Chương I đã trình bày tổng quan về cơ sở hình thành, mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương II sẽ giới thiệu: (1) Tổng quan về du lịch Đà Lạt, (2) Du lịch kiểng chùa, (3) Cơ sở lý thuyết. Cuối chương trình bày về mô hình nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình gồm 04 khái niệm chính sau: (1) Tương tác giữa du khách với du khách, (2) Tương tác giữa du khách với nhân viên Công ty du lịch, (3) Môi trường trải nghiệm, (4) Theo ý của du khách. Tổng quan về du lịch Đà Lạt Theo báo cáo tổng kết 5 năm về “ Phát triển du lịch chất lượng cao trên địa bàn thành phố Đà Lạt giai đoạn 2011 – 2015” của Thành ủy Đà Lạt, hiện nay, trên địa bàn thành phố Đà Lạt cùng với các điểm du lịch được đầu tư, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới; hệ thống lưu trú gắn sao ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong hệ thống dịch vụ khách sạn, đã thúc đẩy du lịch Đà Lạt tăng trưởng khá hàng năm.
Chỉ tính trong vòng 5 năm trở lại đây, lượng khách đến du lịch đạt 16,75 triệu lượt khách, tăng bình quân hàng năm trên 10%, trong đó, khách quốc tế chiếm 8% tổng lượt khách, thời gian lưu trú bình quân 2,4 ngày/khách. Riêng năm 2016, khách du lịch đến Đà Lạt - Lâm Đồng đạt 4,3 triệu lượt khách, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2015, đạt 100% kế hoạch năm. Trong đó: khách nội địa là 3.828 ngàn lượt khách, tăng 5,1%. khách quốc tế là 522 ngàn lượt khách, tăng 44,8%; khách qua lưu trú đạt gần 3,6 triệu lượt khách, tăng 7,9%.
Trên địa bàn thành phố Đà Lạt hiện có 43 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, vận chuyển du lịch. Trong đó có 14 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và 27 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa. Đáng nói hơn, đi đôi với việc xây dựng cơ sở vật chất du lịch ngày càng tăng đó là các khách sạn gắn sao được đầu tư mở rộng. Thống kê đến thời điểm này, thành phố có 763 cơ sở lưu trú với tổng số 13.770 phòng, có 283 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 - 5 sao lên tới 8.045 phòng, chiếm 34,4% tổng số phòng được gắn sao.
Theo các doanh nghiệp và hộ kinh doanh, tỷ lệ khách đến nghỉ dưỡng ở các khách sạn cao cấp này luôn đạt 60 - 70% trên tổng số phòng hiện có cho thấy nhu cầu lựa chọn dịch vụ chất lượng cao của du khách ngày càng cao. Tuy nhiên, tỷ lệ khách quốc tế đến với Đà Lạt còn thấp do các doanh nghiệp hiện nay chưa có nhiều các sản phẩm, dịch vụ thu hút, chủ yếu 7 lượng khách quốc tế đến với Đà Lạt là khách du lịch tự do (du lịch Ba lô), khách du lịch quốc tế đi theo đoàn. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, trên địa bàn thành phố Đà Lạt có 53 cơ sở thờ tự của Phật giáo, trong đó có 09 cơ sở có du lịch và 44 cơ sở nghiêm trang, theo thống kê của 09 kiểng chùa có du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, bình quân hàng ngày các chùa đón gần 400 lượt người, nếu tính riêng những ngày cuối tuần lượng khách bình quân mỗi ngày từ 600 đến 700 lượt người, những ngày lễ , tết đón gần 1200 lượt người/ngày. Trong những năm qua, các điểm du lịch kiểng chùa được các trụ trì các chùa tập trung đầu tư, tôn tạo, nâng cấp phát triển sản phẩm tạo nên sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch như: Thiền viện Trúc Lâm, Chùa Linh Phước, Chùa Linh Phong, hay tên đầy đủ Chùa sư nữ Linh Phong, chùa Linh Sơn, Chùa Linh Quang, Chùa Thiên Vương cổ sát.
Mỗi kiểng chùa có những nét đẹp riêng về kiến trúc, khung cảnh, song điểm chung của những ngôi chùa nơi đây là không gian thoáng đảng, yên tỉnh, du khách ngoài việc tham quan, viếng cảnh chùa còn có thể chiếm bái, cầu nguyện. Phần lớn khách du lịch đến các điểm du lịch kiểng chùa do các công ty lữ hành du lịch giới thiệu, hướng dẫn do những điểm du lịch kiểng chùa có khung cảnh đẹp, sân bãi rộng rãi để đậu xe và đặc biệt các điểm du lịch kiểng chùa không thu vé vào cổng như các điểm du lịch khác trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Còn lại là khách du lịch nhỏ lẻ không đi theo tour đến du lịch tại các kiểng chùa qua giới thiệu của người thân và bạn bè và tìm hiểu trên Internet. Thị trường khách du lịch nội địa tham gia du lịch kiểng chùa tại Đà Lạt chủ yếu là đối tượng từ 30 đến 45 tuổi và trên 45 tuổi.
Qua khảo sát sơ bộ tại một số kiểng chùa trên địa bàn thành phố Đà Lạt, độ tuổi của du khách tham gia du lịch kiểng chùa tại Đà Lạt (khách nội địa) là từ 30 đến 45 tuổi chiếm khoảng 38,9%%, trên 45 tuổi là 28,1%, từ 18 đến 25 tuổi 17,2% còn lại là một số ít khách du lịch từ 26 đến 30 tuổi. Về giới tính, chưa có thống kê chính xác nhưng các Ban tiếp lễ ở các chùa xác nhận tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới. Số lần tham gia tour du lịch kiểng chùa trong năm của du khách là tương đối cao, du khách tham gia trên 3 lần/ năm là 57,5%, từ 2-3 lần/ năm là 31,2%, 1 lần/ năm là 11,3%). Với sự phát triển đi lên của du lịch chất lượng cao tại Đà Lạt, đã đóng góp vào đạt tổng doanh thu từ khách du 8 lịch 7.380 tỷ đồng trong năm 2016.
Qua đó, khẳng định ngành du lịch trong đó có du lịch kiểng chùa đã trở thành ngành kinh tế động lực của thành phố Đà Lạt, góp phần phát triển kinh tế, xã hội với tỷ trọng chiếm 63,98% GRDP của thành phố. Thiền viện Trúc Lâm Chùa Linh Phước Chùa Linh Phong Chùa Linh Sơn Chùa Linh Quang Chùa Thiên vương cổ sát Hình 2.1 Hình ảnh các kiểng chùa tại Đà Lạt 9 2. Du lịch kiểng chùa Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO: United Nation World Tourism Organjation) thì định nghĩa như sau: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” và theo Luật Du lịch Việt Nam: “ Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”. Như vậy, du lịch văn hóa giới thiệu các giá trị văn hóa truyền thống, có tác dụng tích cực trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa.
Ở đây, giá trị văn hóa là các ngôi chùa, tháp Phật, tượng thờ Phật, các giá trị Phật giáo. Vì vậy, du lịch thăm viếng kiểng chùa có thể coi là du lịch văn hóa Phật giáo. Du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan tại điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương.
Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội. Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Loại hình du lịch kiểng chùa cũng đã tồn tại trong đời sống tâm linh của người Việt Nam từ rất xa xưa.
Tuy nhiên trước đây người ta chỉ quan niệm đi đến 10 chùa là để cầu may, cầu lộc… để thỏa mãn đời sống tâm linh của mình. Trong thời gian gần đây, kiểng chùa mới được xem là một điểm du lịch, việc đi đền chùa không còn là thuần túy chỉ là khấm vái, cầu may mà còn đồng nghĩa với việc đi du lịch. Du lịch kiểng chùa đáp ứng nhu cầu thư giãn, thưởng ngoạn, cầu xin sự may mắn của du khách. Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính thẩm mỹ, chính là đối tượng tìm hiểu của du khách bốn phương.
Du khách kết hợp giữa du lịch và hành hương để đến với những địa điểm vừa có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng, vừa có cảnh đẹp. Du khách không chỉ tìm hiểu được những thông tin về cội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, mà còn được gắn bó, giao tiếp, ứng xử cùng nhau trong môi trường đậm đặc chất thiêng. Trải nghiệm của khách hàng Theo Pine và Gilmore (1998): “Trải nghiệm khách hàng là tổng hợp của tất cả những kinh nghiệm một khách hàng có với một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, trong thời gian quan hệ của họ với nhà cung cấp đó. Nó cũng từng được sử dụng với nghĩa là một kinh nghiệm cá nhân về một giao dịch, sự phân biệt này thường là rõ ràng trong ngữ cảnh”.
Theo Shaw (2002) “Trải nghiệm khách hàng là sự tương tác giữa một tổ chức và khách hàng, đó là sự pha trộn các hoạt động thể chất của một tổ chức, các giác quan được kích thích, sự khơi dậy những cảm xúc, sự kỳ vọng của khách hàng, tất cả đều được đo lường liên tục trong suốt thời gian tương tác”. Điều này cho thấy trải nghiệm của khách hàng là một phản ứng nội bộ trong mối quan hệ đang diễn ra giữa một khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ. Cùng với ý tưởng đó Meyer và Shwager (2007) cũng đã phát biểu “Trải nghiệm khách hàng là phản ứng nội bộ và chủ quan của khách hàng khi có bất cứ sự liên hệ trực tiếp hay gian tiếp nào đó với một công ty”.