phần Mở đầu (16 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang), Phụ lục (84 trang), nội dung luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về festival du lịch và tổng quan về Festival du lịch Hà Nội Chƣơng 2: Cấu trúc, đặc điểm và tác động của Festival du lịch Hà Nội Chƣơng 3: So sánh Festival du lịch Hà Nội với một số festival khác và những vấn đề đặt ra 17 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FESTIVAL DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ FESTIVAL DU LỊCH HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về festival du lịch 1. Festival và festival du lịch 1. Khái niệm festival Các nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới thƣờng dùng từ festival để chỉ lễ hội.
Mặc dù festival tiếng Anh tƣơng đƣơng với từ lễ hội nhƣng khi về Việt Nam nó đƣợc dịch là liên hoan (theo nghĩa là lễ hội mới). Lễ hội mới này thƣờng không gắn với yếu tố thiêng nhƣ trong lễ hội truyền thống mà nó gắn với nghi lễ trang trọng cùng với chƣơng trình nghệ thuật chuyên nghiệp hoành tráng. Khái niệm festival đƣợc hiểu tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau của mỗi quốc gia, dân tộc. Do tính chất phức tạp của từ ngữ nên trong luận án thống nhất dùng từ festival thay cho từ liên hoan hay lễ hội mới.
Trong phạm vi đề tài, luận án chỉ đề cập đến một số khái niệm phổ biến hiện nay. Đầu tiên, phải kể đến thuật ngữ festival đƣợc đề cập trong cuốn Từ điển tiếng Anh thông dụng của nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa: Festival theo nghĩa danh từ có hai nghĩa. Thứ nhất là ngày lễ nhƣ lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh. Thứ hai là đại hội, liên hoan nhƣ liên hoan âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ.
đƣợc tổ chức hàng năm hoặc định kỳ. Ví dụ nhƣ liên hoan Edinburgh, liên hoan du lịch. Tính từ của festival là festive, là những gì thuộc về lễ hội, mang mầu sắc lễ hội. Ví dụ nhƣ mùa lễ hội, tháng lễ hội… [112, tr.
Đại Từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa Thông tin giải thích “Festival là ngày hội lớn thƣờng có tính chất quốc tế nhằm giới thiệu những thành tựu nghệ thuật, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh. Từ điển Wikipedia - Bách khoa tri thức giải thích festival nhƣ sau: 18 Festival đƣợc sử dụng trong tiếng Anh và tiếng Pháp thời trung đại và có cùng nguồn gốc từ căn ngữ Latin là festivus. Từ festival đƣợc dùng lần đầu tiên trong ngôn ngữ Anh với tính chất là tính từ vào thế kỷ XIV, sau đó nó đƣợc dùng nhƣ là một danh từ vào năm 1589 để chỉ “bữa tiệc ăn mừng một ngày lễ nhà thờ”. Từ nguyên của festival rất giống từ feast, nghĩa là bữa tiệc.
Từ feste (một từ khác của fest) đến từ tiếng Anh trung đại và tiếng Pháp thời trung đại, từ chữ festa của tiếng Latin. Từ feast (bữa tiệc, liên hoan) đƣợc sử dụng nhƣ một danh từ lần đầu vào năm khoảng 1200 và feast đƣợc sử dụng nhƣ một động từ khoảng năm 1300. Festival đƣợc sử dụng để chỉ những dịp tổ chức lễ hội ăn mừng (thƣờng đƣợc gọi là liên hoan) để đánh dấu một số trƣờng hợp quan trọng trong lịch sử hay lễ kỷ niệm đặc biệt, đó thƣờng là lễ hội tôn giáo. Có thể có nhiều loại lễ hội tôn giáo khác nhau nhƣ Halloween và Giáng sinh [168].
