài liệu quốc tế và trong nước:
Khối nghiên cứu quốc tế được tác giả phân loại theo 3 nhóm chủ đề:
- Nhóm nghiên cứu về xây dựng hình ảnh điểm đến và thu hút du lịch: Burns et al. (1986) trong công trình The Adelaide Grand Prix: The impact of a particular event xem xét vai trò của các sự kiện đặc biệt tại trung tâm đô thị nhằm định vị thương hiệu và thu hút đầu tư; Schuster (2001) trong cuốn Ephemera, temporary urbanism and imaging lập luận việc tổ chức lễ hội mang lại lợi ích cho đô thị thông qua việc xây dựng hình ảnh điểm đến; Richard Prentice (2003) với bài viết Festival as creative destination phân tích trường hợp Festival Edinburgh (Scotland) định vị 3 giá trị điểm đến gồm du lịch văn hóa di tích, biểu diễn nghệ thuật của Scotland và sân chơi quốc tế cho các đoàn nghệ thuật; Bernadette Quinn (2006) trong nghiên cứu Festival tourism: Arts festivals and sustainable development in Ireland nhìn nhận lễ hội du lịch là sản phẩm hàng hóa đóng vai trò xúc tác phát triển kinh tế - xã hội.
- Nhóm nghiên cứu vai trò, tác động của festival và festival du lịch: Boissevain (1992) trong Revitalizing European Rituals phân tích sự thay đổi trong các lễ hội công cộng tại châu Âu thập niên 1990; Bassett (1993) với Urban cultural strategies and urban regeneration chỉ ra các lễ hội tại Bayreuth và Salzburg đóng góp vào việc tái khẳng định giá trị văn minh và nhận thức văn hóa đô thị; Matheson (2005) trong Festivity and sociability: a study of a Celtic music festival phân tích vai trò của lễ hội đối với việc tái sản xuất điểm đến du lịch; Kevin Fox Gotham (2005) trong cuốn Theorizing urban spectacles: Festivals, tourism and the transformation of urban space city khảo sát các lễ hội ở New Orleans để giải quyết mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn không gian đô thị; Bernadette Quinn (2005) với bài viết Arts Festivals and the City: Urban Studies ghi nhận sự gia tăng của các lễ hội nghệ thuật tại châu Âu do chuyển dịch kinh tế sang dịch vụ; Lise Lyck, Phil Long, Allan Xenius Grige (2012) với cuốn sách Tourism, Festival and Cultural Event in Times of Crisis khẳng định vai trò của sự kiện văn hóa trong việc vượt qua khủng hoảng kinh tế.
- Nhóm nghiên cứu về quản lý và tổ chức festival: Ritchie và Beliveau (1974) nghiên cứu về "sự kiện tiêu chuẩn" trên Tạp chí Nghiên cứu Du lịch; Center for Cultural Innovation (2003) xuất bản cuốn Festival Handbook hướng dẫn kỹ năng tổ chức lễ hội đương đại; Getz (2005) với bài viết Event Management and Event Tourism và Getz (2008) với Event tourism: Definition, evolution and research làm rõ góc độ lịch sử và bản thể luận của du lịch sự kiện; KultúrPont Iroda, Kazinczy utca (2006) công bố báo cáo khảo sát quốc gia về lễ hội tại Hungary; Bernadette Quinn (2009) xuất bản cuốn Handbook of Tourism Studies, London; tài liệu Inspiration 2011 của Đại học St Paul (Manitoba, Canada) nghiên cứu vai trò của tình nguyện viên trong lễ hội du lịch; Lianping Ren Yue Hi (2011) công bố kết quả khảo sát Festival du lịch thuyền rồng Trung Quốc tại hội thảo ở Monaco.
Khối nghiên cứu trong nước được phân tích theo 2 nhóm:
- Nhóm nghiên cứu về lễ hội đương đại: Mai Linh (2003) trên Tạp chí Du lịch Việt Nam phản ánh kinh nghiệm tổ chức lễ hội đường phố và sự kiện du lịch; Nguyễn Quang Lân (2004) nhấn mạnh vai trò sự kiện trong thu hút khách; Dương Văn Sáu (2004) xuất bản giáo trình Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch; Thảo Chi (2010) mô tả Lễ hội làng Sen; Thu Thảo (2010) phân tích Lễ hội du lịch Hạ Long trên phương diện quảng bá hình ảnh; Nhà xuất bản Giao thông vận tải (2010) biên soạn tuyển tập Lễ hội đặc sắc thế giới.
