Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường - Trần Thị Tuyến (Chủ biên), NXB Đại học Vinh

Giới thiệu giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường từ Nhà xuất bản Đại học Vinh, cung cấp kiến thức nền tảng về pháp luật và bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Tác giả

Trần Thị Tuyến, Nguyễn Thị Thúy Hà, Hoàng Thị Thủy và cộng sự

Thể loại

Giáo trình

2020

328
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường

Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường do Nhà xuất bản Đại học Vinh ấn hành. Nhóm tác giả gồm Trần Thị Tuyến, Nguyễn Thị Thúy Hà, Hoàng Thị Thủy, Hoàng Anh Thế, Lại Văn Mạnh và Đậu Khắc Tài biên soạn công phu. Cuốn sách là giáo trình cốt lõi cho sinh viên ngành môi trường, quản lý đất đai và phát triển nông thôn. Cấu trúc tài liệu xây dựng mạch lạc từ lý thuyết nền tảng đến phân tích thực tiễn. Nội dung mở đầu làm rõ khái niệm tài nguyên thiên nhiên, chức năng môi trường và mục tiêu phát triển bền vững. Tác phẩm phân tích sâu sắc các mối quan hệ tương hỗ giữa con người và sinh thái. Môi trường vừa cung cấp nguồn sống, vừa là nơi tiếp nhận chất thải của xã hội. Việc sử dụng quá mức khiến nhiều nguồn tài nguyên đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Do đó, giáo trình thiết lập nhận thức đúng đắn về vị trí trung tâm của con người trong bảo tồn thiên nhiên. Các nguyên tắc phòng ngừa và chia sẻ trách nhiệm được nhấn mạnh xuyên suốt từng chương mục. Đây là tài liệu giảng dạy giá trị, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực quản lý sinh thái hiện nay.

1.1. Khái niệm và đặc điểm tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm toàn bộ của cải vật chất sẵn có trong tự nhiên. Con người khai thác những yếu tố này để phục vụ đời sống và sản xuất. Tài nguyên được chia thành hai nhóm chính gồm tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. Tài nguyên tái tạo như đất, nước và sinh vật có khả năng tự phục hồi theo chu kỳ sinh học. Ngược lại, tài nguyên khoáng sản hay nhiên liệu hóa thạch sẽ vĩnh viễn mất đi sau quá trình sử dụng. Phân bố tài nguyên mang tính không đồng đều giữa các vùng địa lý. Việc khai thác quá độ gây áp lực nghiêm trọng lên khả năng tự cân bằng của sinh quyển.

1.2. Chức năng môi trường và nguyên tắc phát triển bền vững

Môi trường giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại của nhân loại. Thứ nhất, môi trường cung cấp không gian sinh tồn cho sinh vật. Thứ hai, đây là nguồn cung cấp tài nguyên thiết yếu cho nền kinh tế. Thứ ba, môi trường tiếp nhận, đồng hóa và xử lý các loại chất thải rắn, lỏng, khí. Thứ tư, môi trường lưu trữ và cung cấp thông tin di truyền đa dạng. Khi chất thải vượt ngưỡng tự làm sạch, ô nhiễm sẽ bùng phát dữ dội. Do vậy, phát triển bền vững đòi hỏi sự hài hòa giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và sinh thái. Con người phải đặt trọng tâm vào việc bảo vệ tài nguyên vì thế hệ tương lai.

