phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, đƣợc chia làm ba chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hƣơng Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hƣơng. Đóng góp của luận văn - Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội - Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hƣơng - Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội chùa Hƣơng. 9 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI 1.1 Văn hóa và du lịch văn hóa 1.1 Khái niệm văn hóa Trƣớc khi bàn về du lịch văn hóa ta cần định nghĩa văn hóa. Bởi hiểu đƣợc văn hóa sẽ giúp ta hiểu về du lịch văn hóa.
Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm phức tạp, đa nghĩa đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu và giải thích. Theo các nhà nhân chủng học, văn hóa là các kiểu hành vi, suy nghĩ mà con ngƣời sống trong các nhóm xã hội tạo ra, học tập và chia sẻ với nhau. Văn hóa giúp phân biệt nhóm ngƣời này với nhóm ngƣời khác và nó cũng là điểm khác biệt giữa con ngƣời và động vật. Văn hóa bao gồm niềm tin, các quy tắc ứng xử, ngôn ngữ, nghi lễ, nghệ thuật, kỹ thuật, trang phục, phƣơng thức sản xuất, nấu ăn, tôn giáo, hệ thống chính trị kinh tế.
[ 41, 2008 ] Năm 2002, UNESCO đã đƣa ra định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp của những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Tóm lại ta có thể hiểu Văn hóa là một tổng thể bao gồm tất cả các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra, là một phần của cách sống mà một nhóm ngƣời cùng chia sẻ. Các giá trị vật chất và tinh thần đó đƣợc kế tục và lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.2 Du lịch văn hóa Con ngƣời trong cuộc sống bên cạnh những nhu cầu sinh tồn nhƣ ăn, ở, mặc, con ngƣời cũng có những nhu cầu khác nhƣ học tập, thể thao, vui chơi, giải trí.
Ngày nay khi đời sống vật chất ngày càng đƣợc nâng cao thì việc thỏa mãn đời sống 10 z tinh thần cũng đặc biệt đƣợc chú trọng. Đi du lịch là một trong những phƣơng thức đáp ứng nhu cầu tinh thần đó. Du lịch trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, trong đó du có nghĩa là đi và lịch có nghĩa là trải việc. Vì vậy du lịch hiểu đơn giản là chuyến đi chơi xa cho biết xứ lạ [Từ điển Hán – Nôm – Việt trực tuyến].
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, du lịch đƣợc giải thích là “Đi đến những nơi xa lạ để hiểu thêm về đất nƣớc, con ngƣời, cuộc sống”.[40, tr 551] Tổ chức Liên Hiệp Quốc định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ”.17] Theo Luật du lịch của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 2005, du lịch đƣợc hiểu là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.8] Ngày nay, bên cạnh các loại hình du lịch nhƣ du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch giải trí,. thì du lịch văn hóa đang trở thành xu hƣớng phát triển mới không chỉ Việt Nam mà còn của nhiều quốc gia trên thế giới. Vậy du lịch văn hóa là gì? Một trong những định nghĩa chuyên ngành nhất là định nghĩa của ICOMOS.
Theo hiến chƣơng của ICOMOS về du lịch năm 1976 cho rằng: “Du lịch văn hóa có thể đƣợc định nghĩa nhƣ một loại hình hoạt động giúp con ngƣời trải nghiệm cách sống của ngƣời khác, nhờ đó đƣợc tiếp cận trực tiếp và thấu đáo những công trình kiến trúc, lịch sử, khảo cổ, những phong tục tập quán, truyền thống, môi trƣờng tự nhiên, tri thức, và những giá trị văn hóa khác mà còn đƣợc lƣu giữ”. [49] Ở Việt Nam “Du lịch văn hóa đƣợc hiểu là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.4] 11 z Nhƣ vậy dù tiếp cận dƣới bất cứ góc độ nào thì du lịch văn hóa vẫn là sản phẩm do con ngƣời tạo ra. Nó là một tập hợp con của du lịch, mục đích của du lịch văn hóa là dùng việc khai thác tài nguyên nhân văn để tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu thƣởng thức giá trị văn hóa của khách du lịch.2 Lễ hội và du lịch lễ hội 1.1 Lễ hội Cƣ dân Việt xƣa vốn là những nông dân làm nghề nuôi trồng lúa nƣớc, hàng năm cứ mỗi khi đƣợc việc đồng áng hoàn tất, công việc nhà nông cũng bớt vất vả, bận rộn ngƣời dân lại tổ chức những nghi lễ để cảm ơn thần linh phù hộ trong cho một mùa màng tƣơi tốt vừa qua, đồng thời cầu xin các ngài phù hộ cho một vụ mùa bội thu sắp tới. Dần dần những nghi thức đơn sơ ban đầu này trở thành một sinh hoạt cộng đồng chung, đƣợc xây dựng và tổ chức định kỳ hàng năm, gọi chung là lễ hội.102] Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con ngƣời đối với thần linh, phản ánh những ƣớc mơ chính đáng của con ngƣời trƣớc cuộc sống mà bản thân họ chƣa có khả năng thực hiện”.674] Về căn bản, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tinh thần của mỗi dân tộc.
