CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Xung đột trong quản lý tài nguyên nước Nguồn nước là rất cần thiết cho sự tồn tại của con người và tất cả các sinh vật. Từ quan điểm kinh tế, tài nguyên nước là nguồn cung cấp một loạt các dịch vụ cho các hoạt động sinh hoạt, tiêu dùng như công, nông, ngư nghiệp. Tuy nhiên, suy thoái chất lượng nước và tình trạng khan hiếm nước là hai vấn đề nghiêm trọng ở các nước đang phát triển.
Do về thời gian và không gian, lượng mưa phân phối không đồng đều, tốc độ tiêu thụ nước tăng tỉ lệ cấp số nhân với tốc độ gia tăng dân số. Suy thoái chất lượng nước, nhiệt độ tăng, cũng như cung cấp nước ngày càng giảm ở các nước đang khan hiếm. Người ta ước tính rằng vào năm 2025, trên thế giới khoảng 7,9 tỷ người sẽ rất khó hoặc thậm chí không thể đáp ứng nhu cầu nước sạch cơ bản để uống, nấu ăn và các dịch vụ khác. Quản lý tài nguyên nước liên quan đến những vấn đề này thường xảy ra mâu thuẫn hoặc xung đột.
Quyền sở hữu nước rất khó để xác định, do đó thị trường nước là không dễ dàng để thiết lập ở hầu hết các quốc gia. Trong trường hợp không có các quyền và thị trường tài sản độc quyền, xung đột giữa nhiều bên liên quan do cạnh tranh cho sử dụng nước là không thể tránh khỏi. Để giải quyết vấn đề này các mô hình quản lý tài nguyên nước cần được đưa ra để giải quyết các cuộc xung đột liên quan. Lý thuyết trò chơi là một phương pháp hữu ích để mô hình các cuộc xung đột như vậy.
Lý thuyết này nghiên cứu các chiến lược và cân bằng của nhiều người chơi trong các tình huống tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Trong nước Theo dự báo đến năm 2030 có khoảng 60 quốc gia thiếu nước trầm trọng, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, nước sử dụng cho sinh hoạt là 70 % nước mặt và 30 % nước ngầm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do khai thác quá mức nên mạch nước ngầm tại 16 Luận văn thạc sĩ: Ứng dụng lý thuyết trò chơi giải quyết xung đột về môi trường.
một số thành phố lớn như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã bị ô nhiễm các chất hữu cơ và gây sụt lún. Ở các vùng ven biển nước giếng khoan đã hóa mặn và tình trạng nhiễm mặn ngày càng gia tăng. Trước tình hình này, Bộ tài nguyên môi trường cho biết, trong thời gian tới, Bộ sẽ thực hiện xây dựng và tổ chức quy hoạch bảo vệ nguồn nước, quy hoạch hệ sinh thái thủy sinh, đảm bảo chất lượng nguồn nước, cung cấp các nguồn nước khác nhau cho nhu cầu sinh họat.
Đồng thời, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống ô nhiễm mạch nước ngầm, đảm bảo dòng chảy tối thiểu cho các dòng sông, ngăn chặn và xử lý tình trạng khai thác mạch nước ngầm quá mức. Thế giới Trên thế giới, xung đột về tài nguyên nước thường diễn ra ở một số lưu vực sông lớn như lưu vực sông Jordan (chảy qua Li-băng, Syria, Israel, Jordan), lưu vực sông Tigris và Euphrates (bắt nguồn từ Thổ Nhĩ Kỳ), lưu vực sông Nile (cung cấp nước cho người dân hai quốc gia là Ai Cập và Sudan), lưu vực sông Indus, lưu vực sông Hằng (Ganges) và lưu vực sông Mê Công. Trong đó, mâu thuẫn nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Uỷ hội sông Mê Công quốc tế về vấn đề nguồn nước sông Mê Công khiến cộng đồng quốc tế không khỏi lo ngại. Là nước thượng nguồn, Trung Quốc đã tìm nhiều cách để sở hữu nguồn nước Mê Công như: không tham gia Ủy hội Sông Mê Công (bao gồm các nước: Myanmar, Lào, Thái Lan, Caphuchia và Việt Nam), xây dựng nhiều đập nước để làm thủy điện, tích nước, chuyển dòng… Theo các chuyên gia về tài nguyên nước, xung đột trong quá trình quản lý tài nguyên nước thường xảy ra giữa nhiều nhóm đối tượng, nhiều bên liên quan trên các địa bàn khác nhau do lưu vực các con sông thường trải rộng trên nhiều quốc gia dẫn đến các mẫu thuẫn, xung đột, chiến tranh về sử dụng nguồn nước.