- Nhóm nghiên cứu về festival và festival du lịch: Đinh Trung Kiên (2000) đánh giá bước mở đầu của Festival du lịch Hà Nội 1999; Bửu Nam (2006) phân tích thành tựu Festival Huế và mô tả cấu trúc gồm chương trình IN (nghệ thuật chuyên nghiệp, bán vé), chương trình OFF (văn hóa cộng đồng, miễn phí) và các chương trình hưởng ứng; Đinh Thục Phương (2009) giới thiệu Festival cồng chiêng quốc tế tại Gia Lai; Trung tâm A&C (2009) công bố báo cáo đánh giá chuyên sâu về Festival Huế; Bùi Quang Thắng (2012) phân tích các festival nghệ thuật quốc tế như Avignon, Salzburg, Edinburgh, Adelaide.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về festival nghệ thuật hoặc tiếp cận festival dưới góc độ quản trị du lịch, nhưng cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp và toàn diện Festival du lịch Hà Nội dưới góc nhìn văn hóa học để phân tích cấu trúc chương trình, điều kiện tồn tại và khả năng thích ứng của sự kiện trong đời sống văn hóa của cư dân đô thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation theory) làm khung lý thuyết nền tảng. Tác giả điểm lại lịch sử thuật ngữ từ văn bản Sumer cổ đại (năm 2370 TCN), qua các nghiên cứu của J.W. Powell (1883), W.I. Thomas và Florian Znaniecki (1918), đến định nghĩa của R. Redfield, R. Linton và M. Herskovits (1936) về sự tiếp xúc liên tục giữa các nhóm văn hóa khác nhau dẫn đến biến đổi mô hình văn hóa gốc. Luận án xác định Festival du lịch Hà Nội là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa hòa bình, tự nguyện, tiếp nhận có chọn lọc để biến đổi cho phù hợp với vị thế thủ đô. Quá trình này được phân tích qua mối quan hệ tương tác giữa hai nhóm yếu tố:
- Yếu tố ngoại sinh: Bao gồm mô hình tổ chức, công nghệ tổ chức sự kiện hiện đại của phương Tây, cấu trúc chương trình festival quốc tế và sắc màu văn hóa nghệ thuật của các quốc gia tham gia.
- Yếu tố nội sinh: Bao gồm đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam và Hà Nội, đặc biệt là bản sắc văn hóa truyền thống Thăng Long và tiềm năng tài nguyên du lịch thủ đô.
Bên cạnh lý thuyết tiếp biến văn hóa, luận án vận dụng lý thuyết Cấu trúc văn hóa của Jean Ladrière (gồm 4 hệ thống: ý niệm, chuẩn mực giá trị, biểu hiệu, hành động) và quan điểm nghiên cứu cấu trúc lễ hội đương đại của Đoàn Minh Châu (tiếp cận trên hai trục kinh nghiệm luận và duy lý - cấu trúc luận; phân tích qua cấu trúc không gian, thời gian, văn hóa, tâm lý).
Về khái niệm công cụ, luận án định nghĩa festival du lịch là loại hình văn hóa nghệ thuật tổng hợp gồm chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch kết hợp giữa công nghệ sự kiện hiện đại với việc khai thác văn hóa bản địa, do cơ quan nhà nước phối hợp với doanh nghiệp du lịch tổ chức nhằm xúc tiến sản phẩm, thu hút du khách và định vị hình ảnh điểm đến.
Văn bản luận án phân tích rõ thành phần chủ thể và khách thể của sự kiện:
- Chủ thể tổ chức: Khác với lễ hội truyền thống do cộng đồng làng xã tự quản, chủ thể tổ chức Festival du lịch Hà Nội là cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội dưới sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Bộ máy tổ chức vận hành theo cấu trúc hành chính hóa, gồm Trưởng ban, các Phó ban, ủy viên kiêm nhiệm từ các sở ngành và 4 tiểu ban chuyên môn (Tiểu ban nội dung; Tiểu ban nghệ thuật; Tiểu ban lễ tân, an ninh; Tiểu ban truyền thông, tài trợ và hậu cần) cùng một Tổ công tác thường trực.
- Khách thể: Gồm khách mời trong nước (đại diện lãnh đạo chính phủ, bộ ngành, hiệp hội), khách mời quốc tế (đại diện cơ quan quản lý du lịch các nước, các tổ chức ANMC21, CPTA, UNWTO, PATA) và du khách (khách quốc tế và nội địa). Văn bản chỉ rõ hạn chế là người dân địa phương chưa được xác định đúng vai trò, không được tham gia như một đồng chủ thể sáng tạo mà bị đặt ra ngoài lề, dẫn đến tâm lý thờ ơ đối với sự kiện.
Luận án sử dụng kết hợp 6 phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp quan sát, tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia quá trình tổ chức các kỳ festival, trọng tâm là Festival du lịch quốc tế Thăng Long Hà Nội 2010 để khảo tả chân thực hoạt động thực tế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn đại diện ban tổ chức thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cán bộ triển khai và đại diện các đơn vị tham gia.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng lại mẫu phiếu điều tra của Ban tổ chức Festival 2010 (khảo sát 100 đơn vị tham gia và 100 du khách), xử lý dữ liệu định lượng trên phần mềm SPSS.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Khai thác văn bản quản lý, báo cáo tổng kết các kỳ festival, báo cáo hàng năm của Sở Du lịch / Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sách báo chuyên ngành và tư liệu truyền thông.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu cấu trúc, phương thức tổ chức của Festival du lịch Hà Nội với Festival Huế, Festival du lịch quốc tế Bắc Kinh và một số festival quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phối hợp góc nhìn văn hóa học với xã hội học, du lịch học và kinh tế học.
Nguồn tư liệu, dữ liệu chính bao gồm các văn bản quy phạm (Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT, Nghị định số 11/2006/NĐ-CP, Quyết định số 171 của Thủ tướng Chính phủ), số liệu thống kê du lịch Hà Nội giai đoạn 1997-2001 và 2001-2005, cùng hồ sơ điều tra xã hội học tại kỳ festival năm 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về festival du lịch và tổng quan về Festival du lịch Hà Nội
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, lược sử phát triển của festival trên thế giới, quá trình du nhập vào Việt Nam và đánh giá nguồn lực thực tiễn của thủ đô Hà Nội.
Về lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về festival từ từ nguyên Latinh (festivus, festa), qua các bộ từ điển chuyên ngành đến quan niệm của Janiskee (1996), Humaira Irshad (2011), Yeoman et al. (2004). Luận án phân loại festival theo 3 tiêu chí:
- Theo tính chất: Festival tổng hợp (sự kiện lớn bao trùm nhiều sự kiện nhỏ theo chủ đề xuyên suốt như Festival Huế, Avignon) và festival chuyên đề (đi sâu vào một lĩnh vực như múa rối, jazz, phim, võ thuật).
- Theo quy mô: Festival quốc tế, festival quốc gia và festival địa phương.
- Theo loại hình: Festival gắn với tín ngưỡng, tôn giáo; festival văn hóa nghệ thuật; festival ẩm thực, đồ uống, xúc tiến thương mại; festival gắn với sự kiện văn hóa; festival thể thao; festival du lịch.
Lược sử festival thế giới ghi nhận các dấu mốc: Festival Salzburg (Áo, 1920); Festival Avignon (Pháp, 1947); Festival Edinburgh (Scotland, 1947); Festival Adelaide (Úc, 1958/1960); Festival Burning Man (Mỹ, 1986); Festival Vancouver (Canada, 1990); Festival Ohara Matsuri (Nhật Bản, 1949); Festival MassKara (Philippines, 1980); Festival tắm bùn Boryeong (Hàn Quốc, 1998); Festival du lịch quốc tế Thượng Hải (1989) và Bắc Kinh (1998). Tại Việt Nam, festival bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1990 với Festival Huế (1992/2000), sau đó lan tỏa ra các địa phương như Hà Nội (1999), Nha Trang (2003), Quảng Nam (2003), Đà Lạt (2005), Buôn Ma Thuột (2005), Hạ Long (2007), Đà Nẵng (2008), Vũng Tàu (2009).
Về tài nguyên du lịch Hà Nội, văn bản cung cấp các số liệu thực địa: Sau khi mở rộng địa giới năm 2008, Hà Nội có diện tích 3.328,9 km², dân số hơn 6,5 triệu người, gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện. Thành phố sở hữu 5.850 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 1 di sản thế giới (Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long), 11 di tích quốc gia đặc biệt (gồm Cổ Loa, Hoàng Thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Đền Phù Đổng, Đền Hai Bà Trưng, Đền Hát Môn, Đình Tây Đằng, Đền Ngọc Sơn và Khu vực Hồ Gươm, Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Chùa Kim Liên, Chùa Đậu, Di tích 48 Hàng Ngang), 1.167 di tích quốc gia và 1.179 di tích cấp thành phố. Về di sản phi vật thể, Hà Nội có 1.793 di sản thuộc nhiều loại hình, bao gồm 1.206 lễ hội truyền thống, tiêu biểu là Hội Gióng, Ca trù và hệ thống bia tiến sĩ Văn Miếu. Địa bàn có 1.350 làng nghề, trong đó có 244 làng nghề tập trung và 198 làng nghề truyền thống được công nhận (phân bố nhiều tại Chương Mỹ 174 làng, Thường Tín 125 làng, Phú Xuyên 124 làng, Ứng Hòa 113 làng, Thanh Oai 101 làng, Ba Vì 91 làng).
Luận án tổng kết 5 loại hình sản phẩm du lịch thế mạnh của Hà Nội: Du lịch văn hóa - lịch sử - bảo tàng; du lịch làng nghề - ẩm thực; du lịch MICE (hệ thống phòng họp đạt sức chứa trên 14.000 chỗ); du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng cuối tuần; du lịch chữa bệnh - phục hồi sức khỏe.
Về bối cảnh thực tiễn hình thành sự kiện, văn bản chỉ rõ sự thành lập của Sở Du lịch Hà Nội (tháng 6/1994, hoạt động từ 1/10/1994, sáp nhập vào Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tháng 8/2008 và tách ra độc lập tháng 12/2015). Ý tưởng tổ chức Festival du lịch Hà Nội năm 1999 xuất phát từ quá trình lãnh đạo ngành du lịch tham dự Liên hoan du lịch quốc tế Thượng Hải, Bắc Kinh (1997, 1998) và chiến dịch kích cầu Amazing Thái Lan.
Bảng số liệu khách du lịch đến Hà Nội giai đoạn 1997–2001 được luận án trích xuất từ báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội:
| Năm |
Tổng lượt khách (lượt) |
Khách quốc tế (lượt) |
| 1997 |
1.200.000 |
351.900 |
| 1998 |
Chưa nêu tổng số |
391.000 |
| 1999 |
Chưa nêu tổng số |
380.000 |
| 2000 |
Chưa nêu tổng số |
500.400 |
| 2001 |
3.000.000 |
Chưa nêu số liệu cụ thể |
Chương 2: Cấu trúc, đặc điểm và tác động của Festival du lịch Hà Nội
Chương 2 đi sâu phân tích mô hình tổ chức, phân rã các thành tố chương trình và đánh giá hiệu quả tác động của sự kiện qua 5 kỳ triển khai.
Cấu trúc chương trình của Festival du lịch Hà Nội được xác định gồm 2 thành tố chính gắn kết chặt chẽ:
- Thành tố Văn hóa nghệ thuật: Gồm 6 tiểu thành tố cấu thành:
- Nghi lễ: Nghi thức ngoại giao tại lễ khai mạc và lễ bế mạc thông qua các phát biểu chính thức của đại diện chính quyền.
- Trình diễn nghệ thuật chuyên nghiệp: Các buổi biểu diễn nghệ thuật diễn ra liên tục qua các ngày.
- Lễ hội đặc sắc: Các hoạt động diễu hành đường phố pha trộn phong cách nghệ thuật phương Đông và phương Tây.
- Ẩm thực, thao diễn làng nghề và trò chơi dân gian: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm thủ công truyền thống và đặc sản ẩm thực.
- Hội thi, hội diễn, chương trình nghệ thuật cộng đồng: Các hoạt động giao lưu văn nghệ quần chúng.
- Trình diễn văn hóa bản địa: Không gian tái hiện nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của thủ đô Thăng Long - Hà Nội.
