Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Mặc dù chưa có định nghĩa thống nhất về du lịch nhưng chúng ta có thể: “Du lịch là sự di chuyển của con người từ vùng này đến vùng khác nằm ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để thõa mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần”. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
Khách du lịch Khái niệm “khách du lịch” đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà khoa học, hay thậm chí là các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên thế giới. Ứng với mỗi nghiên cứu, khái niệm “khách du lịch” được định nghĩa dựa trên phương diện tiếp cận của nghiên cứu đó. Đến hiện tại, một số định nghĩa đáng quan tâm của “khách du lịch” có thể kể đến như: Nhà kinh tế học người Anh Ogilvie (1933) đã phát biểu: “khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường xuyên trong thời gian dưới 1 năm và chi tiêu tiền tại nơi họ đến mà không kiếm tiền ở đó.” Phải đảm bảo tất cả các trích dẫn phải được liệt kê trong tài liệu tham khảo Một khía cạnh tương tự, nhà xã hội học Erik Cohen (1974) cho rằng: “khách du lịch là một người tự nguyện rời khỏi nơi cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian nhất định, mong muốn được giải trí, khám phá những điều mời lại từ những chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên.” Đối với các tổ chức, họ cũng đưa ra những định nghĩa về “khách du lịch” của riêng mình. Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Khi đi vào góc độ hẹp hơn, các nghiên cứu cũng tập trung là sáng tỏ hai cá thể riêng biệt của khách du lịch. Theo đó, khách du lịch gồm: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. 6 van Khách du lịch quốc tế (Internation tourist) là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến. Ngoài ra, theo pháp lệnh du lịch Việt Nam còn quy định: khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist) là một người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đến một nơi khác trong quốc gia đó không phải nơi cư trú thường xuyên trong thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm với mục đích không phải để được trả lương. Thêm nữa, theo quan điểm marketing, khách du lịch được xem là một yếu tố quan trọng của hệ thống du lịch. Không có khách du lịch thì sẽ không có ngành du lịch và bằng việc am hiểu nhu cầu của khách du lịch, chúng ta có thể hiểu, dự báo và thực hiện phát triển ngành du lịch. Khách du lịch là chủ thể của hoạt động du lịch, chiếm địa vị quan trọng trong hoạt động du lịch.
Nó là chỗ dựa khách quan cho sự phát sinh và phát triển của ngành du lịch, lại là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản của khai thác kinh doanh, phục vụ của ngành du lịch, đồng thời còn là chỗ dựa chủ yếu để ngành du lịch thu được lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích văn hóa, là điều kiện cơ bản và tiền đề phát triển dựa vào đó mà tồn tại của các công ty du lịch và kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch. Như vậy, từ khái niệm khách du lịch trên cho thấy, những người đi khỏi nơi cư trú và ở lại bất kỳ điểm nào có diễn ra hoạt động du lịch với mục đích đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch mà không phải tìm kiếm thu nhập tại điểm đó trong thời gian từ 24 giờ đến dưới 12 tháng là được cho là khách du lịch. Vì thế, điểm đến du lịch là rất quan trọng đối với khách du lịch, ở đó khách du lịch sẽ lưu lại ít nhất 24 giờ để được trải nghiệm du lịch tại điểm đến du lịch đó.Tuy nhiên, thời gian lưu lại điểm đến phụ thuộc vào sức hấp dẫn so với mong đợi của khách du lịch có tạo được dấu ấn tốt đẹp trong tâm trí khách du lịch hay không? Thường được xem đó là cảm nhận bởi hình ảnh điểm đến. Nghiên cứu hình ảnh điểm đến với mục đích đạt được thông tin cho các quyết định marketing nhằm cải thiện hình ảnh điểm đến đối với khách du lịch trong nước, để thu hút họ quay lại du lịch lần sau, đồng thời kéo dài thời gian trải nghiệm, cũng 7 van như có thái độ tích cực truyền miệng về điểm đến cho khách du lịch mới là hết sức quan trọng.
Tổng quan về điểm đến du lịch 1. Các khái niệm, định nghĩa liên quan 1. Khái niệm về điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là một trong những khái niệm được sử dụng nhiều nhất ở lĩnh vực du lịch.Cho đến bây giờ, đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm điểm đến. Burkart và Medlik (1974, tr.