II. Phân tích thách thức quản lí tài nguyên và môi trường cấp bách

Giáo trình chỉ rõ những thách thức gay gắt về tài nguyên và môi trường hiện nay. Tốc độ tăng dân số nhanh tạo áp lực khổng lồ lên tài nguyên thiên nhiên. Hoạt động công nghiệp và đô thị hóa tạo ra lượng phế thải vượt sức tải sinh thái. Đất nông nghiệp bị suy thoái do lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Nguồn nước mặt và nước ngầm đối mặt nguy cơ cạn kiệt, nhiễm độc kim loại nặng. Bầu khí quyển chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bụi mịn và khí thải công nghiệp gây hiệu ứng nhà kính. Hoạt động khai thác khoáng sản bừa bãi làm phá vỡ cảnh quan tự nhiên và sạt lở đất. Hệ sinh thái rừng cùng đa dạng sinh học biển suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức. Biến đổi khí hậu toàn cầu kích hoạt các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán. Tình trạng ô nhiễm xuyên biên giới và sa mạc hóa đang gia tăng chóng mặt. Những vấn đề này đe dọa trực tiếp an ninh lương thực và ổn định xã hội. Việc nhận diện đúng các nguy cơ giúp xây dựng cơ chế giám sát môi trường chuẩn xác.

2.1. Suy thoái môi trường đất nước và không khí

Môi trường vật lý chịu tác động tiêu cực nhất từ hoạt động sản xuất. Đất canh tác đối mặt với xói mòn, chua hóa và nhiễm mặn nghiêm trọng. Rác thải công nghiệp chôn lấp sai quy cách làm ngộ độc hệ vi sinh vật đất. Nguồn tài nguyên nước ngọt sụt giảm nhanh chóng về cả số lượng lẫn chất lượng. Nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa qua xử lý đổ thẳng ra sông hồ. Hiện tượng phú dưỡng hóa làm chết các loài thủy sản tự nhiên. Bầu không khí tại các khu công nghiệp ô nhiễm khí sulfur dioxide và nitrogen oxides. Tình trạng lắng đọng axit gây tổn hại công trình xây dựng và cây cối.

2.2. Khủng hoảng tài nguyên sinh vật và biến đổi khí hậu

Đa dạng sinh học toàn cầu đang suy giảm ở mức độ đáng báo động. Phá rừng tự nhiên làm mất nơi cư trú của hàng ngàn loài động thực vật quý hiếm. Cháy rừng và săn bắt trái phép đẩy nhiều sinh vật đến bờ vực tuyệt chủng. Mất cân bằng sinh thái khiến thiên tai diễn ra thường xuyên hơn. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu nghiêm trọng nhất hiện nay. Nước biển dâng làm thu hẹp diện tích đất canh tác ở các vùng đồng bằng ven biển. Hiện tượng sa mạc hóa mở rộng tại các dải duyên hải khô cằn. An ninh nguồn nước bị đe dọa nặng nề do thay đổi chu trình mưa.

III. Giải pháp quản lí tài nguyên và môi trường theo Đại học Vinh

Giáo trình đề xuất hệ thống giải pháp quản lý tài nguyên và môi trường mang tính toàn diện. Quản lý nhà nước đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý chuẩn mực. Các công cụ luật pháp gồm quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và chế tài xử phạt nghiêm minh. Bên cạnh luật pháp, công cụ kinh tế phát huy hiệu quả điều tiết hành vi của doanh nghiệp. Cơ chế thuế tài nguyên, phí xả thải và ký quỹ phục hồi môi trường tạo động lực giảm ô nhiễm. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng bền vững. Giáo trình nhấn mạnh phương pháp quản lý tổng hợp và tiếp cận dựa trên hệ sinh thái. Mô hình kinh tế biển xanh và kinh tế tuần hoàn là giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu. Ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quan trắc, dự báo diễn biến môi trường tự động. Nhà quản lý cần kết hợp hài hòa giữa giám sát nhà nước và sự tham gia của cộng đồng. Sự đồng thuận xã hội là chìa khóa bảo vệ môi trường thành công.

