Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ được tác giả Nguyễn Hữu Thụ thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Hữu Vui. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng với sự song hành của các tôn giáo du nhập (Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo), các tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Hòa Hảo) và hệ thống tín ngưỡng bản địa (thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Mẫu). Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt là loại hình tín ngưỡng dân gian tích hợp ba lớp thờ: thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ – Tứ phủ. Loại hình này đóng vai trò quan trọng trong việc cấu thành bản sắc văn hóa truyền thống, phản ánh sự tôn vinh phụ nữ, bảo lưu đạo lý "uống nước nhớ nguồn", truyền thống chống ngoại xâm và cố kết cộng đồng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, sinh hoạt thờ Mẫu cũng nảy sinh các biểu hiện bị lợi dụng thành mê tín dị đoan, gây lãng phí kinh tế và thời gian. Về mặt định hướng chính sách, Hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta" và yêu cầu "giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân".

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu dưới góc độ văn hóa học, nhân học, văn học, nghệ thuật và lịch sử, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ triết học nhằm làm rõ thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm về con người, tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích: Phân tích khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  • Nhiệm vụ:
    1. Tìm hiểu những cơ sở ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ; khái lược lịch sử phát triển, điện thờ và một số nghi lễ cơ bản.
    2. Khái quát những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ thông qua quan niệm về con người, tự nhiên, về mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên.
    3. Chỉ ra những xu hướng vận động hiện nay của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ; trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm phát huy những giá trị và hạn chế những tiêu cực của loại hình tín ngưỡng này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Khía cạnh triết học với trọng tâm là quan niệm về con người, tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với xã hội (tập trung khai thác chủ yếu ở lớp thờ Tam phủ – Tứ phủ đã lược bỏ các dị biệt cục bộ).
    • Không gian địa lý: Vùng đồng bằng Bắc Bộ, gồm các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, cùng một phần của Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình nghiên cứu tiền nhiệm thành ba nhóm chính:

                                TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Tín ngưỡng dân gian chung]   [Chuyên sâu về thờ Mẫu]             [Góc độ triết học]
- Nguyễn Đăng Duy             - Ngô Đức Thịnh (chủ biên)          - Trần Đăng Sinh (2001)
- Nguyễn Đức Lữ (chủ biên)    - Nguyễn Hữu Thông (chủ biên)       (Nghiên cứu thờ cúng tổ
- Nguyễn Minh San             - Vũ Ngọc Khánh, Đặng Văn Lung      tiên; khoảng trống thờ Mẫu
- Ngô Đức Thịnh (chủ biên)    - Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc    dưới góc độ triết học)
- Bài báo: Nguyễn Tri Nguyên, - Nguyễn Ngọc Mai, Barley Norton,
  Nguyễn Quốc Phẩm            Frank Proschan, Laurel Kendall...

1. Các công trình về tín ngưỡng dân gian nói chung

  • Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy: Cho rằng Việt Nam không có tôn giáo thuần túy bản địa mà có ba hình thái tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên, thờ Thần và thờ Mẫu. Tác giả khẳng định cốt lõi thờ Mẫu là khát vọng sinh sản, biểu tượng đầu tiên là Mẹ Cây; phân tích hiện tượng đồng bóng dưới dạng Shaman giáo và hình tượng Mẫu Liễu Hạnh thế kỷ XVI–XVII.
  • Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam do Nguyễn Đức Lữ chủ biên: Định nghĩa tín ngưỡng dân gian là bộ phận của văn hóa dân gian, do nhân dân sáng tạo trên cơ sở tri thức kinh nghiệm cảm tính; định danh thờ Mẫu là hình thức tôn vinh phụ nữ làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu.
  • Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San: Sử dụng thuật ngữ "tín ngưỡng dân dã" để chỉ tín ngưỡng phồn thực, sùng bái tự nhiên và sùng bái con người; xác định thờ Mẫu xuất phát từ ý thức tưởng nhớ tổ tiên và tiếp nhận ảnh hưởng Đạo giáo.
  • Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam do Ngô Đức Thịnh chủ biên: Khảo cứu sáu loại hình tín ngưỡng dân gian, tiếp cận "Đạo Mẫu" dưới góc độ văn hóa, phân tích hệ thống điện thờ, thần tích và nghi lễ hầu đồng.
  • Các bài báo chuyên ngành: Nguyễn Tri Nguyên (2004) về bản chất tín ngưỡng dân gian, Nguyễn Quốc Phẩm (1998) về phân định tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan.

2. Các công trình chuyên sâu về tín ngưỡng thờ Mẫu

  • Đạo Mẫu ở Việt Nam (2 tập, 2002) do Ngô Đức Thịnh chủ biên: Khảo sát toàn diện hệ thống thần tích, truyền thuyết, điện thần, lễ hội thờ Mẫu ba miền (Bắc Bộ, Huế, Nam Bộ) và tập hợp hệ thống văn bản bài hát văn.
  • Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á (2001) do Ngô Đức Thịnh chủ biên: Kỷ yếu hội thảo quốc tế chỉ rõ cấu trúc ba lớp thờ (Nữ thần, Mẫu thần, Tam phủ – Tứ phủ) và các nghiên cứu so sánh của học giả quốc tế (Frank Proschan, Barley Norton, Laurel Kendall).
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông chủ biên: Phân tích biểu tượng Thiên Y A Na và các di tích như Điện Hòn Chén.
  • Tục thờ Đức Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần của Vũ Ngọc Khánh; Văn hoá Thánh Mẫu của Đặng Văn Lung; Các nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc; Nữ thần và thánh Mẫu Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà (thống kê 117 thần tích và danh mục 362 vị nữ thần).
  • Nghiên cứu về nghi lễ và diễn xướng: Hát văn (Ngô Đức Thịnh chủ biên); Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận (Ngô Đức Thịnh); Hiện tượng lên đồng trong bối cảnh đổi mới (Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Mai); cùng các nghiên cứu của Trần Lâm Biền, Đinh Gia Khánh, Lã Duy Lan, Văn Ty, Phạm Quỳnh Phương, Trương Sỹ Hùng, Trần Đăng Sinh.

3. Hướng tiếp cận triết học và khoảng trống luận án giải quyết

  • Công trình tiêu biểu: Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay của Trần Đăng Sinh (2001), phân tích quan niệm về không gian, thời gian, con người, đạo hiếu và sự biến đổi của tín ngưỡng thờ tổ tiên.
  • Khoảng trống khoa học: Tính đến thời điểm thực hiện (2013), chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ triết học nhằm giải thích thế giới quan, nhân sinh quan và quy luật vận động của loại hình tín ngưỡng này.
Hướng tiếp cận Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung trọng tâm
Tín ngưỡng dân gian tổng thể Nguyễn Đăng Duy, Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Minh San, Ngô Đức Thịnh Định vị loại hình, cấu trúc điện thờ, nguồn gốc dân gian và sinh hoạt cộng đồng.
Văn hóa – Nhân học & Nghi lễ Ngô Đức Thịnh, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Ngọc Mai, Đặng Văn Lung Lịch sử hình thành Thánh Mẫu, hệ thống thần tích nữ thần, nghi lễ lên đồng, hát văn và hiện tượng Shaman giáo.
Triết học Trần Đăng Sinh (nghiên cứu thờ cúng tổ tiên) Phân tích quan niệm không gian, thời gian, con người; đặt nền tảng phương pháp luận cho nghiên cứu tín ngưỡng dân gian dưới góc độ triết học.
Khoảng trống luận án giải quyết Nguyễn Hữu Thụ (Luận án tiến sĩ, 2013) Hệ thống hóa khía cạnh triết học của tín ngưỡng thờ Mẫu: vũ trụ quan Tứ phủ, quan niệm nhân sinh, mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các lý thuyết áp dụng

Luận án sử dụng sáu khung lý thuyết khoa học chuyên ngành và liên ngành:

