mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch sinh thái nói riêng và du lịch bền vững nói chung ở Việt Nam. Mặc dù, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực 11 Luan van khác liên quan ở Việt Nam còn có những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” Trên quan điểm thống nhất với các diễn giải khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” của Luật du lịch Việt Nam (2005) đồng thời, với tư duy theo hướng tiếp cận mục tiêu của thuật ngữ “phát triển bền vững” khái niệm “phát triển du lịch bền vững” được hiểu như sau: Phát triển du lịch bền vững là phát triển những hoạt động du lịch với mục tiêu mang lại lợi ích kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội và cộng đồng; thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của các thành phần tham gia du lịch… trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên; đồng thời có ý thức đến việc đầu tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Khái quát về quần thể danh thắng chùa Hương Du lịch chùa Hương là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hoá, tín ngưỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung. Chùa Hương nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội 62km về phía tây nam, thuộc địa bàn xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức - thành phố Hà Nội.
Hương Sơn (chùa Hương) đựợc biết như một địa danh nổi tiếng về di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng, hàng năm thu hút hàng triệu du khách trong nước và quốc tế tới thăm quan chiêm bái. Từ Hà Nội về Hà Đông tới Ba La, đi theo quốc lộ 21B tới thị trấn Tế Tiêu rẽ trái đi khoảng 12km thì tới địa phận chùa Hương. Từ phía Nam đi ra, tới thành phố Phủ Lý thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, qua cầu Phủ Lý rồi rẽ trái, đi tới thị trấn Quế sau tới khu vực Chợ Dầu, qua khu vực chợ Dầu rẽ 12 Luan van trái đi khoảng 4 km là tới địa phận Chùa Hương. Quần thể danh thắng chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến.
Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù (tọa độ: 20°37′5″B 105°44′49″Đ). Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.
Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông. Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên (tọa độ: 20°36′47″B 105°44′4″Đ). Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn.
Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá. Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội chùa Hương.
Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ, hàng triệu phật tử cùng du khách khắp bốn phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến mười tám tháng hai âm lịch. Ngày này, vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương.
Đến nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới - mở cửa chùa. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng. Lễ hội chùa Hương cũng là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn… Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền.
Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãn cảnh, lạc vào non tiên cõi Phật.Lịch sử hình thành Mọi người thường cho rằng chùa Hương có từ cuối thế kỷ 17 nhưng thực 13 Luan van ra Chùa Hương có lịch sử từ thế kỷ 15. Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17, sau đó bị hủy hoại trong kháng chiến chống pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Hòa thượng Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hoà thượng Thích Thanh Chân. Khi xưa vua Lê Thánh Tông đi tuần thú qua đây lần thứ 2 vào tháng giêng năm Đinh hợi, niên hiệu Quang thuận thứ 8 (1467) đã đóng quân nghỉ lại ở thung lũng này và cho quân lính thổi cơm ăn, vua xem thiên văn thấy vùng này lâm vào địa phận của sao Thiên Trù, (một sao chủ về sự ăn uống và biến động) nên nhân đấy đặt tên là chùa Thiên Trù. Ba vị Hòa thượng đời vua Lê Thánh Tông 1442 – 1497 đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù.
Kể từ đó động Hương Tích được gọi là chùa trong, Thiên Trù gọi là chùa ngoài, rồi người ta lấy tên chung cho hai nơi và cả khu vực là chùa Hương hay “Hương Thiên Bảo Sái”. Sau thời kỳ ba vị Hòa thượng khai sáng, chùa Thiên Trù chùa Hương gián đoạn trụ trì, mãi tới niên hiệu Chính Hòa năm thứ bẩy 1686 của thời vua Lê Trung Hưng. Hòa thượng Trần Đạo Viên Quang, (tương truyền cũng là một quan chức trong triều đình đã treo ấn từ quan để đi tu) mới lại tiếp tục công việc tạo dựng. Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một vị hòa thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Nội từ đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1704).
Trong khi theo sách Hương Sơn báu quyển, chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh là một động cao và khuất, thường có mây mù bao phủ. Vậy vì sao lại có thêm một chùa Hương Tích "phiên bản" ở phía Bắc? Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái) nên các phi tần, mỹ nữ đa số được chọn tuyển ở miền Hoan Châu. Hằng năm các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ - Tĩnh thường trẩy hội chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18-2 âm lịch bằng đường thủy qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ). Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố 14 Luan van trí lính vệ phục dịch dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một vị hòa thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi Hà Sơn Bình để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian VN).
Như vậy nhờ "sáng kiến" của chúa Trịnh mà Việt Nam có hai chùa Hương Tích.Các giá trị nổi bật của quần thể danh thắng chùa Hương Với diện tích hơn 4.000ha, quần thể danh thắng Hương Sơn mang trong mình giá trị văn hóa truyền thống của người Việt. Quần thể di tích lớn nhất quốc gia này bao gồm phức hệ núi non, hang động, thảm thực vật, thủy văn, hệ động vật và hệ thống đình, đền, tu viện phật giáo với 21 ngôi chùa, đền, hang động được xây dựng từ hàng nghìn năm trước, có giá trị to lớn về văn hóa và khảo cổ học. Nhắc đến khu di tích chùa Hương-Hương Sơn là nhiều người nhớ đến sự tích về bà chúa Ba-Phật bà Quán Thế Âm đã chọn nơi đây làm nơi tu hành thành chính quả. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều ngôi chùa, hang động ở đây từng là nơi che giấu và tổ chức các cuộc họp bí mật của Việt Minh trong vùng.
Sự hòa quyện lịch sử, tín ngưỡng văn hóa dân gian với phật giáo đã làm nên hương sắc đặc thù của lễ hội chùa Hương nói riêng và quần thể danh thắng Hương Sơn nói chung. Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng, không chỉ cảnh đẹp mà còn là một nét đẹp văn hoá tín ngưỡng đạo phật của người Việt Nam ta. Không giống với bất cứ chùa nào, Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động, gắn liền với núi rừng với một kiến trúc kết hợp hài hoà vừa thiên nhiên vừa nhân tạo. Tạo hoá đã khéo bày đặt ở vùng này một sự hài hoà giữa núi non song nước, và con người đã thổi hồn vào những đièu kỳ diệu đó, làm cho chúng thêm sinh động và nhiều màu sắc, chính điều đó đã tạo nên một nét văn hoá của dân tộc.
Trải qua nhiều thế kỷ, nó đã in đậm trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam chúng ta khi đến với Chùa Hương. Nhiều tao nhân mặc khách, các nhà thơ nhà văn và cả các vị Vua chúa thời xưa và nay cũng phải thán phục trước vẻ đẹp của nơi đất phật này. Vào năm canh Dần 1770 khi Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm vãn cảnh Chùa Hương đã đề khắc năm chữ lên cửa Động Hương Tích: “Nam Thiên Đệ Nhất Động” (Động đẹp nhất trời nam). Ngoài ra còn nhiều bài thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây của các thi nhân như: Chu Mạnh Trinh, Cao Ba Quát, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương.