Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Quá trình du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018" do tác giả Bùi Thị Thoa thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt (năm 2020), dưới sự hướng dẫn của PGS. Cao Thế Trình và TS. Hoàng Thị Như Ý. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số đào tạo trình độ tiến sĩ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Mẫu (còn gọi là tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ) là hiện tượng văn hóa bản địa của người Việt hình thành từ giữa thế kỷ XVI, gắn liền với biểu tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh và nghi lễ diễn xướng hầu đồng. Ngày 01/12/2016, di sản "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, hồ sơ đệ trình của Ủy ban UNESCO Việt Nam mới chỉ khảo sát tại 21 tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Các địa phương khác, trong đó có tỉnh Lâm Đồng, chưa được đề cập.

Trên thực tế, tín ngưỡng thờ Mẫu đã xuất hiện tại Lâm Đồng từ thập niên 1920 theo các luồng di dân người Việt và phát triển thành 144 cơ sở thờ tự tính đến hết năm 2018. Mặc dù vậy, các công trình địa chí như Địa chí Lâm Đồng (2001) hoàn toàn chưa đề cập đến loại hình này, Địa chí Đà Lạt (2008) chỉ nhắc đến nửa trang với 4 cơ sở, còn công trình Đạo Mẫu Việt Nam của Ngô Đức Thịnh trong phần khảo cứu Tây Nguyên cũng không có dữ liệu về Lâm Đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện quá trình du nhập, phát triển và đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng giải quyết khoảng trống tư liệu lịch sử - văn hóa tại vùng đất Nam Tây Nguyên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án gồm:

  1. Xác định mốc thời gian du nhập của tín ngưỡng thờ Mẫu đến Lâm Đồng.
  2. Tái hiện bức tranh lịch sử về cơ sở thờ tự và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018.
  3. Xác định đặc trưng, giá trị, hạn chế và dự báo xu hướng phát triển của tín ngưỡng này tại địa phương nhằm bổ sung tư liệu cho diện mạo tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và hạn chế các biến tướng tiêu cực trong thực hành tín ngưỡng tại Lâm Đồng.

Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: sưu tầm, hệ thống hóa nguồn tài liệu; khảo sát thực địa toàn diện 144 cơ sở; tham dự thực hành nghi lễ; phỏng vấn sâu các nhóm chủ thể; phân tích định lượng bằng bảng hỏi; so sánh đặc điểm tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng với các vùng miền khác.

Câu hỏi nghiên cứu

  • a. Tại sao tín ngưỡng thờ Mẫu - một loại hình tín ngưỡng đặc trưng của người Việt - lại xuất hiện ở Lâm Đồng - vùng đất vốn là địa bàn sinh tụ của nhiều dân tộc thiểu số?
  • b. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện sớm nhất ở Lâm Đồng vào khoảng thời gian nào, khu vực nào?
  • c. Sự phân bố các cơ sở thờ Mẫu ở Lâm Đồng như thế nào?
  • d. Có hay không sự biến đổi trong các công trình kiến trúc thờ Mẫu ở Lâm Đồng so với các khu vực khác trong cả nước?
  • e. Khi du nhập vào Lâm Đồng, thần điện cũng như những nghi thức sinh hoạt của tín ngưỡng thờ Mẫu có sự thay đổi hay không?
  • g. Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò như thế nào trong đời sống tâm linh cư dân Việt ở Lâm Đồng?
  • h. Có hay không những khía cạnh tiêu cực trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu ở một bộ phận cư dân Việt ở Lâm Đồng?