3.1. Hoàn thiện công cụ pháp lý và kinh tế môi trường

Hệ thống công cụ quản lý cần được áp dụng đồng bộ và linh hoạt. Pháp luật môi trường đóng vai trò kiểm soát các nguồn phát thải lớn. Việc ban hành quy định nghiêm ngặt giúp ngăn chặn kịp thời hành vi xả thải trái phép. Song song với chế tài, công cụ kinh tế đem lại lợi ích tài chính rõ rệt. Đánh thuế tiêu thụ đối với sản phẩm gây ô nhiễm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Cơ chế mua bán hạn ngạch phát thải khuyến khích giảm lượng khí thải carbon. Quỹ bảo vệ môi trường cung cấp nguồn tài chính cho các dự án tái chế rác thải. Các đòn bẩy kinh tế tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức sản xuất.

3.2. Phương thức tiếp cận hệ sinh thái và kinh tế tuần hoàn

Tiếp cận hệ sinh thái là phương thức quản lý tài nguyên khoa học và bền vững. Phương pháp này tôn trọng ranh giới tự nhiên của các lưu vực sông và vùng sinh thái biển. Mọi quyết định khai thác đều phải cân nhắc đến chuỗi liên kết sinh học và khả năng tải môi trường. Bên cạnh đó, kinh tế tuần hoàn chuyển đổi quy trình sản xuất tuyến tính sang khép kín. Phế phẩm của ngành này trở thành nguyên liệu đầu vào của ngành khác. Năng lượng tái tạo từ gió và mặt trời dần thay thế năng lượng hóa thạch truyền thống. Cách tiếp cận mới này vừa tiết kiệm tài nguyên vừa giảm thiểu phát thải rác ra môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn giáo trình quản lí tài nguyên và môi trường

Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường mang giá trị thực tiễn to lớn. Tác phẩm cung cấp cẩm nang tra cứu chuẩn mực cho các nhà quản lý sinh thái địa phương. Cán bộ môi trường có thể vận dụng kiến thức sách vào công tác đánh giá tác động môi trường. Kỹ năng kiểm soát ô nhiễm đất, nước, không khí được phân tích chi tiết, dễ dàng thực thi. Các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở khoa học để hoạch định quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ khoáng sản. Đối với doanh nghiệp, cuốn sách định hướng chiến lược chuyển đổi xanh và tuân thủ trách nhiệm sinh thái. Doanh nghiệp nắm rõ quy định về phí xả thải và chứng chỉ giảm phát thải carbon. Đối với các cơ sở đào tạo, giáo trình chuẩn hóa kiến thức chuyên môn cho sinh viên đại học. Người học được trang bị tư duy phản biện và năng lực giải quyết các thách thức khí hậu. Tác phẩm góp phần thúc đẩy hành động thực chất vì mục tiêu phát triển bền vững.

4.1. Ứng dụng trong đào tạo chuyên môn tại các trường đại học

Giáo trình là tài liệu giảng dạy căn bản cho giảng viên và sinh viên các khối ngành tài nguyên, môi trường, sinh học và địa lý. Nội dung tài liệu cung cấp kiến thức hệ thống từ cơ sở lý thuyết đến bài tập tình huống thực tế. Sinh viên được rèn luyện phương pháp tư duy khoa học trong phân loại tài nguyên và đánh giá suy thoái môi trường. Bài giảng tích hợp các vấn đề cấp thiết như an ninh nguồn nước và biến đổi khí hậu giúp người học chủ động nghiên cứu. Đây là bệ phóng kiến thức vững chắc cho các kỹ sư và cử nhân tương lai trước yêu cầu phát triển xanh.

4.2. Vận dụng trong công tác hoạch định và thực thi chính sách

Ngoài giảng dạy, giáo trình hỗ trợ đắc lực cho các nhà làm chính sách và cán bộ quản lý tài nguyên địa phương. Tài liệu làm rõ cơ sở pháp lý và kinh tế để thiết lập quy hoạch tài nguyên đất và rừng. Cán bộ thực thi có thể dựa vào hướng dẫn để kiểm tra xả thải tại các khu công nghiệp tập trung. Các nguyên tắc phòng ngừa rủi ro sinh thái hỗ trợ thẩm định dự án đầu tư chuẩn xác. Việc ứng dụng linh hoạt các công cụ kinh tế giúp thu hồi ngân sách để tái tạo tài nguyên thiên nhiên. Cuốn sách tạo cầu nối vững chắc giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn quản lý xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/10/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 sinh viên cần:  Trình bày được khái niệm, đặc điểm, phân loại tài nguyên thiên nhiên;  Trình bày được khái niệm, chức năng, đặc tính của môi trường;  Trình bày được mục tiêu, nguyên tắc phát triển bền vững;  Phân tích, so sánh được các nội dung phát triển bền vững của thế giới và Việt Nam 1. Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên là dạng hàng hóa đặc biệt bởi chúng không phải đi qua quá trình sản xuất. Nếu được quản lí tốt, tài nguyên sẽ sản sinh lợi tức. Với nhiều quốc gia, khoản lợi tức này đóng góp rất lớn vào nguồn tài chính phục vụ phát triển đất nước.

Bên cạnh đó cũng có những quốc gia sống dựa vào việc bán rẻ tài nguyên và bị kìm hãm trong “lời nguyền tài nguyên”. Khái niệm tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên (Natural resources) là một bộ phận thiết yếu của môi trường tự nhiên, bao gồm các loại tài nguyên có thể khai thác trực tiếp từ tự nhiên hoặc ở dạng tự nhiên. “Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) là nguồn của cải vật chất nguyên khai 13 được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống” (Lê Văn Khoa và cộng sự(1)) hay “Tài nguyên thiên nhiên là các thành phần của tự nhiên (các vật thể và các nguồn lực tự nhiên) mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể được sử dụng làm phương tiện sản xuất và làm đối tượng tiêu dùng” (Nguyễn Minh Tuệ(2)). Như vậy, TNTN là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng trực tiếp hoặc chế biến thành sản phẩm vật chất để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống.

Toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên (nguyên liệu, vật liệu tự nhiên mà loài người có thể khai thác và sử dụng) là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người. Tất cả những dạng vật chất khi chưa được hiểu biết, khai thác, sử dụng thì chưa được gọi là tài nguyên thiên nhiên mà chỉ là điều kiện tự nhiên hay môi trường tự nhiên. Các nguồn lực tự nhiên có thể trở thành tài nguyên, của cải vật chất hay không và giá trị của chúng phụ thuộc vào trình độ của con người. Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên 1.

Sự phân bố không đồng đều Tài nguyên thiên nhiên phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái đất. Sự ưu đãi về tài nguyên của từng quốc gia, vùng lãnh thổ phụ thuộc vào cấu tạo địa chất và điều kiện địa lý của từng vùng. Chẳng hạn, hiện tượng dị thường về địa lý đã tạo nên những mỏ dầu lớn nhất thế giới ở Nga, Mỹ và các nước Trung Đông; điều kiện thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu thuận lợi tạo nên những khu rừng nguyên sinh ở lưu vực sông Amazon. Các loại tài nguyên tồn tại ở các dạng khác nhau trong các điều kiện khác nhau.

Một số tài nguyên tồn tại thành các thể độc lập, dễ phân định ranh giới, phân bố trong phạm vi nhất định. Tuy nhiên, 1 Lê Văn Khoa (chủ biên), Khoa học môi trường, Nxb Giáo dục, 2002, trang 75. 2 Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý kinh tế - xã hội đại cương, Nxb ĐHSP Hà Nội, trang 67. 14 một số loại tài nguyên phân bố rộng, ranh giới không rõ ràng, có sự biến động trong không gian.

