mở đầu cuộc xâm lược và công cuộc khai thác thuộc địa một lần nữa làm biến đổi toàn bộ vùng đất Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XIX. Văn hóa do con người tạo ra nên không nhất thành bất biến mà liên tục thay đổi trong không gian và theo thời gian. Đó là sự thay đổi dựa trên chứ không phải là đoạn tuyệt với văn hóa của quá khứ. Williams đã vận dụng mô hình không - thời gian do Michel Foucault đề xuất trong Khảo cổ học về tri thức (Archeology of Knowledge) để lý giải những động năng của không gian văn hóa như trong Bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1: Sự trầm tích của không gian văn hóa Thời gian tuyến tính Thời gian trầm tích Thời gian được căn cứ vào sự chuyểnThời gian được tri nhận qua những vỉa động trong không gian.
tầng của không gian văn hóa. Hiện tại lồng trong quá khứ; tương lai lồng trong hiện tại. Không gian không thay đổi, chỉ có thờiCả không gian và thời gian thay đổi và gian thay đổi. được thể hiện theo các vỉa tầng dọc.
Có thể có bốn mô hình thời gian tuyến Thời gian gắn với không gian văn hóa. Trong hai mô hình, thời gian Hiện tại lồng trong quá khứ, tương chuyển động trong không gian (tương lai lồng trong hiện tại, quá khứ - hiện lai tiếp cận hiện tại); trong hai mô hình tại đồng hiện diện. còn lại, con người chuyển động trong không gian, còn thời gian vẫn đứng yên (trong đó có một mô hình hiện tại tiếp cận tương lai). 11 Quá khứ Hiện tại Tương lai Thời gian tuyến tính: vận động theo Thời gian khảo cổ học: sự lắng đọng tuyến tính trong không gian.
của các lớp không gian qua thời gian. Không gian không thay đổi, chỉ thời Không gian thay đổi theo thời gian; gian thay đổi. cả thời gian và không gian đều trải qua sự thay đổi. Thome Williams 2008] Foucault mô tả không gian văn hóa bao gồm các lớp không gian tích tụ lại qua thời gian, kết quả là một không gian bao gồm nhiều tầng vỉa mà ông gọi là các lớp trầm tích.
Các lớp trầm tích này không bao giờ “hóa thạch” mà có thể bị khuấy lên bất cứ lúc nào do những đổi thay hay biến động trong không gian văn hóa. Theo mô hình này, thời gian được lồng (embeded) vào không gian, hiện tại lồng trong quá khứ, tương lai lồng trong hiện tại. Nó khác với mô hình thời gian tuyến tính theo quan niệm truyền thống. Thome Williams phát triển mô hình không - thời gian này chi tiết hơn nữa khi mô tả thời gian như là sự tích lũy các tầng lớp tập quán xã hội trong không gian văn hóa.
Theo quan điểm của các tác giả trên, sở dĩ người ta có thể hiểu được hiện tại là bởi nó bắt nguồn từ quá khứ, được chuẩn bị sẵn từ trong quá khứ; những nghi thức, những kịch bản xã hội và những tập tục chi phối sự tương tác giữa người với người trong cuộc sống hằng ngày đã có từ trước; hiện tại và quá khứ gặp gỡ nhau và đồng-hiện diện (co-present); quá khứ không bao giờ chết đi, nó chỉ được định nghĩa lại, sửa đổi, hoặc làm mới để phù hợp với hiện tại (R. Điều này lý giải cho sự tồn tại bền bỉ của những quan niệm giá trị hay thành tố văn hóa trong một không gian văn hóa. Tiến thêm một bước nữa, Joel Bonnemaison lý giải về các không gian văn hóa được tái tạo bởi các cộng đồng dân nhập cư (immigrant). Theo ông, khi không gian sống thay đổi thì những giá trị văn hóa mà con người mang theo từ không gian văn hóa cũ cũng sẽ phải thay đổi theo, nhưng chúng sẽ không hoàn toàn biến mất, ít ra là trong thế hệ di cư đầu tiên.