Giả thuyết nghiên cứu

  • a. Sự xuất hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng bắt nguồn từ nhu cầu tâm linh của cộng đồng người Việt di cư đến vùng đất mới, tìm kiếm chỗ dựa tinh thần trước những khó khăn trong buổi đầu khai khẩn.
  • b. Tín ngưỡng thờ Mẫu du nhập vào Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX cùng quá trình chính quyền thực dân Pháp thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và phát triển đô thị nghỉ dưỡng Đà Lạt, với cơ sở đầu tiên xuất hiện tại khu vực Dran (Đơn Dương).
  • c. Sự phân bố các cơ sở thờ Mẫu mang tính cục bộ, tập trung tại các địa bàn có đông cư dân người Việt sinh sống như Đà Lạt, Đức Trọng, Lâm Hà, Bảo Lộc.
  • d. Kiến trúc các cơ sở thờ Mẫu tại Lâm Đồng bị biến đổi do điều kiện kinh tế - xã hội, thiếu vắng các dạng thức đền phủ quy mô truyền thống với tam quan bề thế, đao cong, mái ngói lưỡng long chầu nguyệt.
  • e. Thần điện và nghi thức sinh hoạt có sự dung hợp, đan xen giữa hai dạng thức miền Bắc và miền Trung, đồng thời tiếp nhận thêm các nhân vật thờ tự như Thiên Y A Na, Bà Chúa Xứ, Ngũ Vị Thánh Bà, Quan Công, Bà Chúa Cà Ná, Diêu Trì Kim Mẫu.
  • g. Tín ngưỡng thờ Mẫu giữ vai trò ổn định tâm sinh lý, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cư dân và tham gia bảo lưu các giá trị văn hóa diễn xướng dân gian, đạo lý uống nước nhớ nguồn thông qua việc phối thờ Đức Thánh Trần, Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ.
  • h. Trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng đã xuất hiện hiện tượng thương mại hóa, biến tướng ở một số nhóm thực hành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong cộng đồng người Việt ở Lâm Đồng, trọng tâm là lịch sử hình thành, quá trình phát triển, quy mô, tính chất thờ tự và các hình thức thực hành tín ngưỡng.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Lâm Đồng theo địa giới hành chính hiện hành, tương ứng với các đơn vị hành chính lịch sử qua các thời kỳ gồm tỉnh Đồng Nai Thượng, Lang Biang (Lâm Viên), Hoàng triều cương thổ, Tuyên Đức và Lâm Đồng.
  • Phạm vi thời gian: Từ đầu thế kỷ XX (khi người Việt bắt đầu định cư) đến năm 2018, trong đó mốc hình thành cơ sở thờ tự đầu tiên được xác định từ năm 1923.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu của học giả nước ngoài

Tác giả luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu quốc tế về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ lên đồng của người Việt:

  • A. Lagrèze (1941) với bài viết Documents concernant le temple Dên-Song, au Thanh-Hoa (in trong Bulletin des Amis du Vieux Hué), khảo cứu huyền tích giáng sinh của Thánh Mẫu Vân Hương và bản dịch "Đồng sách" tìm thấy tại Đền Sòng năm 1939 (Biên niên sử Ngọc phả Gia đình họ Lê ở làng Vân Cát, huyện Thiên Bản).
  • Maurice Durand (1959) trong công trình Technique et Panthéon des médiums viêtnamiens (xuất bản tại Paris), phân tích kỹ thuật lên đồng, điện thần Tứ phủ, nguồn gốc Mẫu Thoải, Quan Lớn Tuần Tranh và xếp lên đồng vào loại hình shaman giáo.
  • Pierre Simon và Ida Simon-Baruch (1973) với tác phẩm Hầu đồng - un culte viêtnamien de possession transplanté en France, thống kê xã hội học về tần suất giáng đồng qua 27 buổi lễ của kiều bào tại Pháp.
  • Kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2001 do Ngô Đức Thịnh chủ biên (Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á, NXB Khoa học xã hội, 2004) với các tham luận: Frank Proschan (xem lên đồng là bảo tàng sống bảo vệ văn hóa), Barley Norton (nghiên cứu cấu trúc âm nhạc hát văn kích thích trạng thái xuất thần), Laurel Kendall (so sánh nghi lễ Kut của Hàn Quốc với hầu đồng Việt Nam).
  • Silapakit Teekantikun (2010) với luận án tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội so sánh nghi lễ lên đồng miền Bắc Việt Nam với tục Khuồng Phi Phon của người Lào tại Đông Bắc Thái Lan.