  1. Lý thuyết xung đột (Sigmund Freud, Anton Boisen): Freud giải thích nguồn gốc tôn giáo từ "phức cảm Ơdíp", các xung đột bản năng vô thức (id, libido) và sự kiểm duyệt của siêu tôi (superego), khẳng định tôn giáo có chức năng an ủi tâm lý nội tâm. Anton Boisen phân tích khủng hoảng tâm thần và lo âu đạo đức, coi tôn giáo là sự điều chỉnh xung đột nhằm thiết lập lòng trung thành và các chuẩn mực đạo đức.
  2. Lý thuyết nhân cách (Gordon W. Allport): Tiếp cận hệ thống cấu trúc nhân cách, giải thích sự hình thành tình cảm tôn giáo sâu sắc dựa trên hệ thống mục đích, sở thích và định hướng tương lai của cá nhân trong tương tác xã hội.
  3. Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa (Nhân học Anglo-Saxon thế kỷ XIX): Phân tích sự tương tác trực tiếp, lâu dài giữa các nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi thành tố nhưng vẫn duy trì bản sắc cốt lõi qua con đường tự nguyện hoặc cưỡng bức.
  4. Lý thuyết vùng văn hóa: Nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường sinh thái địa lý, quá trình định cư lịch sử và phương thức sản xuất với việc hình thành sắc thái văn hóa đặc trưng của cư dân một vùng lãnh thổ.
  5. Lý thuyết chức năng (Auguste Comte, Émile Durkheim): Durkheim (Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo, 1912) phân tích sự phân biệt giữa cái thiêng liêng và cái phàm tục, sự sôi động tập thể, khẳng định tôn giáo thực hiện chức năng duy trì và biểu đạt ý thức tập thể, cố kết trật tự xã hội.
  6. Lý thuyết nhân học biểu tượng (Victor Turner): Tiếp cận thông qua tác phẩm Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu, xem các biểu tượng, hành vi và không gian nghi lễ là phương thức chuyển tải ý nghĩa xã hội và cấu trúc quan hệ nhân văn.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể được phân bổ theo từng chương:
    • Chương 1: Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử – cụ thể.
    • Chương 2: Phương pháp lịch sử – cụ thể, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh.
    • Chương 3: Phương pháp lịch sử – cụ thể, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, kết hợp điền dã và phỏng vấn sâu.
    • Chương 4: Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống.

Hệ thống khái niệm công cụ

  • Tín ngưỡng dân gian: Loại hình tín ngưỡng ra đời sớm trong lịch sử, tồn tại chủ yếu ở cộng đồng làng xã, có khả năng tự biến đổi theo hoàn cảnh bởi sự bổ sung tri thức trực quan đời thường của người lao động (trước hết là nông dân) trong sinh sống, sản xuất, gắn liền với sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán.
  • Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ: Cộng đồng người Việt (Kinh) sinh sống trên địa bàn tạo bởi hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình.
  • Mẫu: Danh từ gốc Hán-Việt chỉ người mẹ (mụ, mạ, mế), người phụ nữ sinh thành; nghĩa rộng là sự tôn xưng nhân vật nữ (thực hoặc huyền thoại như Âu Cơ, Liễu Hạnh) và biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở của vạn vật.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ: Loại hình tín ngưỡng dân gian tích hợp ba lớp thờ (Nữ thần, Mẫu thần, Tam phủ – Tứ phủ) với niềm tin vào quyền năng của Mẫu – đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của tự nhiên, xã hội, con người.
    • Thờ Nữ thần: Lớp thờ xuất hiện sớm nhất, đối tượng là các vị thần mang tính nữ.
    • Thờ Mẫu thần: Phát triển từ thờ Nữ thần, tôn xưng các vị thần nữ có công đức hoặc quyền năng thành Mẫu.
    • Thờ Tam phủ – Tứ phủ: Hình thành khoảng thế kỷ XVI, khái quát hóa hệ thống thần linh thành ba hoặc bốn vị Thánh Mẫu quản lý bốn miền vũ trụ: Mẫu Thượng Thiên (Trời – Thiên phủ), Mẫu Thượng Ngàn (Rừng – Nhạc phủ), Mẫu Thoải (Nước – Thoải phủ), Mẫu Địa (Đất – Địa phủ).
  • Các thuật ngữ thực hành nghi lễ:
    • Hầu bóng / Hầu đồng (Lên đồng): Nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị Thánh Tam phủ – Tứ phủ vào thân xác ông đồng, bà đồng để phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc.
    • Ông đồng, bà đồng: Tín đồ có căn đồng đã thực hiện nghi lễ trình đồng mở phủ.
    • Con nhang, đệ tử: Con nhang là người đã làm lễ Đội bát nhang (Tôn nhang bản mệnh) gửi vào đền phủ; đệ tử là người có niềm tin nhưng chưa gửi bát nhang.
    • Thủ nhang, đồng đền: Người quản lý đền phủ và tổ chức nghi thức hành lễ.
    • Giá đồng: Khoảng thời gian tính từ khi Thánh nhập vào thân xác thanh đồng đến khi Thánh thăng.
    • Cung văn: Người sáng tạo, thực hiện các bài bản văn và làn điệu âm nhạc ca ngợi công đức thánh thần trong buổi lễ.
    • Hầu dâng (Tứ trụ): Bốn người (hoặc hai người) ngồi bốn góc trợ giúp thanh đồng thắp hương, dâng rượu, trầu, thay đổi trang phục và phát lộc.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN ÁN