Thứ hai là khái niệm về festival của từ điển Anh-Mỹ “Festival có nghĩa là ngày lễ kỷ niệm, đặc biệt là lễ kỷ niệm tôn giáo diễn ra định kỳ. Festival còn là một ngày hội, ngày vui chơi giải trí, hay một loạt các buổi biểu diễn trong một sự kiện lớn đƣợc tổ chức thƣờng niên” [166, tr. Thứ ba là khái niệm của Janiskee trong cuốn sách nghiên cứu Lễ hội thu hoạch của bang Nam Carolina, ông cho rằng “Festival và các sự kiện có thể đƣợc hiểu nhƣ thời gian chính thức của các chƣơng trình thú vị, các hoạt động giải trí, các sự kiện có tính chất lễ hội và công khai ăn mừng một số lễ kỷ niệm đã xảy ra hoặc đang xảy ra trên thực tế” [165, tr. Các đặc tính ăn mừng lễ kỷ niệm đƣợc ghi chú trong định nghĩa này rất quan trọng vì các lễ hội và các sự kiện từ lâu đã tồn tại nhƣ một thực hành văn hóa với các hình thức trƣng bày, lễ kỷ niệm tập thể và nghi lễ cộng đồng.
Thứ tƣ là khái niệm về festival của Humaira Irshad trong cuốn nghiên cứu Tác động của sự kiện và lễ hội cộng đồng đến địa bàn nông thôn xuất bản ở Canada vào tháng 6 năm 2011 có đề cập đến festival: 19 Festival bao gồm một chuỗi các buổi biểu diễn âm nhạc, nghệ thuật, kịch, phim, trò chơi dân gian và các hoạt động văn hóa cộng đồng khác. Các sự kiện này đƣợc kết nối với một ý tƣởng hoặc hoạt động cụ thể xuyên suốt toàn bộ festival. Nó thƣờng đƣợc tổ chức vào một thời điểm nhất định trong năm ở cùng một địa điểm và diễn ra định kỳ mỗi năm một lần hoặc vài năm lặp lại một lần [154, tr. Dựa trên việc nghiên cứu một số khái niệm của các học giả trong và ngoài nƣớc và việc quan sát tham dự một số festival ở Việt Nam, luận án cho rằng “Festival là một thuật ngữ đƣợc du nhập từ các nƣớc phƣơng Tây vào Việt Nam và đƣợc Việt hóa để chỉ một số lễ hội đƣơng đại.
Festival là một loại hình/ sự kiện văn hóa nghệ thuật đô thị hơn là các nghi lễ gắn với tín ngƣỡng, tôn giáo ở các xã hội nông thôn truyền thống. Đứng ở phƣơng diện tổ chức, dù là có tính chất tổng hợp hay chuyên đề thì mọi festival đều là một sự kiện lớn bao trùm lên chuỗi sự kiện, liên hoan nhỏ diễn ra đồng thời”. Nhƣ vậy, trong festival sẽ bao gồm nhiều thành tố đƣợc thể hiện thông qua các hoạt động có tính chất khác nhau và đƣợc cấu trúc trên một nền tảng chung. Festival du lịch Festival du lịch là một hiện tƣợng văn hóa mới có các tên gọi khác nhau nhƣ: lễ hội du lịch, liên hoan du lịch hay lễ hội văn hóa du lịch.
Festival du lịch do các tổ chức, đơn vị trong ngành du lịch phối hợp cùng các cơ quan chức năng đứng ra tổ chức. Đây là sự kiện văn hóa tổng hợp mang nội dung văn hóa sâu sắc, thông qua việc tổ chức lễ hội nhằm khai thác các giá trị tổng hợp của truyền thống và hiện tại phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của địa phƣơng và đất nƣớc qua con đƣờng du lịch. Theo Yeoman và cộng sự (2004), trong cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện ông đã đề cập đến lễ hội du lịch: Lễ hội du lịch là cách để kỷ niệm sự kiện văn hóa cụ thể của một làng, một thị xã, một tỉnh, thành phố hay một khu vực. Lễ hội du lịch đƣợc 20 coi là một hình thức mới của du lịch giúp thúc đẩy, quảng bá hình ảnh điểm đến.