Joel Bonnemaison nhận định rằng, trong các cuộc di cư của con người, “Lối sống của các nền văn hóa khác xâm nhập vào 12 các không gian văn hóa ở những khu vực mà một cộng đồng di cư tới trong hiện tại. Đồng hiện diện lúc này không chỉ là sự pha trộn giữa văn hóa cũ và văn hóa mới, mà còn là các nền văn hóa khác nhau pha trộn với nhau” (Joel Bonnemaison 2005: 10). Mặt khác, những người được đưa tới các nền văn hóa mới thường đem theo những giá trị và tập quán của họ ở không gian văn hóa cũ (Joel Bonnemaison 2005: 10). Sự lưu luyến căn tính cũ và nguyện vọng phục dựng không gian văn hóa quê hương của một số cộng đồng có ý thức bản sắc cao, điển hình như cộng đồng người Hoa, người Ý, người Mễ, người Việt.
trên đất Mỹ, có căn nguyên bởi “không gian văn hóa là một không gian mang tính biểu tượng chứa đầy cảm xúc và ý nghĩa, và ở dạng biểu hiện mạnh nhất, nó trở nên giống với một vùng đất thánh” (Joel Bonnemaison 2005: 47). Sự lý giải này có thể áp dụng cho cộng đồng người Hoa gốc Hoa Nam, vốn là những di thần nhà Minh có tư tưởng “bài Mãn phục Minh” và cộng đồng người Việt từ miền Bắc và miền Trung di cư tới Nam Bộ trong các thế kỷ XVII-XVIII. Nhìn sâu vào căn tính văn hóa cá nhân (personal cultural identity) của những nhóm dân di cư này, theo Rubén G. Rumbaut, do “bị đặt vào cùng lúc hai thế giới văn hóa, họ phải tự định nghĩa bản thân trong mối tương quan với các nhóm cư dân được tham chiếu tới khác (nhiều khi là không cùng tổ quốc/quê hương bản quán và ngôn ngữ mẹ đẻ với họ)” (Rumbaut 2005: 304).
Trong quá trình xây dựng căn tính mới, họ đụng độ, tiếp nhận, thích nghi, đồng hóa rất nhiều quy ước, giá trị và kỳ vọng của những nhóm khác. Kết quả của quá trình này là một căn tính “lai ghép” (hybrid identity) chịu ảnh hưởng của những nền tảng kinh tế - xã hội của cả văn hóa gốc lẫn văn hóa nơi họ đang sinh sống (Rumbaut: 2001). Những quan điểm nói trên sẽ được chúng tôi vận dụng để nghiên cứu hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho Việt có trải nghiệm văn hóa ở cả miền Trung quê cha (Huế) lẫn Nam Bộ quê mẹ (Gia Định) và sáng tạo văn học trong không gian văn hóa Nam Bộ suốt quãng đời thăng trầm trải dài hơn nửa thế kỷ. Khái niệm “không gian văn hóa” (cultural space) và khái niệm “vùng văn hóa” (cultural area), theo Damien Ehrhardt, được phân biệt bởi chính các khái niệm “không gian” và “vùng” như trong bảng sau: Bảng 1.
Sự phân biệt khái niệm “vùng” và khái niệm “không gian” Vùng Không gian Hai chiều Ba chiều hoặc nhiều hơn Hạn định, có phân giới Không hạn định, không có đường biên xác định 13 Có nhiều Thống nhất Ổn định Biến thiên Khép kín Mở [Nguồn: Damien Ehrhardt 2015: 2] Trong các thế kỷ XVII-XIX, “không gian văn hóa Nam Bộ” vẫn hoàn toàn nằm trong “vùng văn hóa Nam Bộ” chứ chưa vươn sang các khu vực khác (như thời kỳ sau 1975), do vậy, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình trong luận án này - “không gian văn hóa Nam Bộ” - là một “tập con” của “vùng văn hóa Nam Bộ”, nghiêng nhiều về phương diện văn hóa tinh thần. Những điều kiện tự nhiên và xã hội cùng lịch sử của vùng văn hóa này sẽ được đề cập đến ở những nét khái lược và hữu quan với đề tài của luận án. Những thành tố văn hóa vật chất cũng sẽ được mô tả chọn lọc, chủ yếu để làm rõ vai trò của chúng với sự hình thành các thành tố văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ. Các phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa Trong luận án này, chúng tôi vận dụng các quan điểm ký hiệu học văn hóa của Geertz Clifford xem “văn hóa là những mạng lưới và phân tích chúng không phải là việc của khoa học thực nghiệm mà của khoa học chú giải đi tìm nghĩa (meaning)” (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 16-17), kết hợp với quan điểm của Gerrt Hofstede xem các thành tố của văn hóa như các lớp vỏ củ hành: lớp ngoài cùng là biểu tượng (sự vật có tính vật chất mang chức năng biểu hiện một tư tưởng, một ý nghĩa trừu tượng, ví dụ như những cặp biểu tượng hoa-bướm, bến- thuyền, cọc-trâu.
biểu thị cho vai trò chủ động của người nam và thụ động của người nữ trong tình yêu), lớp tiếp theo là các nhân vật tiêu biểu (là những con người có những phẩm chất được một nền văn hóa đánh giá cao, do đó đóng vai trò như hình mẫu cho hành vi, ví dụ như những tướng lĩnh Nhật thời Phát-xít bị thế giới xem là tội phạm chiến tranh nhưng lại được tôn thờ như những anh hùng hy sinh vì nước tại Nhật Bản), lớp thứ ba là nghi lễ (những hành vi, cử chỉ, trang phục, ngôn từ, vẻ mặt. được quy ước và chi phối quan hệ tương tác giữa người với người, ví dụ như quy ước “nam ngoại nữ nội”, quy tắc “nam nữ thụ thụ bất thân”) và lớp cốt lõi là quan niệm về giá trị (sự phân biệt, đề cao, lựa chọn giữa yếu tố này với yếu tố khác, đặc điểm này với đặc điểm kia) (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 17) ví dụ như các quan điểm “trọng thương” và “trọng nông”… để 14 khảo sát và hệ thống hóa các biểu tượng, nhân vật, nghi lễ và giá trị của văn hóa Nam Bộ ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội Nghiên cứu lịch sử xã hội (social study) vốn là một lĩnh vực thuộc sử học, nghiên cứu các kinh nghiệm sống trong quá khứ của một xã hội nào đó, bao gồm: đời sống thường nhật, văn hóa vật chất, phong tục tập quán và các quan niệm luân lý. Lĩnh vực này phát triển mạnh vào thập niên 1960-1970 và hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến trong các khoa nghiên cứu lịch sử tại Anh, Canada, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.
Hướng tiếp cận và lý giải các hiện tượng văn học từ góc độ lịch sử xã hội (social study of literature) bắt đầu rộ lên vào những năm 1970 và đầu những năm 1980. Phương pháp này cũng có thể áp dụng với cả những thành phần nhỏ hơn của văn học, ví dụ như tác giả: nguồn gốc xuất thân, giáo dục, quan hệ xã hội, nhóm văn chương, quan hệ với giới truyền thông và xuất bản, giải thưởng và huy chương, đối tượng độc giả… Các phƣơng pháp của hình tƣợng học Theo các tác giả công trình Hình tượng học: Sự kiến tạo trong văn hóa và sự mô tả trong văn chương về tính cách dân tộc, lĩnh vực nghiên cứu này vốn khởi nguồn từ văn học so sánh (comparative literature) rồi được khai triển rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác.