Tổng quan luận án
Công trình Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ của nghiên cứu sinh Tạ Thị Thanh Huyền là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Nho Thìn (bảo vệ năm 2019).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của đề tài xuất phát từ nhận thức học thuật rằng văn học là bộ phận hữu cơ của văn hóa; việc tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học giúp phục nguyên đời sống thời đại sinh thành tác phẩm, khắc phục tình trạng "hiện đại hóa" khiên cưỡng các tác giả trung đại. Nguyễn Đình Chiểu là tác gia trung đại đầu tiên của Nam Bộ và của cả Việt Nam sáng tác hướng tới độc giả đại chúng trong toàn bộ sự nghiệp. Dù đã có xấp xỉ 700 tư liệu và công trình nghiên cứu về ông, phần lớn các bài viết trước đây chỉ giải quyết các vấn đề cục bộ hoặc tiếp cận từ các góc độ thi pháp học bên trong tác phẩm hay lịch sử tiếp nhận trong văn học nghệ thuật. Trước công trình này, chưa có nghiên cứu nào tiến hành khảo sát, phân tích toàn diện mối quan hệ tương tác hai chiều giữa nhân cách, văn chương Nguyễn Đình Chiểu với không gian văn hóa Nam Bộ – môi trường nuôi dưỡng tài năng của ông và ngược lại chịu sự tác động sâu sắc từ chính di sản của ông.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đặt Nguyễn Đình Chiểu và sự nghiệp sáng tác của ông vào hệ tọa độ văn hóa Nam Bộ nhằm xác định các thành tố văn hóa tác động đến sự hình thành nhân cách, văn chương của tác giả, đồng thời xem xét ảnh hưởng ở chiều ngược lại từ phía ông tới tiến trình phát triển của không gian văn hóa này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung đánh số:
- Xác định vị trí, tầm ảnh hưởng của các chủ thể văn hóa và các lớp trầm tích văn hóa mà các chủ thể này tạo ra trong quá trình cộng cư trên vùng đất Nam Bộ, từ đó rút ra hệ thống biểu tượng, nghi lễ, giá trị chiếm ưu thế trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.
- Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu để xác định các nhân vật và hệ giá trị của lớp trầm tích văn hóa hiện diện trong đó; phân tích cách tác giả sử dụng, cải biến các nhân vật và hệ giá trị đó cho phù hợp với nhãn quan Nho giáo của mình; liên hệ với bối cảnh thời đại cùng các tác giả, tác phẩm khác có liên quan để lý giải nguyên nhân của sự lựa chọn.
- Khảo sát các giai thoại về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu để rút ra nhận định chính xác về ông như một nhân cách văn hóa kiểu mẫu và truyền cảm hứng của vùng đất Nam Bộ.
- Khảo sát sự tiếp nhận đối với các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong ca dao, dân ca Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong sáng tác của các tác giả văn học miền Nam đầu thế kỷ XX theo hai xu hướng: tiếp nhận thuận chiều và phản tiếp nhận.
- Khảo sát các giai thoại về những tấm gương anh hùng nghĩa hiệp giống như Lục Vân Tiên ngoài đời thực để thấy được nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành một kiểu mẫu nam nhân lý tưởng đối với người dân Nam Bộ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự hình thành, tầm ảnh hưởng của nhân cách và văn thơ Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn:
- Về không gian: Vùng đất Nam Bộ theo địa giới hành chính hiện nay, tập trung vào trọng điểm lịch sử Gia Định – Đồng Nai.
- Về thời gian: Khảo sát tiến trình biến thiên của không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII (khi các dòng lưu dân Việt, Hoa bắt đầu định cư) cho đến đầu thế kỷ XX (giai đoạn giao thời Âu hóa và hiện đại hóa), cùng toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp trước tác của Nguyễn Đình Chiểu.