Mỗi quốc gia chỉ sở hữu phần tài nguyên nằm trên lãnh thổ của nước mình. Vì vậy, các loại TNTN nằm trong phạm vi địa lý của nhiều quốc gia gây khó khăn trong phân định quyền sở hữu. Bên cạnh đó, việc sử dụng TNTN ở một nước có thể ảnh hưởng đến các nước khác (như tài nguyên nước, rừng), vì thế cần phải thiết lập một cơ chế giải quyết ở tầm quốc tế. Trong phạm vi của một quốc gia, quyền sở hữu riêng (của một hộ, một doanh nghiệp) về tài nguyên thiên nhiên có lúc rất khó phân định (khí hậu, nước,.

Trong phạm vi nhỏ, sở hữu có thể thuộc làng, xã hay địa phương; ở quy mô lớn Nhà nước đứng ra đại diện làm chủ sở hữu. Theo Hiến pháp Việt Nam “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa,. là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Việc sở hữu các dạng tài nguyên môi trường là sở hữu toàn dân, là “của chung”, các tài nguyên khoáng sản nếu muốn khai thác sử dụng phải được sự cho phép của Nhà nước và phải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của nước đó.

Quyền sở hữu chung, mang tính cộng đồng của là một đặc điểm quyết định việc lựa chọn người sản xuất, khai thác mang tính tập thể và thường dẫn đến việc sở hữu tài nguyên có tính độc quyền cao. Các loại tài nguyên thiên nhiên có quá trình hình thành lâu dài Đại bộ phận các nguồn tài nguyên hiện nay đều đã được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Những khu rừng nhiệt đới cần khoảng thời gian từ 50 năm đến 100 năm cho cây cối có thể sinh trưởng. Dầu và khí đốt cần chuỗi thời gian liên tục kéo dài từ 10 triệu đến 100 triệu năm cho các quá trình tích tụ.

Quá trình hình thành các loại khoáng sản như niken, sắt, đồng, vonfram phải trải qua hàng thế kỷ. Phần lớn, trữ lượng các loại tài nguyên có giới hạn (than, dầu, quặng sắt,.), trong khi đó, nguồn tài nguyên bị tiêu dùng dần hoặc dần tiêu hao trong quá trình sản xuất. Nhu cầu sử dụng của con người ngày càng tăng trong khi tốc độ sản 15 sinh và phục hồi của các loại tài nguyên thiên nhiên rất chậm. Đặc điểm trên tạo nên tính khan hiếm của tài nguyên thiên nhiên.

Vì vậy, nếu sử dụng và khai thác quá mức sẽ dẫn đến cạn kiệt nguyên, không thể phục hồi. Giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên Giá trị của tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào việc đánh giá, sử dụng của con người. Tài nguyên thiên nhiên là đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất. Ngoài ra, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế thông qua một số phương diện: thu hút đầu tư nước ngoài, tạo việc làm, tạo doanh thu cho chính phủ, thu nhập ngoại hối, thúc đẩy các ngành khác phát triển theo.

Chính vì vậy, các nước giàu có về tài nguyên thiên nhiên thường tạo ra các chính sách hấp dẫn để khai thác nguồn tài nguyên này phục vụ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, giá trị của TNTN có thể thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Do sự thay đổi về nhu cầu và khả năng của xã hội, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật mà vai trò, vị trí ưu tiên của một số tài nguyên đã thay đổi. Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp thế kỉ XVIII, XIX đến nửa đầu thể kỉ XX, các khoáng sản kim loại đen có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng trong thời kì cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại, các kim loại màu, kim loại hiếm đóng vai trò nổi bật.

Dầu mỏ và khí đốt là các tài nguyên nhiên liệu khoáng, đồng thời cũng là cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa dầu ngày càng lớn mạnh. Xu hướng chung là ngày càng nhiều các thành phần của tự nhiên cùng các thuộc tính của chúng được con người đưa vào sử dụng. Nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn được khai thác, mở rộng với sự phát triển của xã hội. Tài nguyên thiên nhiên có thể được sử dụng trực tiếp, hay gián tiếp thông qua các quá trình khai thác và chế biến (như các loại khoáng sản, cây lấy gỗ, đất đai.) để sản xuất ra những vật phẩm nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội loài người.