46) đã định nghĩa điểm đến du lịch như sau: “Một không gian địa lý được víếng thăm bởi khách du lịch, có thể là một trung tâm, ngôi làng, thị trấn, một quận hoặc một vùng lãnh thổ, một hòn đảo, một đất nước hoặc một châu lục. Điểm đến du lịch, được định nghĩa về mặt địa lý, chú trọng vào việc nghiên cứu sự di chuyển của du khách và các tác động đa dạng cùng với ý nghĩa của nó. Sự quan trọng của bất kỳ một không gian địa lý nào như là một điểm đến du lịch được xác định bởi ba yếu tố: các điểm tham quan, khả năng tiếp cận và các tiện nghi công cộng” Tiếp cận một cách đơn giản hơn, Leiper (1995) đã định nghĩa điểm đến là nơi mà khách du lịch đến và lựa chọn ở lại trong một khoảng thời gian trong lúc trải nghiệm những đặc tính nhất định hoặc những đặc điểm của một điểm tham quan.18) định nghĩa điểm đến du lịch là “không gian vật lý nơi mà khách du lịch lưu lại ít nhất một đêm”. Điểm đến bao gồm những sản phẩm du lịch như dịch vụ cung cấp, các điểm tham quan và tài nguyên du lịch.
Định nghĩa cửa UNWTO rộng và bao gồm tất cả các khía cạnh của điểm đến du lịch như dịch vụ du lịch, điềm tham quan du lịch, tài nguyên du lịch và không gian vật lý. Cụ thể hơn, điểm đến du lịch được hiểu như là một sự kết hợp giữa sản phẩm du lịch, trải nghiệm vả những thành phần vô hình khác được đưa ra bởi khách du lịch. Theo Cooper và cộng sự (1998, tr. 98), điểm đến là sự tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Về mặt không gian vật lý, điểm đến thường có ranh giới vật lý và hành chính để quản lý, có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường. Điểm đến địa phương có sự kết hợp của nhiều bên tham gia khác nhau, thông thường bao gồm cộng đồng sở tại có thế xây dựng mạng lưới để hình thành nên một điểm đến 8 van lớn hơn. Điểm đến có thể có nhiều quy mô, từ châu lục (Châu Á), một đất nước (ví dụ: Việt Nam), một vùng lãnh thổ (Miền Trung Việt Nam) hoặc một hòn đảo (ví dụ: Lý Sơn) cho đến một thành phố, thị trấn, một ngôi làng hoặc một trung tâm vui chơi giải trí (Disneyland) (UNWTO 2007, tr. Với cách tiếp cận trực tiếp hơn, Mill và Morrison ( 1992, tr.263) chỉ ra rằng: “Một điểm đến là hỗn hợp của các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.
Các yếu tố đó phụ thuộc lẫn nhau để tạo ra sự thỏa mãn cho trải nghiệm kỳ nghỉ của du khách, tất cả các yếu tố đó cần phải được thể hiện. Điểm đến được cấu tạo bởi các điểm tham quan - cơ sở vật chất - cơ sở hạ tầng - phương tiện vận chuyển - cơ sở lưu trú”. Tương tự quan điểm này nhưng với tính khái quát hơn, UNWTO (2007, tr. 13 – 14) đã đưa ra định nghĩa “điểm đến du lịch bao gồm một số các thành phần cơ bản thu hút khách du lịch đến với điểm đến và thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch khi họ đã đến”.
Những yếu tố cơ bản đó có thể được chia thành: điểm du lịch, tiện nghi, khả năng tiếp cận, hình ảnh, giá cả và nguồn nhân lực. Sự cung cấp và thực hiện những yếu tố quan trọng này sẽ ảnh hưởng đến quyết định của khách du lịch trong việc thực hiện chuyến đi. Đây cũng chính là khái niệm có tính phổ biến nhất hiện nay được sử dụng trong đa số các nghiên cứu về điểm đến du lịch nói chung và hình ảnh điểm đến du lịch nói riêng.2 Các thuộc tính của điểm đến du lịch Tiếp cận từ phía cung, thuộc tính của điểm đến được hiểu là tập hợp các thành phần cơ bản để thu hút khách du lịch và thỏa mãn nhu cầu của họ khi đến đó. Những thành phần cơ bản này có thể được chia thành các điểm du lịch – attractions (“những điểm phải tham quan” và “những thứ phải làm”) và những thành phần còn lại (Cho, 2000).
Sự cung cấp và chất lượng của những thành phần này sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định của khách du lịch. - Attractions (Điểm hấp dẫn du lịch): là những điểm lôi kéo được sự tập trung của khách du lịch và có thể là động lực quan trọng đối với việc lựa chọn điểm đến của khách du lịch. Các yếu tố hấp dẫn này có thể là tài nguyên tự nhiên (bãi biển, núi, công viên, thời tiết.), các di tích lịch sử văn hóa và các công trình kiến trúc, xây dựng như Đại Nội, tượng đài lịch sử, công trình kiến trúc tôn giáo, trung tâm hội nghị triển lãm, cơ sở vật chất thể thao.