Các hướng nghiên cứu của học giả trong nước

Tác giả phân loại hệ thống nghiên cứu trong nước theo 3 nhóm:

  1. Nghiên cứu tổng quan văn hóa, văn học và tín ngưỡng dân gian: Khảo sát các tác phẩm thuật truyện và chuyên khảo từ truyền thống đến hiện đại như Đoàn Thị Điểm (Vân Cát thần nữ trong Truyền kỳ tân phả), Nguyễn Công Trứ (Liễu Hạnh công chúa diễn âm), Phan Kế Bính (Nam Hải dị nhân 1909, Việt Nam phong tục 1915), Đào Thái Hanh (1914), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương 1938), Nguyễn Văn Huyên (La civilisation annamite 1944), Toan Ánh (1968), Phan Ngọc (1998), Nguyễn Minh San (1998), Nguyễn Đăng Duy (1997, 2001a, 2001b, 2001c), Vũ Ngọc Khánh (2006, 2009, 2019), Vũ Thanh Sơn (2002), Đặng Văn Lung (2004).
  2. Nghiên cứu chuyên sâu về Đạo Mẫu và lên đồng: Hệ thống công trình nền tảng của Ngô Đức Thịnh gồm Hát văn (1992), Đạo Mẫu ở Việt Nam (1996), Đạo Mẫu (2007), Đạo Mẫu Việt Nam (2 tập, 2009), Lên đồng: Hành trình của thần linh và thân phận (2007); nghiên cứu khu vực miền Trung của Nguyễn Hữu Thông (Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam, 2001); nghiên cứu Nam Bộ của Võ Văn Sen, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Lên (Tín ngưỡng thờ Mẫu Nam bộ - Bản sắc và giá trị, 2016); nghiên cứu lý thuyết quyền lực mềm của Vũ Thị Tú Anh (2016); ấn phẩm thực hành của Trần Quang Dũng (Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ - Chốn thiêng nơi cõi thực, 2017) và Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan (2017). Ngoài ra có các luận án, luận văn của Nguyễn Ngọc Mai (2011), Hà Thị Thu Hiền (2011), Nguyễn Hữu Thụ (2013), Nguyễn Thị Hiền (2014), Phạm Thị Vân (2015), Phạm Ngọc Anh (2016), Mai Thị Hạnh (2016), Phan Thị Kim (2016), Nguyễn Văn Bốn (2017).
  3. Nghiên cứu tại địa bàn Lâm Đồng và Tây Nguyên: Tác giả rà soát Địa chí Lâm Đồng (2001), Địa chí Đà Lạt (2008), mục "Thờ Mẫu Tam phủ ở Tây Nguyên" trong sách của Ngô Đức Thịnh (2009a) và hai công trình tiền trạm của chính tác giả (khảo sát tại Đà Lạt năm 2004 và luận văn thạc sĩ năm 2007 khảo sát tại 6 huyện, thị).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án thực hiện việc khảo sát toàn diện toàn bộ 144 cơ sở thờ Mẫu trên địa bàn 12/12 huyện, thành phố của tỉnh Lâm Đồng; xác định niên đại du nhập (năm 1923); phân tích lịch sử tổ chức của Việt Nam Thánh Mẫu hội trước năm 1975; làm rõ cơ cấu đan xen giữa hai dạng thức thờ Mẫu miền Bắc và miền Trung trong bối cảnh di dân Tây Nguyên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng 6 lý thuyết chuyên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn:

  • Quan điểm về nhu cầu tôn giáo: Giải thích nguồn gốc tâm lý và hoàn cảnh xã hội thúc đẩy lưu dân người Việt tìm kiếm điểm tựa tinh thần khi di cư lên vùng cao nguyên.
  • Lý thuyết chức năng (Emile Durkheim): Phân tích vai trò duy trì sự liên kết xã hội, củng cố trật tự đạo đức và cố kết cộng đồng thông qua các nghi lễ thực hành tín ngưỡng.
  • Lý thuyết về tính hệ thống của văn hóa (Bonnemaison, Maud Lasseur & Christel Thibault): Giải thích sự biến đổi đồng bộ giữa các thành tố kiến trúc, điện thần và nghi thức khi không gian văn hóa dịch chuyển.
  • Lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa (A.L. Kroeber): Luận giải cơ chế tích hợp các yếu tố văn hóa Chăm, Nam Bộ và văn hóa các tộc người thiểu số vào hệ thống thờ Mẫu tại Lâm Đồng.
  • Lý thuyết tính đồng dạng (Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin, James M. Cook): Nhận diện các liên kết nhóm xã hội giữa các thanh đồng, đồng đền và bản hội dựa trên sự tương đồng về giới tính, hoàn cảnh và niềm tin.
  • Lý thuyết khuếch tán văn hóa (Friedrich Ratzel, Leo Frobenius, Fritz Graebner, Wilhelm Schmidt, Grafton Elliot Smith, W.H.R. Rivers): Phân tích các luồng lan tỏa của tín ngưỡng thờ Mẫu từ các trung tâm Phủ Dầy, Sòng Sơn, Hòn Chén vào cao nguyên Lang Biang.

Khái niệm công cụ

Luận án chuẩn hóa và thao tác hóa 11 khái niệm: Tín ngưỡng dân gian, Mẫu, Thờ Nữ thần, Thờ Mẫu thần, Thờ Tam phủ, Tứ phủ, Lên đồng/hầu đồng, Vấn hầu lễ, Vấn hầu vui, Hầu hội/hầu Huế, Hầu hành chỉnh, Căn mạng/căn đồng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử và logic: Tái hiện tiến trình du nhập, phân kỳ phát triển qua các giai đoạn 1923-1975, 1976-1990, 1991-2018 và đúc kết quy luật biến đổi.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính:
    • Điền dã dân tộc học thông qua quan sát - tham dự các vấn hầu (lập danh mục các vấn hầu tham dự từ năm 2016 đến 2019 ghi tại Phụ lục 9).
    • Phỏng vấn sâu sử dụng thiết bị ghi âm và sổ ghi tốc ký theo các biên bản phỏng vấn cấu trúc hóa (cán bộ quản lý văn hóa, đồng đền, thanh đồng, con nhang).
    • Phương pháp lịch sử truyền khẩu (oral history) nhằm hồi cố thông tin về các cơ sở thờ tự giai đoạn trước năm 1975.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng: Khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với 4 nhóm khách thể (mỗi nhóm 100 phiếu, tổng số 400 mẫu), bao gồm: đồng đền, thanh đồng, con nhang đệ tử và đối tượng khác. Dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: Đối sánh dữ liệu thực địa tại Lâm Đồng với mô hình tín ngưỡng thờ Mẫu tại châu thổ Bắc Bộ và miền Trung.

Nguồn tư liệu

  • Văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng.
  • Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt): hồ sơ Tòa Đại biểu chính phủ tại Cao nguyên Trung phần, Nha Pháp chánh Trung Việt, Phủ Thủ hiến Trung Việt.
  • Dữ liệu điền dã thực địa tại 144 cơ sở thờ tự trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, sơ đồ mặt bằng thờ tự và tài liệu văn bản của Việt Nam Thánh Mẫu hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết, công cụ khái niệm và phân tích các yếu tố thực tiễn quy định sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu tại địa phương:

  • Phân tích bối cảnh tự nhiên đặc thù của cao nguyên Lâm Đồng với khí hậu lạnh, địa hình rừng núi hiểm trở tác động đến tâm lý lo âu của lưu dân khi mới đến định cư.
  • Khảo cứu các dòng di dân người Việt từ Bắc Bộ và Trung Bộ đến Lâm Đồng qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phác thảo bức tranh tôn giáo - tín ngưỡng dân gian đa dạng của người Việt tại Lâm Đồng (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, các loại hình tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thờ cúng tổ tiên, thờ cá Ông, Thiên Y A Na), tạo lập môi trường tích hợp cho tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ.

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ năm 1923 đến năm 1975

Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử nửa thế kỷ đầu tiên của tín ngưỡng thờ Mẫu tại địa phương:

  • Bối cảnh lịch sử - xã hội: Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, quy hoạch đô thị nghỉ dưỡng Đà Lạt và các đợt tuyển mộ mộ phu làm đường, xây dựng công trình, làm đồn điền chè, cà phê dẫn đến dòng di dân người Việt từ đồng bằng lên cao nguyên.
  • Sự xuất hiện các cơ sở đầu tiên: Năm 1923, cơ sở thờ Mẫu đầu tiên được thiết lập tại khu vực Dran (Đơn Dương) dọc tuyến đường giao thông kết nối đồng bằng Phan Rang lên Đà Lạt, tiếp đó là B'lao (Bảo Lộc) và Đà Lạt.
  • Thống kê số lượng cơ sở: Giai đoạn 1923-1975 ghi nhận 34 cơ sở thờ Mẫu (được thống kê qua Bảng 2.1 cho giai đoạn 1923-1954 và Bảng 2.2 cho giai đoạn 1955-1975).
  • Sự ra đời của Việt Nam Thánh Mẫu hội: Thành lập Tổng hội đặt trụ sở tại Đền Việt Nam Thánh Mẫu (đường Ngô Quyền, thành phố Đà Lạt). Sự kiện này tạo lập mạng lưới liên kết sinh hoạt tín ngưỡng chặt chẽ, thu hút đông đảo thanh đồng và tín đồ từ các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Sài Gòn quy tụ về thực hành nghi lễ.
  • Đặc trưng thực hành: Sự xuất hiện song song và gần như đồng thời của cả hai dạng thức thờ Mẫu miền Bắc (thờ Tam tòa Thánh Mẫu gắn với Mẫu Liễu Hạnh) và dạng thức miền Trung (đồng nhất Mẫu Đệ Nhất với Thiên Y A Na, hình thức hầu hội/hầu Huế).

Chương 3: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2018

Chương 3 khảo cứu sự chuyển biến của tín ngưỡng qua các giai đoạn quản lý nhà nước và phát triển kinh tế:

  • Giai đoạn 1976 - 1990: Toàn tỉnh chỉ thành lập mới 17 cơ sở (Bảng 3.1). Hoạt động tín ngưỡng rơi vào giai đoạn khó khăn do nhận thức xã hội thời kỳ này coi lên đồng là mê tín dị đoan; nhiều đền điện bị thu hồi tượng thánh, bát hương, giải thể hoặc thu hẹp hoạt động về quy mô gia đình mang tính cầm chừng.
  • Giai đoạn 1991 - 2018: Thời kỳ phục hồi và gia tăng số lượng cơ sở thờ tự nhờ chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, điều kiện kinh tế nâng cao và tác động từ sự kiện UNESCO vinh danh di sản năm 2016. Toàn tỉnh thành lập mới 93 cơ sở (Bảng 3.2).
  • Tổng quy mô cơ sở: Đến hết năm 2018, toàn tỉnh Lâm Đồng có 144 cơ sở thờ Mẫu phân bố trên 12/12 huyện, thành phố.
Giai đoạn lịch sử Số cơ sở thờ Mẫu thành lập mới Tỷ lệ (%) Đặc điểm hoạt động chủ yếu
1923 - 1975 34 23,61% Du nhập, lập hội (Việt Nam Thánh Mẫu hội), phân bố tại Đà Lạt, Đơn Dương, Bảo Lộc
1976 - 1990 17 11,81% Hoạt động thu hẹp, cầm chừng do định kiến mê tín dị đoan
1991 - 2018 93 64,58% Nở rộ cơ sở mới, phục hồi nghi lễ, phát triển tại 12/12 huyện thị
Tổng cộng đến 2018 144 100% Dạng thức miền Bắc chiếm ưu thế, đan xen dạng thức miền Trung

Chương 4: Xu hướng phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng

Chương 4 tổng hợp các kết quả điều tra định lượng và định tính để rút ra các luận điểm:

  • Đặc trưng cơ sở và bình đồ thờ tự: Các cơ sở tại Lâm Đồng chủ yếu là điện tư gia hoặc đền quy mô nhỏ, đơn giản hóa cấu trúc không gian; vắng bóng các công trình đền phủ bề thế kiểu truyền thống đồng bằng Bắc Bộ.
  • Đặc trưng thần điện: Tồn tại hiện tượng tích hợp thần điện đa dạng: phối thờ Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na, Bà Chúa Xứ, Ngũ Vị Thánh Bà, Quan Công, Đức Thánh Trần, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng liệt sĩ.
  • Giá trị:
    • Lưu giữ nghệ thuật hát chầu văn, trang phục truyền thống và thực hành diễn xướng nghi lễ.
    • Cung cấp cơ chế giải tỏa căng thẳng tâm lý (trị liệu tinh thần) cho cộng đồng lưu dân.
    • Giáo dục ý thức cội nguồn dân tộc và đạo lý đền ơn đáp nghĩa.
  • Một số hạn chế:
    • Từ phía cộng đồng thực hành: Nhận thức giáo lý chưa đồng đều, chia rẽ nội bộ giữa các bản hội, thiếu tổ chức điều hành thống nhất, xuất hiện hiện tượng thương mại hóa, đốt quá nhiều vàng mã, cạnh tranh tiền lộc.
    • Từ phía quản lý nhà nước: Cán bộ cơ sở thiếu kiến thức chuyên sâu về tín ngưỡng, công tác quản lý còn lúng túng giữa bảo tồn di sản và ngăn chặn biến tướng.
  • Dự báo xu hướng: Tiếp tục gia tăng số lượng điện tư gia, tăng tần suất tổ chức các vấn hầu và gia tăng số lượng thanh đồng mới, tiềm ẩn nguy cơ "loạn đồng, loạn bóng".
  • Giải pháp đề xuất: Nâng cao năng lực cho cán bộ văn hóa; thành lập các câu lạc bộ, hội bảo tồn di sản thực hành đúng nghi thức; đẩy mạnh tuyên truyền nếp sống văn minh và xử lý các hành vi trục lợi tâm linh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình du nhập, vận động và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng suốt gần một thế kỷ (1923 - 2018).
  • Làm sáng tỏ quy luật thích ứng và biến đổi của tín ngưỡng dân gian khi dịch chuyển từ trung tâm đồng bằng châu thổ sang địa bàn cư trú mới ở vùng cao nguyên đa tộc người.
  • Xác định cấu trúc dung hợp giữa hai nhánh thờ Mẫu miền Bắc và miền Trung, chứng minh tính chất tiếp biến linh hoạt trong hệ thống thần điện và thực hành nghi lễ của người Việt tại Tây Nguyên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lập danh mục thống kê chi tiết 144 cơ sở thờ Mẫu trên địa bàn 12 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Lâm Đồng kèm dữ liệu về lịch sử hình thành, chủ đền và mặt bằng thờ tự.
  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát xã hội học gồm 400 phiếu xử lý bằng phần mềm SPSS 20, phản ánh thực trạng nhận thức, động cơ tham gia và các vấn đề phát sinh trong sinh hoạt tín ngưỡng.
  • Đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tế cho Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng trong công tác quản lý nhà nước và triển khai chương trình hành động quốc gia bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn về giai đoạn 1923-1954 còn phân tán; dữ liệu khảo cứu các cơ sở thờ tự thời kỳ trước năm 1975 phụ thuộc một phần vào phương pháp lịch sử truyền khẩu (oral history) qua trí nhớ của các thanh đồng cao niên. Phạm vi khảo sát dừng lại ở mốc thời gian năm 2018 trong ranh giới hành chính tỉnh Lâm Đồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng với các tỉnh khác trong khu vực Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông); cập nhật những chuyển biến trong quản lý và thực hành tín ngưỡng tại địa phương sau mốc năm 2018.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Nguồn tư liệu chuyên khảo về lịch sử tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, văn hóa học và dân tộc học người Việt tại Tây Nguyên; mẫu hình áp dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu) và định lượng (SPSS 20).
  • Đối với giảng viên đại học: Cung cấp tài liệu giảng dạy cho các học phần Lịch sử Việt Nam, Tín ngưỡng - Tôn giáo Việt Nam, Văn hóa học và Địa phương học Lâm Đồng.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Giúp Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng cùng chính quyền các huyện, thị xã nắm rõ danh mục cơ sở, thực trạng hoạt động và áp dụng các giải pháp quản lý lễ hội, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở thờ Mẫu đầu tiên tại Lâm Đồng được thành lập vào năm nào và ở đâu?

Cơ sở thờ Mẫu đầu tiên tại Lâm Đồng được xác định thành lập vào năm 1923 tại khu vực Dran (huyện Đơn Dương ngày nay), gắn liền với tuyến đường giao thông huyết mạch từ đồng bằng Phan Rang kết nối lên cao nguyên Lang Biang trong quá trình người Pháp khai thác thuộc địa và xây dựng đô thị Đà Lạt.

2. Đến hết năm 2018, tỉnh Lâm Đồng có bao nhiêu cơ sở thờ Mẫu và phân bố ra sao?

Tính đến hết năm 2018, toàn tỉnh Lâm Đồng có 144 cơ sở thờ Mẫu phân bố tại 12/12 huyện, thị xã và thành phố. Trong đó, các cơ sở tập trung nhiều nhất ở những địa bàn đông dân cư người Việt như thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng, huyện Lâm Hà và thành phố Bảo Lộc.

3. Tổ chức tín ngưỡng thờ Mẫu tiêu biểu nhất ở Lâm Đồng trước năm 1975 là tổ chức nào?

Tổ chức tiêu biểu nhất là Việt Nam Thánh Mẫu hội, đặt trụ sở Tổng hội tại Đền Việt Nam Thánh Mẫu (đường Ngô Quyền, thành phố Đà Lạt). Tổ chức này đã ban hành quy chế, điều lệ sinh hoạt chặt chẽ và mở rộng mạng lưới liên kết tín đồ từ các tỉnh lân cận như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Sài Gòn.

4. Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng gồm những dạng thức chính nào?

Tại Lâm Đồng tồn tại song song hai dạng thức thờ tự chính: dạng thức thờ Mẫu miền Bắc (thờ Tam tòa Thánh Mẫu với thần chủ Liễu Hạnh, nghi thức hầu đồng truyền thống) và dạng thức thờ Mẫu miền Trung (đồng nhất Mẫu Đệ Nhất với Thiên Y A Na, nghi thức hầu hội/hầu Huế). Trong đó, dạng thức miền Bắc chiếm số lượng áp đảo.

5. Luận án đã sử dụng công cụ nào để xử lý dữ liệu khảo sát định lượng?

Luận án tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên 4 nhóm đối tượng (đồng đền, thanh đồng, con nhang, đối tượng khác) với quy mô 100 phiếu cho mỗi nhóm (tổng số 400 phiếu khảo sát) và sử dụng phần mềm SPSS 20 để nhập liệu, phân tích các tương quan thống kê.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Thoa là công trình chuyên khảo lịch sử - văn hóa về quá trình du nhập, định hình và biến đổi của tín ngưỡng thờ Mẫu tại tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 1923 - 2018. Thông qua sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử, điền dã dân tộc học và phân tích định lượng xã hội học, nghiên cứu đã phục dựng bức tranh 144 cơ sở thờ tự và chỉ rõ các đặc trưng giao thoa văn hóa Bắc - Trung trên vùng đất Nam Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu địa phương cho hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể của người Việt, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng tại Lâm Đồng.