Hằng năm, con người khai thác từ 16 môi trường tự nhiên khoảng 35-40 tỷ tấn nguyên vật liệu để phục vụ cho nhu cầu sản xuất(1). Danh sách các TNTN ngày càng được bổ sung cùng với sự phát triển của trình độ khoa học kĩ thuật. Tính hàng hóa của tài nguyên thiên nhiên Trong quá trình sản xuất, con người dùng sức lao động và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động trong tự nhiên làm thay đổi những dạng thức của nó để tạo ra giá trị sử dụng thích hợp với nhu cầu của con người. Các tài nguyên thiên nhiên tồn tại ở những dạng khác nhau, là bộ phận cấu thành môi trường tự nhiên, là đối tượng của sản xuất và chứa đựng những giá trị kinh tế thì được gọi là hàng hóa.

Tài nguyên thiên nhiên là một dạng của cải đặc biệt. Khác với các dạng của cải khác, hầu hết TNTN không được sản xuất ra mà chỉ bị khai thác. Chính vì tính chất đặc thù khác biệt so với hàng hóa thông thường, nên hàng hóa tài nguyên và môi trường có những đặc điểm giống với các dạng hàng hóa thông thường khác nhưng cũng có những đặc điểm khác biệt: - Tính hữu dụng (giá trị sử dụng): qua định nghĩa nêu trên cho thấy rõ tài nguyên và môi trường trước hết phải có giá trị sử dụng để phục vụ mục đích và nhu cầu của con người. Ví dụ như than dùng để làm nhiên liệu đốt, sản xuất điện, sưởi ấm; cảnh quan thiên nhiên đẹp có thể khai thác thành các khu du lịch, khu du lịch sinh thái phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí,.

- Tính giá trị: đó là giá trị lao động kết tinh trong sản phẩm và được định giá trên thị trường. Giá trị này đối với hàng hóa tài nguyên chính là công lao động để khai thác tài nguyên, sàng lọc, tinh chế, biến đổi và chế biến thành sản phẩm. Hoặc với tài nguyên đất, nó chính là lao động để biến đổi tài nguyên đất theo các mục đích sử dụng khác nhau. Nó cũng chính là công lao động xã hội trong việc cải tạo, xây dựng và phát triển các khu du lịch sinh thái, khu nghỉ mát,.

1 Jonm Conrad, Resource Economics, Second Edition, Cambridge University, 2009. 17 - Tính giới hạn trong khai thác, sử dụng: Tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt dần theo mức độ khai thác và sử dụng của con người. Các loại khoáng sản: than, sắt, bôxit, mangan, dầu lửa, khí đốt và một số loại tài nguyên khác có thể coi là không tái tạo nếu như con người khai thác vượt quá khả năng hồi phục của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trần Thị Tuyến, Nguyễn Thị Thúy Hà, Hoàng Thị Thủy, Hoàng Anh Thế, Lại Văn Mạnh, Đậu Khắc Tài (2020), Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường, Giáo trình, Trường Đại học Vinh, Vinh.
APA 7
Trần, T. T., Nguyễn, T. T. H., Hoàng, T. T., Hoàng, A. T., Lại, V. M., & Đậu, K. T. (2020). Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường [Giáo trình, Trường Đại học Vinh]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/co-so-quan-li-tai-nguyen-va-moi-truong-nha-xuat-ban-dai-hoc-vinh/9535785433
IEEE
T. T. Trần, T. T. H. Nguyễn, T. T. Hoàng, A. T. Hoàng, V. M. Lại, and K. T. Đậu, "Giáo trình Cơ sở quản lí tài nguyên và môi trường," Giáo trình, Trường Đại học Vinh, Vinh, 2020. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/co-so-quan-li-tai-nguyen-va-moi-truong-nha-xuat-ban-dai-hoc-vinh/9535785433

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác