Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Khi tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu, tác giả nhận thấy có rất nhiều công trình liên quan đến tới vấn đề nghiên cứu ở nhiều góc độ tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và lí thuyết khác nhau. Để cung cấp cái nhìn tổng quát, có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm ra những vấn đề đã được làm sáng tỏ, những vẫn đề còn tranh luận, những vấn đề chưa được bàn tới, tác giả thực hiện phân chia những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài thành các nhóm vấn đề cụ thể như sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về thế giới quan và nhân sinh quan Khi bàn về thế giới quan, nhân sinh quan có nhiều tác giả với các công trình đã bàn tới như sau: Các tác giả Jacomijn C. van der Kooij, Doret J.
de Ruyter và Siebren Miedema (2013), với bài viết “Worldview: the Meaning of the Concept and the Impact on Religious Education” (Thế giới quan: Ý nghĩa của khái niệm và tác động đến giáo dục tôn giáo). Bài viết phân tích khái niệm thế giới quan, so sánh các quan điểm khác nhau về thế giới quan và từ đó làm rõ vai trò của thế giới quan trong giáo dục ở trường học. Các tác giả cũng đã đưa ra các thuật ngữ như thế giới quan (Worldview), triết lí sống (“philosophy of life”), quan điểm về cuộc sống (“view on life”) trong bài viết tập trung vào khái niệm thế giới quan (“worldview”). Các tác giả cũng đã thống nhất về cơ bản thế giới quan là cái nhìn của con người về cuộc sống, thế giới và nhân loại.
Đó như là thế giới quan có tổ chức, thế giới quan tôn giáo. Ngoài ra, các tác giả cho rằng, có thể dùng khái niệm thế giới quan để mô tả quan điểm về cuộc sống và nhân sinh quan, và các ông cho rằng đó là thế giới quan cá nhân (personal worldview). Từ đó, đánh giá tác động của thế giới quan tôn giáo có tổ chức tới thế giới quan cá nhân trong giáo dục ở trường học. Dockery (2013), trong cuốn “Reclaiming the Christian intellectual tradition” (Đòi lại truyền thống trí thức Kitô giáo), khi trình bày về thế giới quan, tác giả cho rằng mỗi người đều có một thế gới quan và quan điểm cơ bản về thế giới cũng như cuộc sống của chúng ta.
Theo tác giả thế giới quan hay thế giới quan và cuộc sống (worldview—or “world-and-life view) là cách chúng ta hiểu biết về thế giới, là cách chúng ta nhìn vào thế giới, là cách chúng ta đánh giá về thế giới. Hay thế giới quan là khuôn khổ của niềm tin từ đó giúp chúng ta nhìn thấy bức tranh toàn cảnh, đưa ra quan điểm về ý nghĩa của sự tồn tại của con người. Tác giả Joanna Goplen và E. Thông qua phương pháp khảo sát các nhóm đối tượng ở những độ tuổi, giới tính, dân tộc khác nhau tác giả đưa ra quan niệm về thế giới quan và thế giới quan tôn giáo, đồng thời chỉ ra sự ảnh hưởng của thế giới quan tôn giáo tới thế giới quan cá nhân của một người trong việc xem xét đánh giá thế giới, kể cả các vấn đề về đạo đức và mục đích cuộc sống.
Lê Cẩm Ly (2001), với công trình “Vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt qua các hình thức diễn xướng trong tang lễ ở bốn thôn Phượng Vũ, xuân La, Nội và Văn Minh thuộc huyện Phú Xuyên, Hà Tây”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác phẩm giới thiệu những nét nổi bật, các quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Việt qua các nghi thức và hình thức diễn xướng trong tang lễ ở bốn thôn ở huyện Phú Xuyên, Hà Tây. Trần Đăng Sinh (2002), với công trình “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia. Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, công trình trực tiếp đề cập đến quan niệm về “cõi trời”, “cõi âm”, cái chết của con người trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời, làm rõ những giá trị nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, với các giá trị tiêu biểu như: đạo hiếu, nhớ về nguồn cội và các giá trị văn 10 hóa trong sinh hoạt cộng đồng.
Những nội dung này sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện luận án của tác giả. Phạm Văn Tú (2009), với luận án “Miếu, lăng, cung thờ ở Cà Mau tín ngưỡng và giá trị nhân văn”, dưới góc độ tiếp cận văn hóa học tác giả tìm hiểu sự hình thành, phát triển và biến đổi của các loại hình miếu, lăng, cung cùng cách thức thực hiện tín ngưỡng và qua việc lưu giữ các nghi lễ thờ cá voi, thờ Bà Thiên Hậu xác định những giá trị nhân văn tích cực như tính đoàn kết cộng đồng, huy động các nguồn lực thực hiện các hoạt động xã hội, xây dựng và giáo dục các giá trị đạo đức. Các luận án của tác giả Nghiêm Thị Châu Giang (2016), “Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với lối sống người Hà Nội hiện nay”; tác giả Nguyễn Lan Anh (2016), “Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng chính trị thời Lý - Trần”. Các công trình trên đã làm rõ nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo và nội dung của nhân sinh quan Phật giáo, quá trình du nhập và phát triển của phật giáo vào đời sống xã hội, nội dung nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới vấn đề nghiên cứu.Cadière (2018), với công trình “Văn Hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt” (trọn bộ 3 tập), công trình nghiên cứu đề câp tới nhiều nội dung về tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt như Trời, quỷ thần, linh hồn, tổ nghề cùng với việc cúng tế, nghi lễ thực hành cúng tế và tầm quan trọng của việc cúng tế.
Những nội dung trên là cơ sở, nền tảng quan trọng cho nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của đề tài. Nguyễn Thị Cẩm Tú (2018), với luận án “Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ”, công trình nghiên cứu các hình thức tín ngưỡng dân gian cơ bản như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, thờ thành hoàng. Thông qua các hình thức tín ngưỡng dân gian đó, tác giả chỉ ra những quan niệm tiêu biểu về trời - đất, trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì trời đất được quan niệm gắn liền với sinh mệnh của con người. Quan niệm về con người, tác giả cho rằng, trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu bàn về cuộc đời của con người sau khi chết.
Họ coi cuộc đời sau 11 khi chết là chiếc gương phản chiếu cuộc đời của con người khi họ còn sống. Nên chết không phải là hết mà là về với thế giới bên kia, tức thừa nhận sự tồn tại của linh hồn. Trong quan niệm về xã hội được tác gỉa tập trung làm rõ vị trí vai trò của người phụ nữ trong xã hội; về giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong các hình thức tín ngưỡng dân gian trên. Cao Xuân Sáng (2019), với luận án “Ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần người dân đồng bằng Sông Hồng hiện nay” bằng phương pháp so sánh, lôgic và lịch sử đã làm rõ các khái niệm thế giới quan, thế giới quan tôn giáo; nội dung thế giới quan Phật giáo, trên cơ sở đó, xuất phát từ thực tiễn đời sống tinh thần của người dân đồng bằng Sông Hồng chỉ ra những tác động, ảnh hưởng về nhận thức, đạo đức, lối sống, văn hóa của thế giới quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người dân đồng bằng Sông Hồng.
Ngoài các công trình kể trên, vấn đề thế giới quan và nhân sinh còn được thể hiện dưới các bài viết, với cách tiếp cận và vấn đề nghiên cứu khác nhau như: Tác giả Trần Đức Dương (2010), với bài viết “Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2-2010, tr. 36-40 đã chỉ ra những giá trị nhân sinh cao đẹp của tín ngưỡng thờ tổ tiên về đạo lý uống nước nhớ nguồn, về chữ hiếu, lòng biết ơn, sự kính trọng, khơi dậy tình yêu thương quê hương đất nước, đạo lý làm người góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tác giả Bùi Trung Hưng (2016), trong bài viết “Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị thế giới quan trong luật tục của các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Lâm Đồng”, Tạp chí Khoa hoc Xã hội Tây Nguyên số 3, tr. Thông qua các luật tục sưu tầm được, tác giả bài viết giới thiệu những giá trị cốt lõi của văn hóa tinh thần, đó là thế giới quan của các tộc người ở tỉnh Lâm Đồng và bàn về việc bảo tồn, phát huy các giá trị của chúng trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
Tác giả Đặng Quang Định (2017), bài viết “Sự biến đổi nhân sinh quan của cư dân đồng bằng sông Hồng thể hiện qua các lễ hội truyền thống”, Tạp chí Lý luận Chính trị số 2, tr 85 - 91. Thông qua so sánh, đối chiếu, tác giả chỉ ra những biến 12 đổi tích cực và tiêu cực trong quan niệm của người dân về các vấn đề như sự tôn thờ và tưởng nhớ, về đời sống tâm linh và tín ngưỡng thông qua việc thực hiện các nghi lễ quan trọng trong đời sống văn hóa như: lễ hội làng Gióng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội), đền Trần (Nam Định), đền Cổ Loa (Hà Nội), lễ hội Hai Bà Trưng (đền Đồng Nhân - Hà Nội), hội đền vua Đinh (Hoa Lư - Ninh Bình), lễ hội Phủ Giầy (Vụ Bản - Nam Định), lễ hội chùa Thầy (Hà Nội), v. Tác giả Phan Mạnh Dương (2017), bài viết “Thờ cúng tổ tiên – chỗ dựa tinh thần (trường hợp người Sila huyện Mường Tè, Lai Châu)”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 7 (1630), tr. Bài viết hệ thống các nghi lễ cúng tổ tiên của người sila qua đó khẳng định niềm tin về sự tồn tại của linh hồn tổ tiên và mang lại chổ dựa tinh thần cho con người giúp giải tỏa những căng thẳng những đau khổ về bệnh tật, tăng thêm nghị lực vượt qua khó khăn trong cuộc sống, đoàn kết gắn bó, bồi đắp giá trị văn hóa truyền thống.