Đây là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả. Lễ hội là dịp để con ngƣời trở về với cội nguồn, là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu của cộng đồng, tôn vinh những hình tƣợng thiêng liêng, hƣớng về những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nƣớc hay liên quan đến những sinh hoạt tín ngƣỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí. Căn cứ vào tính chất của lễ hội Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm chia lễ hội truyền thống ở Việt Nam thành ba nhóm nhƣ sau: - Nhóm lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trƣờng tự nhiên, đƣợc coi là các lễ hội nghề nghiệp. Trong nhóm này lễ hội nông nghiệp là quan trọng nhất; 12 z - Nhóm lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trƣờng xã hội.
Đây thƣờng là những lễ hội kỷ niệm các anh hùng dựng nƣớc giữ nƣớc; - Nhóm lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng, là những lễ hội tôn giáo, văn hóa.273] Tuy nhiên có thể thấy cách phân loại lễ hội của Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm mới chỉ tập trung vào lễ hội truyền thống trong khi hiện tại đã có rất nhiều những lễ hội mới đƣợc du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lƣu văn hóa mà Giáo sƣ chƣa đề cập tới. Vì vậy để phản ánh đúng tình hình thực tế trong văn bản ban hành chính thức của Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch, thì tất cả 7.966 lễ hội của Việt Nam đƣợc chia làm 5 loại chính: - Lễ hội dân gian chiếm 88,36% - Lễ hội tôn giáo chiếm 6,82% - Lễ hội lịch sử cách mạng chiếm 4,16% - Lễ hội du nhập từ nƣớc ngoài chiếm 0,12% - Các lễ hội khác chiếm 0,5% [44] Dù lễ hội ở Việt Nam vô cùng phong phú về số lƣợng nhƣng về cơ bản lễ hội đều bao gồm hai phần chính là: phần lễ và phần hội. Nghi lễ là một phần tất yếu quan trọng trong các lễ hội truyền thống, nó tạo một khúc dạo đầu cần thiết, một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng trƣớc khi bƣớc vào phần hội sôi động, náo nhiệt. Đối với các lễ hội dân gian, phần hội mang nhiều nét văn hóa truyền thống.
Trò chơi dân gian là một phần không thể thiếu trong những lễ hội này. Nguồn gốc những trò chơi đều xuất phát từ ƣớc vọng thiêng liêng của ngƣời làm nông nghiệp nhƣ trò chơi ném pháo, đánh pháo đất đều là những trò chơi bày tỏ ƣớc vọng cầu mƣa của ngƣời nông dân. [33b, tr275] Du khách khi đến tham quan lễ hội cũng có thể cùng tham gia vào các trò chơi ở lễ hội. Do đó phần hội rất sôi động và hấp dẫn.2 Du lịch lễ hội Các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nhƣ Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng, Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm, khi nhắc đến văn hóa Việt Nam đều nhắc đến làng quê Việt.
13 z Đó là những xã hội thu nhỏ của ngƣời Việt, là nơi sinh trƣởng, phát triển, lƣu giữ và trao truyền những nét văn hóa đặc trƣng của dân tộc đến từng cá thể trong cộng đồng và tới thế hệ tƣơng lai. Trong các xã hội làng xã Việt Nam ấy, lễ hội luôn có một vai trò vô cùng quan trọng. Bởi trong các lễ hội, lịch sử, nguồn gốc, khát vọng, ƣớc mơ – những nét tinh túy hồn Việt, của nền văn hóa lúa nƣớc đƣợc phác họa một cách chân thực nhất, cô đọng nhất. Việt Nam có rất nhiều lễ hội, quy mô các lễ hội tùy thuộc vào từng vùng và của từng tính chất lễ hội.
Du khách khi tham gia lễ hội có thể hiểu về văn hóa con ngƣời của nơi tổ chức lễ hội, hiểu về đời sống tinh thần phong phú của họ. Nhƣ vậy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo. Và theo một cuộc điều tra đƣợc tiến hành vào năm 2005 trên internet đã chỉ ra 88% khách du lịch bằng lòng đến thăm quan một nơi nào đó do ở đó có lễ hội đang diễn ra.