Thiếu nước chỉ là một trong những nguyên nhân gây ra sự xung đột về nguồn nước. Hiện tại, trên thế giới có tới hơn 1,2 tỷ người không được tiếp cận nguồn nước sạch; khoảng 2,4 tỷ người sống tại các quốc gia khủng hoảng thiếu nguồn nước. Trong tương lai 17 Luận văn thạc sĩ: Ứng dụng lý thuyết trò chơi giải quyết xung đột về môi trường. gần, vùng Đông Bắc Trung Quốc sẽ trở thành vùng khô hạn nhất thế giới, điều này gây ảnh hưởng tới 24 triệu người, thậm chí, năm 2017, Thủ đô Sana của Yemen sẽ không có nước.
Ở nhiều vùng khô hạn, người ta phải khai thác quá mức nguồn nước dự trữ có khả năng tự tái tạo - đó là nước ngầm để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, mực nước ngầm đã hạ xuống rất nhanh tiêu biểu như tại các thung vũng sông Nile hay sông Tigris và Euphrates. Mực nước ngầm xuống thấp lại tác động ngược quá trình phát triển kinh tế, xã hội theo hướng tiêu cực. Ngoài thiếu nước, các nhà phân tích còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến chiến tranh và xung đột nguồn nước còn do nước là tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế lớn, quản lý nhà nước về tài nguyên nước còn nhiều hạn chế, biểu giá nước, thiếu sự tham gia của các đối tượng sử dụng nước, điều kiện kinh tế và nhận thức cộng đồng thấp.
Sau hơn 15 năm tranh luận, cuối tháng 7/2010, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã bỏ phiếu công nhận tiếp cận nước sạch và điều kiện sống hợp vệ sinh là một trong những quyền căn bản của con người. Đó là một sự công nhận khá muộn màng vì nhiều quyền cơ bản của con người được công nhận trước đó không thể tồn tại nếu không có nước. Cho đến nay, việc thiếu tiếp cận nước sạch là vi phạm nhân quyền lớn nhất trên thế giới. Vì thế, giải pháp đầu tiên được đưa ra là phổ biến rộng rãi hơn nữa khái niệm “Quyền con người về sử dụng nước”.
Cùng với đó, cần xây dựng những thỏa thuận về sử dụng tài nguyên nước có hiệu lực pháp lý rộng và cao hơn nữa. Thực tế cho thấy, các cuộc xung đột, các cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát nguồn nước cũng không đem lại lợi ích tuyệt đối cho một quốc gia nào mà chỉ gây ra nhiều bất ổn, làm căng thẳng thêm tình hình thế giới. Daniel Zimmer – giám đốc của Hội đồng Nước thế giới nhận định “Nước suy cho cùng là một nguyên nhân của hợp tác hơn là chiến tranh. Vì nó quá thiết yếu đến nỗi không thể chiếm đoạt nó bằng chiến tranh”.
Vì thế, thay vì 18 Luận văn thạc sĩ: Ứng dụng lý thuyết trò chơi giải quyết xung đột về môi trường. việc tranh chấp, đã xuất hiện ngày càng nhiều các thỏa thuận sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này. Hiện tại, các quốc gia ở châu Âu đang có tới 175 Hiệp ước trong việc sử dụng nguồn tài nguyên chung ở 4 con sông. Châu Phi có 12 con sông sử dụng chung và 34 Hiệp ước.
Ở châu Á, 45 quốc gia đã có 31 Hiệp ước được ký kết về sử dụng tài nguyên ở 5 con sông lớn. Có tới 48 Ủy ban hợp tác về sử dụng chung nguồn nước các con sông ở châu Âu, 23 ở Mỹ, 10 ở châu Phi và 9 ở châu Á. Chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng không gian ký kết các hiệp ước, tổ chức quản lý chung liên quan đến khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước ở những khu vực còn tranh chấp, đồng thời tăng cường hiệu quả, tính pháp lý của những hiệp ước, tổ chức này và tất cả các quốc gia trên các lưu vực sông (đặc biệt lưu vực sông xuyên quốc gia) đều phải tuân thủ quyết định này. Để giải quyết các cuộc xung đột gây ra bởi sự khan hiếm nước, [Donevska 2009] đề xuất một số giải pháp kỹ thuật về giảm thất thoát nước, tăng hiệu quả sử dụng nước và tái chế nước thải, bảo tồn nước, vận chuyển nước, và một số biện pháp khác.
Tuy nhiên, phương pháp sử dụng nước một cách hiệu quả và tái sử dụng nước thải không đủ để các khu vực này phải đối mặt với tình trạng thiếu nước trầm trọng. Ngoài ra, sự chuyển hướng nước trong lưu vực liên quan đến một vấn đề đa ngành [Yevjevich, 2001], và các cuộc xung đột liên quan đến kinh tế xã hội, các vấn đề môi trường sinh thái, hành chính và lập pháp [Shao et. Bên cạnh đó, các công cụ kinh tế đã được sử dụng rộng rãi để giải quyết xung đột sử dụng nước [Dinar, 1997; Wang et. Phương pháp tiếp cận thị trường nước là một trong những trích dẫn thường xuyên trong các tài liệu [Burness, 1979; Howe, 1986; Colby, 1990; Green, 2001; Bhaduri et.
Phương pháp thị trường nước có thể cung cấp cho người sử dụng nước với ưu đãi để phân bổ nước và giảm các chất ô nhiễm thải một cách hiệu quả, và thị trường thực sự tồn tại ở một số nước, chẳng hạn như Australia [Pegram et. al, 1992], 19 Luận văn thạc sĩ: Ứng dụng lý thuyết trò chơi giải quyết xung đột về môi trường. California [Howe, 1995], Chile [Hearne, 1995], Ấn Độ [Saleth, 1996], và Tây Ban Nha [Reidinger, 1994], … Tuy nhiên, các ứng dụng của lý thuyết trò chơi để giải quyết xung đột trong quản lý tài nguyên nước là tương đối ít. Ban đầu lý thuyết này được áp dụng vào việc phân phối chi phí trong các dự án tài nguyên nước và xử lý nước thải [Giglio, 1972; Dinar, 1997, Bogardi et.
al 1976] đã chỉ ra rằng có thể áp dụng lý thuyết trò chơi vào bốn lĩnh vực chính của quản lý nước và cung cấp các giải pháp cho các vấn đề điển hình trong phân tích quyết định. [Lewandowski 1979] đã sử dụng một phương pháp tiếp cận lý thuyết trò chơi để mô hình hóa hành vi của người sử dụng nước trong vấn đề kiểm soát chất lượng, và số lượng nước. [Coppola, 2004] đã thiết kế một trò chơi hai người mâu thuẫn để phân tích tối ưu sự thỏa hiệp giữa cấp nước và nguy cơ ô nhiễm cho Wellfield - thành phố trực thuộc Trung ương của Mỹ. al 2007] đã đề xuất các phương pháp giải quyết xung đột một trò chơi xung đột hai người trong quản lý nước ngầm.
Bên cạnh đó, lý thuyết trò chơi thường xuyên được sử dụng để phân tích phân bổ công bằng tải lượng chất thải sang môi trường tiếp nhận khác [Kilgour et. al, 1988; Okada,1992; Wei, 2007b].