  • Nội dung cơ bản: Chương này hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nước và quốc tế; xác lập khoảng trống nghiên cứu triết học; trình bày sáu lý thuyết nền tảng (xung đột, nhân cách, giao lưu tiếp biến văn hóa, vùng văn hóa, chức năng, nhân học biểu tượng); xác định phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp liên ngành; định nghĩa chuẩn xác hệ thống khái niệm công cụ sử dụng trong toàn bộ luận án.

CHƯƠNG 2. KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

  • Điều kiện địa – văn hóa: Đồng bằng Bắc Bộ được kiến tạo bởi phù sa sông Hồng và sông Thái Bình. Phù sa sông Hồng bồi đắp ước tính 100 triệu tấn/năm, độ pH trung tính (7,0), hàm lượng đạm 14g/m³, mùn 2,76–3,84g/m³; phù sa sông Thái Bình có độ pH thấp hơn (4,2–6,0). Tổng diện tích đất phù sa mới tại trung tâm đồng bằng đạt khoảng 642.000 ha (sông Hồng chiếm 455.000 ha, các sông khác chiếm 187.000 ha). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 22,5–23,5°C, lượng mưa trung bình 1400–2000 mm nhưng phân bố thất thường, thường xuyên đối mặt lũ lụt, hạn hán và bão biển. Điều kiện này buộc cư dân trồng lúa nước phải dựa vào kinh nghiệm và hình thành tâm lý cầu viện các lực lượng tự nhiên.
  • Điều kiện kinh tế – xã hội:
    • Tiến trình khảo cổ: Cư dân văn hóa Sơn Vi (20.000–15.000 năm TCN) sống bằng săn bắt, hái lượm; văn hóa Hòa Bình (khoảng 10.000 năm trước) bắt đầu thuần dưỡng thực vật họ đậu, bầu bí; văn hóa Đông Sơn đánh dấu thời kỳ kim khí với nghề trồng lúa nước hai vụ và chăn nuôi đại gia súc, dẫn đến sự dịch chuyển cư trú từ vùng núi xuống đồng bằng trũng, thực hiện trị thủy và lập làng.
    • Cấu trúc làng xã và gia đình: Thống kê của Pierre Gourou (1936) ghi nhận vùng đồng bằng Bắc Bộ có 7.000 làng, diện tích trung bình 200 ha, quy mô dân số bình quân 1.000 người/làng (một số làng lớn như Hải Thịnh, Hải Hậu có trên 10.000 dân). Làng xã chuyển dịch từ công xã thị tộc sang làng tiểu nông phụ quyền từ thế kỷ XV với sự xác lập quyền tư hữu ruộng đất nhỏ lẻ, manh mún.
    • Vị thế của phụ nữ và "Nguyên lý Mẹ": Trong nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông "chồng cày, vợ cấy", phụ nữ giữ vai trò chủ chốt trong canh tác, thủ công nghiệp và thương nghiệp chợ quê ("tay hòm chìa khóa"). Về mặt pháp lý lịch sử, Bộ luật Hồng Đức (năm 1471 và 1478) và Lê Triều hình luật (Điều 345) quy định: con gái có quyền thừa kế hương hỏa khi gia đình không có con trai, tài sản của cha mẹ được chia đều cho con gái ngang bằng con trai, và phụ nữ có quyền yêu cầu hủy hôn nếu người nam phạm tội hoặc mắc ác tật. Truyền thống "nội thân, ngoại thích" duy trì việc phụ nữ thờ cúng tổ tiên nhà đẻ, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho việc bảo lưu "nguyên lý Mẹ".
  • Sự ảnh hưởng của các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo:
    • Tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và phồn thực: Sự bất lực trước thiên tai dẫn đến việc thần thánh hóa mây, mưa, sấm, chớp, sông, núi (Tứ Pháp, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn) và sùng bái năng lực sinh sản.
    • Tam giáo (Phật – Đạo – Nho): Thờ Mẫu dung nạp tư tưởng từ bi, cứu khổ của Phật giáo (sự kết hợp Mẫu – Phật); tiếp thu hệ thống thần tiên, pháp thuật, bùa chú và nghi lễ giáng bút, lên đồng của Đạo giáo phù thủy; đồng thời chịu sự điều chỉnh của các chuẩn mực đạo đức trung, hiếu, tiết, nghĩa từ Nho giáo.
  • Lịch sử phát triển, điện thờ và nghi lễ: Quá trình tiến triển từ thờ Nữ thần nguyên thủy đến Mẫu thần và hoàn thiện thành hệ thống Tam phủ – Tứ phủ (thế kỷ XVI) gắn với hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Điện thờ được quy định chặt chẽ theo trật tự tôn ti (Tam Tòa Thánh Mẫu, Hội đồng Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu, Ngũ Hổ, Thanh Xà – Bạch Xà).

CHƯƠNG 3. QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

  • Quan niệm về con người và quan hệ con người – xã hội:
    • Nhân sinh quan hướng thiện và thực tế: Khác với các tôn giáo hướng con người về thế giới bên kia (Niết bàn hay Thiên đàng), tín ngưỡng thờ Mẫu hướng niềm tin vào cuộc sống trần thế hiện tại: cầu sức khỏe, may mắn, tài lộc và sự bình an.
    • Đạo lý xã hội và tinh thần yêu nước: Hệ thống thần linh trong Tứ phủ phần lớn là những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công khai hoang, lập ấp, đánh đuổi giặc ngoại xâm cứu nước, cứu dân. Việc phụng thờ phản ánh đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và củng cố ý thức liên kết cộng đồng làng xã.
    • Đề cao giá trị người phụ nữ: Phản ánh sự phản kháng âm thầm đối với hệ tư tưởng phụ quyền phong kiến khắt khe, khẳng định vai trò sáng tạo, sinh dưỡng và bảo bọc của người mẹ.
  • Quan niệm về tự nhiên và quan hệ con người – tự nhiên:
    • Vũ trụ quan Tứ phủ: Phân chia vũ trụ thành bốn miền cơ bản gắn với các màu sắc tượng trưng: Thiên phủ (Trời – màu đỏ), Nhạc phủ (Rừng núi – màu xanh), Thoải phủ (Nước – màu trắng), Địa phủ (Đất – màu vàng). Đây là nhận thức không gian mang tính trực quan chất phác của cư dân nông nghiệp về các yếu tố vật chất thiết yếu duy trì sự sống.
    • Thái độ ứng xử hòa hợp với môi trường: Thể hiện sự tôn trọng các quy luật của tự nhiên, ý thức bảo vệ nguồn nước, rừng cây và đất đai thông qua việc quy định các thánh vực linh thiêng được Mẫu và các quan thần bảo trợ.

CHƯƠNG 4. XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

  • Nguyên nhân và xu hướng vận động:
    • Nguyên nhân: Tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa, nhu cầu giải tỏa áp lực tâm lý cá nhân và chính sách cởi mở về tự do tín ngưỡng tôn giáo của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.
    • Biểu hiện xu hướng: Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đền phủ được trùng tu, tôn tạo; sự gia tăng tín đồ tham gia thực hành nghi lễ hầu đồng thuộc nhiều tầng lớp xã hội; hiện tượng mở rộng không gian thờ Mẫu từ nông thôn ra thành thị. Song song đó là xu hướng thương mại hóa, biến tướng nghi lễ (đốt vàng mã quá mức, chi phí hầu đồng tốn kém, hiện tượng "buôn thần bán thánh" và trục lợi tâm linh).
  • Hệ thống kiến nghị và giải pháp quản lý:
    • Kiến nghị: Hoàn thiện khung khổ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương; nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản phi vật thể.
    • Giải pháp: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng giá trị thẩm mỹ và văn hóa của nghi lễ hầu đồng; thực hiện quy hoạch và quản lý nghiêm ngặt các điểm di tích đền phủ; kiểm soát các biểu hiện tiêu cực, trục lợi và mê tín dị đoan; phát huy vai trò tự quản của các bản hội, thủ nhang đồng đền trong việc bảo tồn nghi thức truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã phân tích và hệ thống hóa một cách toàn diện các nội dung cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  2. Làm sáng tỏ các khía cạnh triết học cốt lõi: chỉ ra cơ sở hình thành bắt nguồn từ điều kiện địa – sinh thái và phương thức sản xuất lúa nước; phân tích vũ trụ quan chất phác qua mô hình Tứ phủ (Trời – Rừng – Nước – Đất); làm rõ quan niệm nhân sinh hướng về trần thế, tôn vinh người phụ nữ và khẳng định đạo lý tri ân người có công với cộng đồng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phân tích rõ thực trạng, nguyên nhân và các xu hướng vận động phức tạp của tín ngưỡng thờ Mẫu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay.
  2. Đề xuất hệ thống các nhóm kiến nghị và giải pháp có cơ sở khoa học nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước định hướng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa – nghệ thuật dân tộc, đồng thời ngăn chặn các hành vi trục lợi, thương mại hóa và mê tín dị đoan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trọng tâm vào lớp thờ Tam phủ – Tứ phủ của người Việt tại vùng đồng bằng Bắc Bộ và chủ yếu phân tích các khía cạnh phổ biến, lược bỏ các biến thể mang tính cục bộ địa phương; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện khía cạnh mỹ học (âm nhạc, vũ đạo, kiến trúc, mỹ thuật) dưới góc độ triết học nghệ thuật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh khía cạnh triết học của tín ngưỡng thờ Mẫu giữa ba miền Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; nghiên cứu sự biến đổi thế giới quan của các nhóm cộng đồng tín đồ trong bối cảnh chuyển đổi số và xã hội hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các ngành Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Nhân học, Lịch sử Việt Nam và Dân tộc học khi tìm hiểu về ý thức xã hội và tư tưởng triết học dân gian truyền thống.
  • Giảng viên đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về lịch sử tư tưởng Việt Nam, triết học tôn giáo và văn hóa tâm linh người Việt.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, Ban Tôn giáo Chính phủ và các cơ quan quản lý di tích trong việc hoạch định chính sách, xây dựng quy chế quản lý lễ hội và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu.

Câu hỏi thường gặp

1. Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu được luận án làm rõ qua những nội dung nào?

Luận án tập trung phân tích hai phương diện triết học chính:

  • Quan niệm về tự nhiên (Vũ trụ quan): Mô hình Tứ phủ (Thiên, Nhạc, Thoải, Địa) thể hiện nhận thức trực quan, chất phác của cư dân nông nghiệp về 4 thành tố vật chất của vũ trụ, gắn liền với thái độ ứng xử hòa hợp với môi trường tự nhiên.
  • Quan niệm về con người và xã hội (Nhân sinh quan): Triết lý sống hướng về hiện thế (cầu mong sức khỏe, tài lộc, bình an tại đời thực); đề cao "nguyên lý Mẹ" và vị thế người phụ nữ; phản ánh đạo lý "uống nước nhớ nguồn" thông qua việc phụng thờ các vị anh hùng dân tộc có công bảo vệ đất nước.

2. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ gồm những lớp thờ nào?

Luận án xác định tín ngưỡng thờ Mẫu được tích hợp bởi ba lớp thờ lịch sử:

  1. Lớp thờ Nữ thần: Xuất hiện sớm nhất, phản ánh việc sùng bái các lực lượng tự nhiên mang tính nữ (mây, mưa, sấm, chớp, sông, núi).
  2. Lớp thờ Mẫu thần: Sự phát triển từ thờ Nữ thần, tôn xưng các vị thần nữ có công đức to lớn thành các Mẫu cai quản từng lĩnh vực đời sống.
  3. Lớp thờ Tam phủ – Tứ phủ: Hình thành khoảng thế kỷ XVI với trung tâm là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hoàn thiện hóa hệ thống điện thần cai quản 4 miền vũ trụ: Mẫu Thượng Thiên (Trời), Mẫu Thượng Ngàn (Rừng), Mẫu Thoải (Nước) và Mẫu Địa (Đất).

3. Điều kiện địa – văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ tác động như thế nào đến sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu?

Đồng bằng Bắc Bộ được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng (khoảng 100 triệu tấn phù sa/năm) và sông Thái Bình, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp lúa nước. Tuy nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa có 4 mùa rõ rệt nhưng diễn biến thất thường (hạn hán, lũ lụt, bão biển đan xen) khiến quá trình canh tác của nông dân phụ thuộc lớn vào tự nhiên. Tình trạng bất lực trước sức mạnh thiên nhiên đã thúc đẩy cư dân sùng bái các lực lượng tự nhiên và sản sinh tín ngưỡng cầu xin sự che chở từ các Mẫu thần cai quản trời, đất, sông nước và rừng núi.

4. Luận án đã sử dụng những cơ sở pháp luật lịch sử nào để chứng minh vị thế của người phụ nữ trong xã hội truyền thống?

Tác giả dẫn chứng các quy định pháp luật thời phong kiến Đại Việt:

  • Pháp luật phong kiến năm 1471: Quy định con gái trưởng được quyền thừa kế và quản trị hương hỏa cúng tế khi gia đình không có con trai.
  • Luật Hồng Đức năm 1478: Trao quyền cho người con gái được phép trình quan hủy hôn và trả lại sính lễ nếu người nam mắc ác tật hoặc phạm tội.
  • Lê Triều hình luật (Điều 345): Quy định sau khi trừ 1/20 tài sản làm phần hương hỏa, toàn bộ gia sản của cha mẹ được chia đều cho tất cả các con, quyền lợi của con gái ngang bằng con trai.

5. Khái niệm "Hầu đồng" và các thành phần tham gia nghi lễ được định nghĩa như thế nào trong luận án?

Hầu đồng (hầu bóng, lên đồng) là nghi lễ chính của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ, là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các vị Thánh vào thân xác ông đồng, bà đồng nhằm tái hiện hình ảnh thần linh để phán truyền, chữa bệnh và ban phúc lộc. Các thành phần tham gia gồm: thanh đồng (người thực hiện nghi lễ), thủ nhang/đồng đền (người cai quản đền phủ), cung văn (người hát và chơi nhạc cụ diễn xướng bài bản văn), hầu dâng/tứ trụ (người phụ giúp dâng lễ, thay trang phục, phát lộc) và con nhang, đệ tử.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Thụ đã thực hiện việc tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình đã phân tích sâu sắc các yếu tố địa – văn hóa, kinh tế – xã hội nông nghiệp lúa nước và sự dung hợp Tam giáo để luận giải nguồn gốc hình thành và sức sống của "nguyên lý Mẹ". Đồng thời, luận án đã làm rõ hệ thống vũ trụ quan Tứ phủ chất phác, nhân sinh quan thực tế hướng thiện, đạo lý tri ân tiền nhân và tinh thần đề cao phụ nữ trong cấu trúc tín ngưỡng bản địa. Đây là tài liệu khoa học có đóng góp lý luận và giá trị thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như quản lý di sản văn hóa tín ngưỡng tại Việt Nam.