- Thành tố Du lịch thương mại: Gồm 3 tiểu thành tố:
- Hội chợ triển lãm du lịch trong nước và quốc tế: Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của các hãng lữ hành, khách sạn.
- Hội thảo quốc tế về xúc tiến du lịch: Tọa đàm khoa học và bàn thảo cơ hội hợp tác phát triển tour tuyến.
- Tour khám phá điểm đến: Tổ chức các chương trình tham quan thực tế dành cho đại biểu, doanh nghiệp và du khách.
Về đặc điểm, luận án chỉ ra 4 nét đặc thù của Festival du lịch Hà Nội:
- Tính hành chính hóa cao: Công tác tổ chức dựa trên bộ máy hành chính nhà nước kiêm nhiệm, ra quyết định thông qua các kỳ họp rồi trình cấp có thẩm quyền, thiếu tính linh hoạt của thị trường và chưa phát huy vai trò của các công ty sự kiện độc lập hay giới nghệ sĩ.
- Sự phụ thuộc vào ngân sách công: Kinh phí chủ yếu lấy từ nguồn ngân sách nhà nước, tỷ lệ huy động vốn xã hội hóa đạt hiệu quả thấp.
- Sự tham gia mờ nhạt của người dân: Người dân đô thị chủ yếu là khán giả thụ động; các chương trình tập trung khoe bản sắc văn hóa truyền thống phục vụ khách ngoại giao và du khách mà ít chú ý đến nhu cầu thưởng thức nghệ thuật đương đại quốc tế của cư dân.
- Tính gián đoạn về thời gian: Không duy trì được chu kỳ tổ chức đều đặn thường niên mà ngắt quãng qua các năm, thường gắn ghép vào các dịp kỷ niệm chính trị lớn như Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010.
Về tác động, luận án phân tích trên các phương diện kinh tế, văn hóa và xã hội:
- Tác động kinh tế: Sự kiện góp phần gia tăng cục bộ lượng khách du lịch và doanh thu ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống trong thời gian diễn ra; thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề truyền thống.
- Tác động quảng bá hình ảnh: Tăng cường mức độ nhận diện thủ đô gắn với danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" và truyền thống văn hiến, hỗ trợ duy trì mạng lưới hợp tác đối ngoại với ANMC21, CPTA, PATA và UNWTO.
- Hạn chế xã hội: Chưa tạo ra được nếp sinh hoạt văn hóa định kỳ cho cộng đồng dân cư, chưa chuyển hóa thành thương hiệu du lịch có sức cạnh tranh cao.
Chương 3: So sánh Festival du lịch Hà Nội với một số festival khác và những vấn đề đặt ra
Chương này thực hiện đối sánh đa diện giữa Festival du lịch Hà Nội với các mô hình festival tiêu biểu trong nước và quốc tế:
- So sánh với Festival Huế: Festival Huế áp dụng mô hình tổ chức IN (chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, chất lượng cao, có bán vé) và OFF (hoạt động văn hóa cộng đồng, miễn phí) học tập từ Festival Avignon (Pháp). Cấu trúc này kết hợp hài hòa giữa tính hàn lâm quốc tế và tính đại chúng, huy động toàn bộ không gian đô thị cố đô và biến người dân thành chủ thể tham gia, tạo dựng thương hiệu thành phố festival vững chắc. Ngược lại, Festival du lịch Hà Nội mang nặng tính hành chính, không gian tổ chức khép kín, tính cộng đồng mờ nhạt.
- So sánh với Festival du lịch quốc tế Bắc Kinh và Thượng Hải: Mô hình của Trung Quốc do nhà nước bảo trợ nhưng có sự tham gia sâu rộng của các tập đoàn lữ hành, kết hợp chặt chẽ giữa trình diễn văn hóa đỉnh cao và hội chợ du lịch thương mại quy mô lớn, thu hút từ 8 đến 9 triệu lượt người tham dự mỗi kỳ. Festival du lịch Hà Nội tiếp thu cấu trúc này nhưng quy mô xúc tiến thương mại còn hạn chế và tính chuyên nghiệp trong khâu tổ chức chưa đồng bộ.
Từ kết quả so sánh, tác giả nêu ra 4 vấn đề còn tồn tại:
- Vấn đề mô hình quản lý: Cơ chế hành chính kiêm nhiệm kìm hãm tính sáng tạo và năng lực thích ứng với cơ chế thị trường.
- Vấn đề định vị thương hiệu: Thiếu một chủ đề xuyên suốt mang tính nhận diện độc quyền, chưa định vị được Hà Nội là điểm đến lễ hội hấp dẫn.
- Vấn đề chủ thể văn hóa: Thiếu cơ chế khuyến khích nghệ nhân, doanh nghiệp và người dân tham gia với tư cách đồng chủ thể sáng tạo.
- Vấn đề tính chu kỳ: Chưa xây dựng được lịch trình cố định thường niên để các doanh nghiệp du lịch chủ động tích hợp vào các tour lữ hành quốc tế dài hạn.
Để khắc phục, luận án đề xuất hệ thống kiến nghị: Chuyển đổi mô hình tổ chức từ quản lý hành chính sang chuyên nghiệp hóa sự kiện; đa dạng hóa nguồn vốn qua tài trợ xã hội hóa; tái cấu trúc chương trình cân đối giữa phần nghi lễ trang trọng và các không gian mở đường phố; xây dựng chiến lược truyền thông dài hạn để đưa festival trở thành sự kiện thường niên định kỳ của thủ đô.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án tổng hợp, hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về festival du lịch dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học.
- Vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa để xác lập khung phân tích sự tác động qua lại giữa các yếu tố ngoại sinh (công nghệ tổ chức, mô hình sự kiện, sắc màu nghệ thuật quốc tế) và yếu tố nội sinh (bối cảnh kinh tế - chính trị, bản sắc di sản Thăng Long, tiềm năng du lịch địa phương) trong quá trình hình thành lễ hội đương đại đô thị tại Việt Nam.
- Xác định và làm rõ cấu trúc chương trình đặc thù của festival du lịch gồm 2 thành tố chính: thành tố văn hóa nghệ thuật và thành tố du lịch thương mại.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo tả và phân tích diễn biến thực tế qua 5 kỳ tổ chức Festival du lịch Hà Nội (1999–2010), chỉ ra những hạn chế cố hữu trong mô hình tổ chức hành chính hóa, sự thiếu vắng vai trò chủ thể của người dân và nguyên nhân sự kiện chưa định hình được thương hiệu thường niên.
- Đưa ra những cứ liệu so sánh thực nghiệm giữa Festival du lịch Hà Nội với Festival Huế và các festival quốc tế (Avignon, Bắc Kinh), làm rõ các bài học kinh nghiệm về việc cân bằng giữa tính chuyên nghiệp, tính thương mại và tính cộng đồng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị thực tế làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến du lịch thủ đô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án xác nhận chưa tiếp cận và phân tích được khía cạnh tài chính, kinh phí chi tiết của các kỳ festival do đây là dữ liệu bảo mật nội bộ của ban tổ chức, dẫn đến việc thiếu cơ sở định lượng để đánh giá hiệu quả thu chi và năng lực cân đối ngân sách. Về phạm vi thời gian, công trình mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu 5 kỳ tổ chức trong giai đoạn 1999–2010, trọng tâm dữ liệu điều tra thực nghiệm đặt tại kỳ tổ chức năm 2010.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở sự cần thiết của việc tiếp tục theo dõi diễn biến thực tế của Festival du lịch Hà Nội ở các giai đoạn sau; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kinh tế sự kiện và bài toán xã hội hóa tài chính; đồng thời mở rộng phạm vi điều tra xã hội học đối với cộng đồng dân cư đô thị nhằm xác định mức độ gắn kết của người dân với các sự kiện văn hóa mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Du lịch học: Cung cấp khung lý thuyết về tiếp biến văn hóa, cấu trúc lễ hội đương đại và phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu sự kiện văn hóa đô thị.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách tại Sở Du lịch Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Tổng cục Du lịch: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để đánh giá mô hình tổ chức sự kiện, nhận diện bất cập của bộ máy hành chính hóa và xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch lễ hội bền vững.
- Phần đáng tham khảo nhất của luận án là phân tích cấu trúc chương trình 2 thành tố (văn hóa nghệ thuật và du lịch thương mại) tại Chương 2 cùng nội dung đối sánh mô hình tổ chức giữa Hà Nội, Huế và Bắc Kinh tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân loại cấu trúc chương trình của festival du lịch gồm những thành tố cơ bản nào?
Luận án xác định cấu trúc chương trình của festival du lịch bao gồm 2 thành tố chính: Thành tố văn hóa nghệ thuật (gồm 6 tiểu thành tố: nghi lễ; biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; lễ hội đặc sắc/đường phố; liên hoan ẩm thực - thao diễn làng nghề - trò chơi dân gian; hội thi/nghệ thuật cộng đồng; trình diễn văn hóa bản địa) và Thành tố du lịch thương mại (gồm 3 tiểu thành tố: hội chợ triển lãm du lịch; hội thảo quốc tế xúc tiến du lịch; tour khám phá điểm đến).
2. Vì sao sau 5 kỳ tổ chức, Festival du lịch Hà Nội vẫn chưa tạo dựng được thương hiệu điểm đến vững chắc?
Theo luận án, nguyên nhân chủ yếu là do công tác tổ chức dựa trên mô hình hành chính hóa kiêm nhiệm, kinh phí phụ thuộc ngân sách nhà nước, các hoạt động nặng về phô diễn văn hóa truyền thống phục vụ ngoại giao mà chưa đáp ứng thị hiếu của người dân; thời gian tổ chức gián đoạn, ngắt quãng qua các năm và thiếu một chiến lược tiếp thị - thương hiệu chuyên nghiệp dài hạn.
3. Cơ sở thực tiễn nào dẫn tới sự ra đời của Festival du lịch Hà Nội vào năm 1999?
Sự kiện ra đời dựa trên 4 cơ sở thực tiễn: (1) Bối cảnh đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam; (2) Tiềm năng di sản văn hóa, danh thắng và hệ thống làng nghề của Hà Nội; (3) Sự thành lập và hoạt động đối ngoại tích cực của Sở Du lịch Hà Nội (từ năm 1994) sau khi tham quan các mô hình liên hoan du lịch tại Thượng Hải, Bắc Kinh và Thái Lan; (4) Tốc độ tăng trưởng ổn định của dòng khách du lịch đến thủ đô giai đoạn 1997–2001.
4. Khác biệt cốt lõi giữa cấu trúc Festival du lịch Hà Nội và Festival Huế được luận án chỉ ra là gì?
Festival Huế tiếp thu mô hình Festival Avignon (Pháp) với cấu trúc phân định rõ giữa chương trình IN (nghệ thuật chuyên nghiệp chất lượng cao, bán vé) và chương trình OFF (sinh hoạt văn hóa cộng đồng mở, miễn phí), huy động sự tham gia tích cực của người dân và khai thác toàn bộ không gian đô thị. Trong khi đó, Festival du lịch Hà Nội tổ chức theo mô hình hành chính hóa, kết hợp giữa văn hóa nghệ thuật và xúc tiến thương mại tương tự mô hình Bắc Kinh nhưng tính cộng đồng thấp và không gian tổ chức co cụm.
5. Vì sao tác giả luận án không phân tích sâu số liệu tài chính của các kỳ festival?
Tác giả nêu rõ trong phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ văn hóa học, luận án tập trung vào cấu trúc chương trình và đặc điểm văn hóa của sự kiện; mặt khác, khía cạnh tài chính và kinh phí là vấn đề báo cáo nội bộ của ban tổ chức, tác giả khó tiếp cận đầy đủ dữ liệu để tiến hành phân tích đối chiếu một cách thuyết phục.
Kết luận
Luận án "Festival du lịch Hà Nội" của nghiên cứu sinh Ngô Ánh Hồng là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học tiếp cận một hiện tượng lễ hội đương đại đô thị thông qua lý thuyết tiếp biến văn hóa và lý thuyết cấu trúc. Công trình đã phân rã cấu trúc hai thành tố của festival du lịch, khảo tả diễn biến thực tế qua 5 kỳ tổ chức (1999–2010) và đối chiếu với các mô hình sự kiện tiêu biểu tại Việt Nam và quốc tế. Kết quả nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của sự kiện, đặc biệt là cơ chế tổ chức hành chính hóa và sự thiếu vắng vai trò chủ thể của cộng đồng cư dân, đồng thời đề xuất hệ thống kiến nghị khoa học hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đổi mới và phát triển các sự kiện văn hóa - du lịch thủ đô.