- Về nguồn tư liệu văn bản: Văn bản tác phẩm trích dẫn từ Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (2 tập) do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải (NXB Văn học, 1997); các tư liệu giai thoại khảo sát từ Nguyễn Đình Chiểu – về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn (NXB Giáo dục, 2001) và Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời do Thạch Phương chủ biên (Ty Văn hóa và Thông tin Bến Tre, 1982).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm lại lịch sử nghiên cứu tác gia Nguyễn Đình Chiểu qua các hướng tiếp cận chính:
- Hướng tiếp cận tiểu sử tác giả: Khởi đầu bằng các công trình của những người thân cận hoặc nhà nghiên cứu đầu thế kỷ XX như Mai Huỳnh Hoa ("Tiểu sử cụ Đồ Chiểu"), Phan Văn Hùm (Nỗi lòng Đồ Chiểu), và sau này là công trình tổng hợp của Nguyễn Thạch Giang ("Nguyễn Đình Chiểu – thân thế và sự nghiệp").
- Hướng tiếp cận lịch sử tư tưởng và đạo đức học: Chiếm vị trí chủ đạo tại miền Bắc giai đoạn 1954–1986 và miền Nam giai đoạn 1975–1986, tiêu biểu là các bài viết của Phạm Văn Đồng ("Nguyễn Đình Chiểu: ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc"), Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu ("Nguyễn Đình Chiểu, đạo làm người"), Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Đổng Chi ("Nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu"), Phan Ngọc ("Tính nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu"), Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đức Sự, Hồ Sĩ Hiệp – Hoài Anh. Hướng này tập trung vào các phạm trù trung hiếu tiết nghĩa, lòng yêu nước và tính nhân dân, phục vụ yêu cầu văn nghệ cách mạng thời chiến nhưng đôi khi có xu hướng hiện đại hóa tư tưởng của tác giả.
- Hướng tiếp cận văn học sử: Gồm các nghiên cứu của Nguyễn Lộc, Lê Ngọc Trà ("Nguyễn Đình Chiểu trong sự vận động của văn chương Việt Nam cận đại"), Trịnh Thị Thu Tiết ("Vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong văn học cận đại Nam Bộ"), Trần Ngọc Vương ("Những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu"). Các tác giả chỉ ra vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong sự vận động thể loại chữ Nôm, việc đưa hình tượng người nghĩa binh nông dân vào văn học, và vai trò khép lại một mô hình Nho sĩ trung đại để mở ra dòng văn học chống ngoại xâm mang tính toàn dân.
- Hướng tiếp cận thi pháp học và thể loại: Gồm chuyên luận Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam; bài viết "Nguyễn Đình Chiểu – người nghệ sĩ từ và trong truyện Nôm" của Trần Đình Hượu; công trình Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại của Kiều Thu Hoạch (xếp Lục Vân Tiên vào tiểu loại truyện Nôm bình dân).
- Hướng tiếp cận lịch sử tiếp nhận: Nổi bật là công trình Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu của Lê Văn Hỷ, khảo sát sự đón nhận của người cùng thời, giới phê bình, nhà trường và nghệ thuật biểu diễn.
- Hướng tiếp cận văn bản học và ngôn ngữ học: Lê Hữu ("Để có một văn bản Lục Vân Tiên gần với nguyên tác"), Hồng Dân ("Nguyễn Đình Chiểu, cái mốc lớn trên tiến trình của tiếng Việt văn học"), Hoàng Tuệ – Phạm Văn Hảo – Lê Văn Trường ("Tiếng địa phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu").
- Hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hóa: Các công trình của Lê Trí Viễn ("Lục Vân Tiên – một tác phẩm miền Nam"), Nguyễn Văn Trung ("Vài ý nghĩ về Đạo giáo và dân tộc, nhân kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu"), Ca Văn Thỉnh ("Truyền thống quật cường của Nam Bộ và Việt Nam với tinh thần đấu tranh của Nguyễn Đình Chiểu"), Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Văn Xuân (Khi những lưu dân trở lại, "Hiện tượng Lục Vân Tiên"), Cao Tự Thanh ("Hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa Việt Nam"), Huỳnh Như Phương ("Suy nghĩ về yếu tố đạo lý trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu"), Huỳnh Kỳ Sở, Nguyễn Quang Vinh, Huỳnh Ngọc Trảng ("Văn hóa truyền thống trong truyện Lục Vân Tiên và cuộc sống của tác phẩm"), Trần Nho Thìn ("Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn học Nam Bộ").
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: Các nghiên cứu văn hóa trước đây đa phần mang tính phân đoạn, tiểu luận ngắn hoặc chỉ khảo sát đơn lẻ một tác phẩm. Luận án thực hiện việc hệ thống hóa toàn diện các thành tố văn hóa cấu thành nên không gian văn hóa Nam Bộ (các lớp trầm tích Khmer, Việt, Hoa; sự hỗn dung tín ngưỡng; chính sách Nho giáo hóa của triều Nguyễn) tác động đến thế giới quan của Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời phân tích chiều tác động ngược lại của ông đến đời sống văn hóa, phong tục, nghi lễ và văn học Nam Bộ qua cả hai bình diện tiếp nhận thuận chiều và phản tiếp nhận.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai hướng nghiên cứu liên ngành văn học – văn hóa học với hệ thống lý thuyết và phương pháp cụ thể:
Hệ thống lý thuyết và khái niệm công cụ
- Khái niệm Văn hóa: Luận án vận dụng quan điểm ký hiệu học văn hóa của Clifford Geertz (văn hóa là những mạng lưới ý nghĩa cần được chú giải), kết hợp mô hình cấu trúc bốn lớp thành tố văn hóa của Geert Hofstede (lớp ngoài cùng là Biểu tượng; lớp thứ hai là Nhân vật tiêu biểu; lớp thứ ba là Nghi lễ; lớp cốt lõi trong cùng là Giá trị).
- Khái niệm Vùng văn hóa: Tiếp thu lý thuyết nhân học văn hóa của Clark Wissler, Alfred L. Kroeber và các nhà nghiên cứu Việt Nam như Ngô Đức Thịnh (1993), Đinh Gia Khánh – Cù Huy Cận (1995), Trần Quốc Vượng (1998) để xác lập vùng văn hóa Nam Bộ dựa trên các yếu tố địa lý, lịch sử, kinh tế, phong tục tập quán và sinh hoạt tinh thần.
- Khái niệm Không gian văn hóa:
- Vận dụng mô hình không – thời gian trầm tích của Michel Foucault trong Khảo cổ học về tri thức (Archeology of Knowledge) và sự phát triển lý thuyết của R. Thome Williams (2008): bác bỏ mô hình thời gian tuyến tính, xem không gian văn hóa gồm các lớp trầm tích lịch sử tích tụ, quá khứ và hiện tại đồng hiện diện (co-present), có thể bị khuấy đảo và tái tạo bởi hoàn cảnh mới.
- Vận dụng lý thuyết tái tạo không gian văn hóa của cộng đồng di cư theo Joel Bonnemaison (2005) để lý giải tâm thức lưu luyến bản sắc gốc của người Hoa Nam và lưu dân Việt.
- Vận dụng lý thuyết về căn tính lai ghép (hybrid identity) của Rubén G. Rumbaut (2001, 2005) đối với các nhóm dân cư di cư.
- Vận dụng tiêu chí phân biệt giữa "Vùng" và "Không gian" của Damien Ehrhardt (2015).
| Tiêu chí phân biệt |
Vùng (Cultural Area) |
Không gian (Cultural Space) |
| Chiều không gian |
Hai chiều |
Ba chiều hoặc nhiều hơn |
| Phân giới |
Hạn định, có phân giới |
Không hạn định, không có đường biên xác định |
| Số lượng |
Có nhiều |
Thống nhất |
| Trạng thái |
Ổn định |
Biến thiên |
| Cấu trúc |
Khép kín |
Mở |
Bảng: Phân biệt khái niệm "Vùng" và "Không gian" theo Damien Ehrhardt (2015)
| Mô hình |
Thời gian tuyến tính |
Thời gian trầm tích (Khảo cổ học) |
| Cơ sở tri nhận |
Căn cứ vào sự chuyển động trong không gian. |
Tri nhận qua những vỉa tầng của không gian văn hóa. |
| Mối quan hệ thời gian |
Quá khứ $\rightarrow$ Hiện tại $\rightarrow$ Tương lai nối tiếp. |
Hiện tại lồng trong quá khứ; tương lai lồng trong hiện tại; quá khứ - hiện tại đồng hiện diện. |
| Sự biến đổi |
Không gian không đổi, chỉ thời gian thay đổi. |
Cả không gian và thời gian thay đổi, thể hiện theo các vỉa tầng dọc. |
Bảng: Sự trầm tích của không gian văn hóa theo Foucault và R. Thome Williams (2008)
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận văn hóa: Khảo sát và hệ thống hóa các biểu tượng, nhân vật, nghi lễ và giá trị của văn hóa Nam Bộ tác động đến cuộc đời và tác phẩm của tác giả.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử – xã hội (Social study of literature): Phác thảo diện mạo đời sống sinh hoạt, xuất thân giáo dục, bối cảnh chính trị – xã hội của Nam Bộ thế kỷ XVII–XX tác động tới giới cầm quyền và tầng lớp sĩ phu.
- Phương pháp của Hình tượng học (Imagology): Khai thác theo Manfred Beller và Joep Leerson (2007) để phân tích các định kiến, diễn ngôn phân biệt Hoa – Di, sự xung đột giữa nhãn quan Nho giáo với Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa thực dân phương Tây.
- Phương pháp nghiên cứu tiếp nhận và phản tiếp nhận: Sử dụng lý thuyết người đọc và quá trình đọc của Wolfgang Iser, lý thuyết liên văn bản của Julia Kristeva, Mikhail Bakhtin, Gérard Genette, lý thuyết thể loại của Tzvetan Todorov, và đặc biệt là quan niệm về "phản tiếp nhận" như một hiện tượng đổi mới hệ hình văn hóa của Trần Đình Sử (1996).
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn 3 chuyên gia thuộc các lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu tại Nam Bộ nhằm bảo đảm tính xác thực của tư liệu địa phương.
- Thao tác bổ trợ: Thống kê, so sánh, đối chiếu văn bản (đối sánh Lục Vân Tiên với Truyện Kiều, tiểu thuyết Minh – Thanh, tuồng hát bội; đối sánh Dương Từ – Hà Mậu với Tây Dương Gia Tô bí lục).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này xác lập cơ sở phương pháp luận và lịch sử nghiên cứu của đề tài. Tác giả trình bày các khái niệm công cụ: vùng văn hóa (dẫn định nghĩa của Ngô Đức Thịnh 1993: 64), không gian văn hóa (Foucault, Williams, Bonnemaison, Rumbaut, Ehrhardt), xác định không gian văn hóa Nam Bộ là "tập con" của vùng văn hóa Nam Bộ, nghiêng về văn hóa tinh thần. Tác giả điểm lại toàn diện 6 hướng tiếp cận tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử nghiên cứu và khẳng định tính tất yếu của việc thực hiện một công trình chuyên khảo đặt tác gia vào tương tác hai chiều với không gian văn hóa Nam Bộ.
Chương 2: Các lớp trầm tích của ba chủ thể chính Khmer, Việt, Hoa trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
Chương 2 phục dựng diện mạo không gian văn hóa Nam Bộ qua các vỉa tầng lịch sử:
- Khái quát địa lý tự nhiên: Vùng đồng bằng phì nhiêu do hai hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai bồi đắp, mạng lưới sông rạch chằng chịt tạo lối sống gắn với thuyền ghe, tâm lý hào sảng không căn cơ; vị thế giao thương mở nhưng về mặt quân sự lại tạo điểm yếu "dễ công khó thủ", dẫn đến biến cố thực dân Pháp tấn công năm 1859.
- Lớp văn hóa ba chủ thể:
- Lớp văn hóa Khmer bản địa với tín ngưỡng Phật giáo Nam tông và dấu ấn tâm linh đa thần.
- Lớp văn hóa người Việt: Phân tích sự khác biệt giữa làng xã Bắc – Trung Bộ và làng xã Nam Bộ. Làng Nam Bộ có tính chất mở, không có luỹ tre khép kín, không phân biệt ngụ cư – chính cư, cơ sở công điền và hương ước yếu ớt, người dân mang cá tính ngang tàng, trọng nghĩa khinh tài.
- Lớp văn hóa người Hoa: Nhóm lưu dân "bài Mãn phục Minh" mang theo ý thức bảo lưu văn hóa gốc Hán, đóng góp vào thương nghiệp và sinh hoạt tín ngưỡng (thờ Quan Công, Thiên Hậu, Huyền Thiên Thượng Đế).
| Tiêu chí so sánh |
Làng xã Bắc - Trung Bộ |
Làng xã Nam Bộ |
| Tính cư trú |
Khép kín sau luỹ tre làng; phân biệt nghiêm ngặt dân chính cư và ngụ cư. |
Mở, trải dọc theo kênh rạch; không phân biệt dân gốc và dân ngụ cư. |
| Giáo dục Nho học |
Coi trọng thi cử ("nhất sĩ nhì nông"); làng có văn từ, văn chỉ, hội Tư văn, nhiều dòng họ khoa bảng. |
Ít chú trọng Nho học khoa cử; cơ sở văn từ, văn chỉ hiếm hoi; học hành không phải con đường tiến thân duy nhất. |
| Tính tự trị |
Tính tự trị rất cao ("phép vua thua lệ làng"); duy trì chặt chẽ bằng hương ước và công điền. |
Tính tự trị yếu; làng luôn có xu hướng mở ra giao lưu; hầu như không có hương ước và công điền. |
| Tính ổn định |
Tính ổn định cao, gắn chặt với đất đai thuần nông ("an cư lạc nghiệp"). |
Tính ổn định thấp, cư dân năng động, mang tâm lý dám phiêu lưu của lưu dân. |
Bảng: So sánh đặc điểm làng xã Bắc - Trung Bộ và Nam Bộ (tổng hợp tư liệu Chương 2)
- Tiến trình Nho giáo hóa và giáo dục thời Nguyễn tại Nam Bộ:
- Dưới thời các chúa Nguyễn: Năm 1715 dựng Văn miếu Trấn Biên. Giai đoạn 1647–1768, chúa Nguyễn tổ chức 7 kỳ thi (Chính đồ, Hoa văn, Nhiêu học, Thám phỏng), lấy đỗ 219 người.
- Thời vua Gia Long: Mở khoa thi Hội tại Gia Định từ năm 1796.
- Thời vua Minh Mạng: Áp đặt quyền cai trị trực tiếp sau khi Lê Văn Duyệt qua đời; lập trường học, cử quan chức giáo dục từ cấp tỉnh/phủ/huyện, cấp phát sách kinh điển Trung Hoa (từ 1835); ban hành Thập điều (đôn nhân luân, chính tâm thuật, vụ bản nghiệp, thượng tiết kiệm, hậu phong tục, huấn tử đệ, sùng chính học, giới dâm thắc, thận pháp thủ, quảng thiện hành) để bô lão giảng giải tại đình 3 tháng một lần.
- Tổng kết khoa cử Nho học: Từ kỳ thi hương đầu tiên thời Gia Long đến kỳ thi cuối cùng năm 1864, triều Nguyễn tổ chức 20 kỳ thi hương tại trường thi Gia Định, tuyển chọn được 281 cử nhân, nhưng chỉ có 4 người đỗ đại khoa (tiến sĩ/phó bảng).
- Lớp văn hóa nhóm người Việt theo đạo Thiên Chúa: Du nhập từ thế kỷ XVI; bị chúa Nguyễn cấm từ 1644, gay gắt với chỉ dụ ngày 24/4/1750 của Chúa Nguyễn Phúc Khoát (sau sắc lệnh cấm thờ cúng tổ tiên của Giáo hoàng Benoit XIV năm 1744). Thời nội chiến, Nguyễn Ánh hợp tác với Giám mục Bá Đa Lộc (gửi Hoàng tử Cảnh), lập chủng viện tại Lái Thiêu (1798). Sang thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, triều đình ban bố hàng loạt sắc chỉ cấm đạo triệt để do xung đột ý thức hệ Nho giáo (bất đồng về việc không lạy bàn thờ tổ tiên, luật hôn nhân một vợ một chồng), vụ binh biến Phiên An, và nỗi lo giáo dân làm nội ứng cho thực dân Pháp xâm lược (1858).
- Sinh hoạt văn học – nghệ thuật: Sự ra đời của Bạch Mai thi xã (Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Tôn Thọ Tường) với đặc trưng sáng tác thơ Nôm giáo dục đại chúng; nghệ thuật tuồng – hát bội phát triển mạnh (dòng tuồng đồ, tuồng quân quốc đề cao mâu thuẫn trung – nịnh như Sơn hậu, Tam nữ đồ vương, An trào kiếm, Kim Thạch kỳ duyên).
Chương 3: Ảnh hưởng từ không gian văn hóa Nam Bộ tới sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Chương 3 phân tích cách thức các yếu tố văn hóa Nam Bộ định hình nội dung và thi pháp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
- Ảnh hưởng của Nho giáo Nam Bộ:
- Thể hiện tư tưởng "chính khí" và tinh thần "xả sinh thủ nghĩa" kế thừa từ Võ Trường Toản và tác phẩm Chính khí ca của Văn Thiên Tường (được Nguyễn Đình Chiểu dịch ra chữ Nôm).
- Xuất hiện các biểu hiện "lệch chuẩn" Nho giáo truyền thống: chấp nhận hành vi tự do vượt lễ giáo phong kiến vì nghĩa lớn, đề cao chữ "nghĩa" và tính thực tiễn hơn là các nghi thức kinh viện.
- Thái độ bài Phật giáo, bài Thiên Chúa giáo và cự tuyệt văn minh phương Tây trong hai truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều y thuật vấn đáp. Luận án giải thích thái độ này bắt nguồn từ lập trường bảo vệ đạo Nho chính thống và ý thức hệ dân tộc trước họa ngoại xâm.
- Ảnh hưởng của tín ngưỡng – tôn giáo và nghi lễ: Dấu ấn của triết lý âm dương ngũ hành, tín ngưỡng thờ Huyền Thiên Thượng Đế (ảnh hưởng văn hóa người Hoa), quan niệm dân gian về "âm chất – âm công" (làm việc thiện tích đức kín đáo) chi phối cốt truyện và hành động nhân vật.
- Hệ thống kiểu mẫu nhân cách lý tưởng:
- Lục Vân Tiên: Kiểu mẫu nhân cách quân tử đặc sắc Nam Bộ – hành động nghĩa hiệp ("giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha"), trọng nghĩa khinh tài.
- Kiều Nguyệt Nga: Kiểu mẫu nhân cách liệt nữ – thủy chung, giữ trọn tiết hạnh.
- Kỳ Nhân Sư: Kiểu mẫu nhân cách ẩn sĩ – lánh đời bảo toàn khí tiết khi nước mất.
- Trương Định, Phan Tòng: Những tấm gương anh hùng thủ lĩnh kháng chiến kiên trung.
- Người nghĩa binh nông dân: Trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác giả lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc xây dựng thành công tượng đài tập thể anh hùng vô danh xuất thân từ nông dân nghèo khó, tự nguyện đứng lên vì nghĩa lớn.
- Ảnh hưởng của nghệ thuật Việt, Hoa: Tiếp thu nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết chương hồi Minh – Thanh; tiếp biến thi pháp truyện thơ Nôm (kết hợp lối kể chuyện dân gian với tinh thần tải đạo); ảnh hưởng sâu sắc từ nghệ thuật tuồng – hát bội trong việc phân tuyến nhân vật thiện – ác rạch ròi, kết cấu kịch tính và ngôn ngữ giàu tính hành động, đối thoại.
Chương 4: Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu tới không gian văn hóa Nam Bộ
Chương 4 khảo sát chiều tác động ngược lại của tác giả đối với vùng đất Nam Bộ:
- Nhân cách truyền cảm hứng: Nguyễn Đình Chiểu được người dân Nam Bộ tôn vinh ở ba phương diện: con người vượt lên nghịch cảnh mù lòa tật nguyền; bậc thầy đáng kính (kết hợp ba vai trò: thầy giáo dạy học, thầy thuốc cứu người, nhà thơ tải đạo); kẻ sĩ bất khuất giữ trọn khí tiết trước sự mua chuộc của chính quyền thực dân.
- Tác động văn học và tư tưởng: Đóng vai trò là người truyền bá các chuẩn mực đạo lý Nho giáo chính thống từ không gian văn hóa Huế vào Nam Bộ thông qua hình thức "nói thơ" bình dân, giúp đạo lý Nho gia hòa quyện sâu sắc vào nếp sống của quần chúng lao động.
- Khảo sát trường hợp tiếp nhận truyện thơ Lục Vân Tiên:
- Tiếp nhận thuận chiều: Tác phẩm trở thành "món ăn tinh thần", được diễn xướng trong đời sống hằng ngày (nói thơ Vân Tiên); đi vào ca dao dân ca Nam Bộ và Bình – Trị – Thiên (văn bản ghi nhận Huỳnh Ngọc Trảng thống kê được 56 câu dân ca sử dụng điển cố từ truyện Lục Vân Tiên); hình tượng Vân Tiên trở thành chuẩn mực đạo đức cho các nghĩa sĩ ngoài đời thực.
- Phản tiếp nhận: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi và truyện thơ chữ quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX cải biến cốt truyện theo tư duy mới (như Bùi Kiệm kim thời, Đơn Bùi Kiệm kiện Võ Phi Loan, Đơn Nguyệt Nga minh oan cho Bùi Kiệm, Thơ Vân Tiên cờ bạc). Hiện tượng này phản ánh sự chuyển đổi hệ hình tư duy của thị dân miền Nam trước làn sóng văn hóa phương Tây.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định hai đóng góp học thuật và thực tiễn:
- Về mặt lý luận và khoa học: Xác định và phân tích toàn diện các nhân tố cấu thành nên nhân cách và văn chương của Nguyễn Đình Chiểu từ không gian văn hóa Nam Bộ, bao gồm: văn hóa lưu dân người Việt; văn hóa lưu dân người Hoa; văn hóa vùng Thuận – Quảng với trung tâm là kinh đô Huế; công cuộc Nho giáo hóa và Việt hóa của triều Nguyễn; chủ trương bài Thiên Chúa giáo và cự tuyệt phương Tây của triều đình và tầng lớp văn thân; phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ.
- Về mặt thực tiễn văn học sử: Xác định vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng sâu rộng của Nguyễn Đình Chiểu cùng sự nghiệp văn chương đối với không gian văn hóa Nam Bộ trong lịch sử và đương đại; chứng minh ông là người tổng hợp, tạo dựng và lưu truyền các kiểu mẫu nhân cách lý tưởng (người quân tử nghĩa hiệp, liệt nữ, ẩn sĩ, nghĩa binh nông dân) cùng các giá trị đạo đức bền vững của văn hóa phương Nam.
Ứng dụng và kiến nghị đề xuất: Các phát hiện của luận án cung cấp căn cứ khoa học để ứng dụng vào việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong chương trình ngữ văn tại các trường phổ thông, cao đẳng và đại học, giúp người học tiếp cận di sản tác gia từ góc nhìn văn hóa đa chiều, khắc phục lối phân tích xã hội học dung tục hoặc xơ cứng trước đây.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát không gian văn hóa Nam Bộ trong khung thời gian từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX; tập trung chủ yếu vào các biểu hiện của văn hóa tinh thần; phần nghiên cứu về hiện tượng "phản tiếp nhận" trong các trước tác chữ quốc ngữ đầu thế kỷ XX mới dừng lại ở việc khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu mà chưa bao quát toàn bộ diện mạo báo chí và văn xuôi Nam Bộ giai đoạn giao thời.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát hiện tượng tiếp nhận và phản tiếp nhận di sản Nguyễn Đình Chiểu trong toàn bộ các dòng văn học, kịch bản sân khấu cải lương và báo chí chữ quốc ngữ tại Nam Bộ xuyên suốt nửa đầu thế kỷ XX; đồng thời mở rộng so sánh đối chiếu với sự tiếp nhận tác phẩm tại các vùng văn hóa Bắc Bộ và Trung Bộ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học; giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Khung lý thuyết liên ngành về địa văn hóa, không gian văn hóa trầm tích (Foucault, Williams, Hofstede, Bonnemaison, Ehrhardt) tại Chương 1.
