phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì nội dung chính của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Chƣơng 2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch thành phố Cần Thơ Chƣơng 3. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm du lịch thành phố Cần Thơ 14 z Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1. Một số khái niệm về du lịch và điểm đến du lịch 1. Du lịch Ngành khoa học về du lịch trên thế giới đƣợc hình thành vào đầu thế kỷ XX và đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Trong mấy thập kỷ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế (IUOTO – International of Union Offical Travel Organization) tại Hà Lan năm 1925 đến nay, khái niệm du lịch vẫn luôn đƣợc tranh luận.
Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng. Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi…Trong tiếng Việt, “Du lịch” là một từ Hán - Việt, trong đó “Du” cũng có nghĩa tƣơng tự nhƣ chữ “Tour” (du khảo, du xuân, du ngoạn. Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Canada (1991) đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi là không phải để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Trong định nghĩa này, môi trƣờng thƣờng xuyên nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở thƣờng xuyên và các chuyến đi có tính chất thƣờng xuyên hàng ngày (định kỳ) có tính chất phƣờng hội…Khoảng thời gian thƣờng đƣợc quy định từ 24 giờ đến 3 tháng (có thể có quy định 6 tháng hoặc 1 năm) [1].
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [24]. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO) thì du lịch “là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người 15 z ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức…và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống” [29]. Một trong những ngành đƣợc coi là có những tiềm năng nhất định của một nền kinh tế chính là du lịch. Du lịch đƣợc xem là ngành đƣợc ƣu tiên hàng đầu vì những lí do sau: - Du lịch có thể cực đại hóa hiệu quả của con ngƣời, tự nhiên, văn hóa và nguồn tài nguyên kĩ thuật của đất nƣớc và là một sự phát triển thích hợp.
- Nó là ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều nhân công, cung cấp việc làm chất lƣợng cao đóng góp vào để nâng cao chất lƣợng cuộc sống. - Ngành này có thể khả năng tập trung trƣớc hết vào những khu vực nông thôn với những chƣơng trình với vốn đầu tƣ thấp và hợp lí. - Nó có thể mở rộng theo cả chiều xuôi và ngƣợc những liên kết kinh tế mà có thể gây dựng nên tổng thu nhập, việc làm (đặc biệt là cho phụ nữ, thanh niên, ngƣời tàn tật mang lại sự công bằng xã hội), đầu tƣ và tăng lợi nhuận của chính quyền trung ƣơng và địa phƣơng. - Ngành du lịch cũng có thể giúp lƣu thông những mức độ nhất định của các loại tiền tệ mạnh nhƣ một ngành công nghiệp xuất khẩu.
- Nó có thể thúc đẩy nền hòa bình, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau và đóng góp xây dựng nên một quốc gia thống nhất và sự bền vững mang tính lãnh thổ. Tóm lại, có thể mô tả công thức về du lịch nhƣ sau: Du lịch = Đi lại + Lƣu trú, nghỉ ngơi +Vui chơi, giải trí + Tham quan, tìm hiểu [1]. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử bởi vì những thay đổi cơ cấu và lƣợng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng nhƣ tính chất văn hóa – lịch sử. Nó là một phạm trù động, bởi vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tùy thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu.
Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tƣợng văn hóa - lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định 16 z dƣới ảnh hƣởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch. Do đó, có thể xác định khái niệm tài nguyên du lịch nhƣ sau: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. Trong điều 4, chƣơng 1 của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [24]. Khách du lịch Trong Chƣơng I, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [24].
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, Điều 34 chƣơng V trong Luật Du lịch Việt Nam phân loại nhƣ sau: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam ra nƣớc ngoài du lịch. Sản phẩm du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 ở Chƣơng 1, Điều 4 thì: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [24]. 17 z Do đó, sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch, cụ thể: Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + hàng hóa + dịch vụ du lịch [1].
Điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là một khái niệm không mới trên thế giới, nhƣng lại khá mới mẻ ở Việt Nam. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO) thì “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường.
Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn” [29]. Trong tập giảng Marketing điểm đến của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa thì điểm đến du lịch (Destination) là: Những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách; hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững [3, tr. Một số vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau.
Khái niệm này đƣợc sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia v.v… Điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu đƣợc đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [21]. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa, Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trƣờng.
Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dƣới giá trị của nó nhƣng vẫn thu đựơc lợi nhuận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [21]. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: "Cạnh tranh là ganh đua hơn thua". Từ những quan niệm khác nhau, có thể hiểu: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.