Do vậy, lễ hội du lịch mang lại một nguồn thu nhập quan trọng cho địa phƣơng, khu vực và nó đƣợc chính phủ một số quốc gia lựa chọn trở thành phƣơng tiện phát triển và mở rộng bản đồ du lịch ra thế giới [170, tr. Tại hội thảo Nghiên cứu cạnh tranh quốc tế của các thành viên mạng lưới du lịch toàn cầu về festival du lich ở Trung Quốc qua nghiên cứu trường hợp Festival du lịch thuyền rồng diễn ra ở Monaco năm 2011, Lianping Ren Yue Hi dẫn chứng festival du lịch là một sản phẩm du lịch mới của Trung Quốc cho nên có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nó. Từ đó, ông cho rằng: Festivval du lịch bao gồm các lễ hội, các cuộc hội họp, hội chợ, triển lãm, các chƣơng trình thể thao, văn hóa nghệ thuật… Festival du lịch có nhiều quy mô khác nhau với một chủ đề cụ thể. Nó đƣợc tổ chức thƣờng niên hay đột xuất ở cùng một thời điểm và trong cùng một khu vực.
Festival có thể thu hút số lƣợng lớn khách du lịch nƣớc ngoài đến với tỉnh, thành nơi tổ chức [153, tr. Trong cuốn sách Nguồn cảm hứng 2011, nghiên cứu trường hợp về du lịch lễ hội với các đối tác du lịch toàn cầu của Trƣờng Đại học St Paus, thành phố Manitoba, Canada có xác định khái niệm festival du lịch: Festival du lịch là một công cụ truyền thông giúp ngành du lịch ngày càng phát triển. Nó tập trung vào quảng bá du lịch ở địa phƣơng, quốc gia hay quốc tế. Festival có đủ hình dạng, kích thƣớc và sự đa dạng khác nhau.
Mỗi festival là một sự kiện, chuỗi sự kiện thu hút du khách bằng cách khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động để trải nghiệm những cảm giác lôi cuốn khác nhau. Du khách sẽ cùng chia sẻ thực phẩm, đồ uống, khám phá âm nhạc, nghệ thuật và lịch sử hình thành của điểm đến du lịch theo cách đầy ý nghĩa mà chúng đã để lại ấn tƣợng sâu sắc cho du khách [155, tr. 21 Từ một số khái niệm trên cho thấy festival du lịch là một hiện tƣợng văn hóa đƣơng đại ra đời gắn với các đô thị lớn, là sản phẩm của quá trình giao lƣu tiếp biến văn hóa. Festival du lịch do các cơ quan quản lý nhà nƣớc phối hợp với các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch tổ chức dựa trên mô hình hành chính hóa và huy động các nguồn xã hội hóa cho công tác tổ chức.
Do tính chất của festival du lịch ở Việt Nam khác với các nƣớc trên thế giới nên luận án cho rằng “Festival du lịch là một loại hình văn hóa nghệ thuật tổng hợp bao gồm một chuỗi các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch đƣợc tổ chức dựa trên một nền tảng chung, kết hợp giữa công nghệ tổ chức sự kiện hiện đại của phƣơng Tây với việc khai thác các yếu tố văn hóa bản địa đặc sắc của địa phƣơng. Đối tƣợng festival du lịch nhắm tới chủ yếu là phục vụ khách du lịch. Mục đích tổ chức để quảng bá thế mạnh nổi trội của địa phƣơng nhằm thu hút du khách, xúc tiến sản phẩm du lịch của địa phƣơng và xây dựng hình ảnh điểm đến”. Các khái niệm liên quan 1.
Carnival Carnival (tiếng Anh) hay Carnaval (tiếng Bồ Đào Nha) có nghĩa là hóa trang. Lễ hội carnival là “lễ hội hóa trang”. Carnival thƣờng diễn ra dài ngày, đƣợc tổ chức dƣới hình thức các đoàn diễu hành đƣờng phố và diễn viên đeo mặt nạ trong trang phục rực rỡ biểu diễn các loại hình nghệ thuật mang tính chất tạp kỹ nhƣ múa, xiếc, trò vui.