- Hệ thống tư liệu lịch sử – xã hội, phân tích làng xã Nam Bộ và số liệu khoa cử Nho học triều Nguyễn tại Chương 2.
- Các phân tích thi pháp học văn hóa về hình tượng người nghĩa binh nông dân và sự tích hợp tuồng hát bội, truyện thơ Nôm tại Chương 3.
- Chuyên đề về tiếp nhận và hiện tượng phản tiếp nhận tác phẩm Lục Vân Tiên tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án vận dụng mô hình cấu trúc văn hóa của Geert Hofstede như thế nào trong việc phân tích Nguyễn Đình Chiểu?
Trả lời: Luận án vận dụng mô hình 4 lớp vỏ văn hóa của Geert Hofstede (Biểu tượng $\rightarrow$ Nhân vật $\rightarrow$ Nghi lễ $\rightarrow$ Giá trị) để phân tích thế giới nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu: lớp biểu tượng (hình ảnh sông nước, cây cỏ, vũ khí thô sơ); lớp nhân vật tiêu biểu (Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Kỳ Nhân Sư, người nghĩa binh nông dân); lớp nghi lễ (các quy tắc ứng xử Nho gia kết hợp phong tục bình dân); và lớp lõi giá trị (tinh thần nghĩa hiệp, lòng yêu nước, đạo lý trung hiếu tiết nghĩa).
2. Luận án đưa ra những cứ liệu lịch sử nào về khoa cử Nho học của triều Nguyễn tại Nam Bộ?
Trả lời: Luận án dẫn số liệu thống kê lịch sử: thời chúa Nguyễn (1647–1768) tổ chức 7 kỳ thi lấy đỗ 219 người; từ thời vua Gia Long đến kỳ thi hương cuối cùng năm 1864, triều Nguyễn tổ chức 20 kỳ thi hương tại trường thi Gia Định, tuyển chọn được 281 cử nhân, trong đó chỉ có 4 người đỗ đại khoa.
3. Vì sao Nguyễn Đình Chiểu thể hiện thái độ bài Thiên Chúa giáo gay gắt trong tác phẩm Dương Từ – Hà Mậu?
Trả lời: Dựa trên bối cảnh lịch sử và phân tích hình tượng học, luận án chỉ ra rằng Nguyễn Đình Chiểu nhìn nhận đạo Thiên Chúa gắn liền với hiểm họa xâm lăng của thực dân Pháp và sự đe dọa làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức, phong tục thờ cúng tổ tiên truyền thống của Nho giáo và dân tộc.
4. Khái niệm "phản tiếp nhận" được tác giả luận án làm rõ qua những dẫn chứng nào?
Trả lời: Vận dụng quan điểm của Trần Đình Sử, luận án khảo sát các tác phẩm văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX như Bùi Kiệm kim thời, Đơn Bùi Kiệm kiện Võ Phi Loan, Đơn Nguyệt Nga minh oan cho Bùi Kiệm, Thơ Vân Tiên cờ bạc – nơi các nhân vật được tái tạo ngược chiều với tư tưởng nguyên tác nhằm thích ứng với hệ hình văn hóa thị dân mới.
5. Luận án lý giải thế nào về sự xuất hiện của hình tượng người nghĩa binh nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?
Trả lời: Hình tượng này là sự kết tinh giữa lý tưởng xả thân vì nghĩa của Nho giáo với hiện thực đấu tranh quật khởi của nhân dân Nam Bộ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1859), đánh dấu bước chuyển biến trong văn học dân tộc khi lần đầu tiên người nông dân lao động bình dân được khắc họa với tư cách những người anh hùng cứu nước.
Kết luận
Luận án Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ của Tạ Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu văn học sử vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học và địa văn hóa. Công trình đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống các vỉa tầng trầm tích văn hóa cấu thành nên nhân cách và thi pháp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời chứng minh tầm ảnh hưởng sâu rộng của tác gia đối với sự định hình hệ giá trị văn hóa tinh thần của vùng đất Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu và lý luận góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy di sản tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình văn học dân tộc.