đặt vấn đề so sánh để tìm ra những tƣơng đồng và khác biệt giữa lễ Kut và lên đồng trên một số phƣơng diện nhƣ ai là ngƣời có thể thực hiện nghi lễ, thần linh trong kut và lên đồng, trang phục mà ngƣời hành lễ sử dụng, kỹ năng ngƣời hành lễ, âm nhạc, lễ vật, cách thức phát lộc trong khi hành lễ. Tác giả đã kết luận: “Về cơ bản, những cách thức tƣợng trƣng đƣợc sử dụng trong giao tiếp với linh hồn giữa thế giới lên đồng và thế giới kut có nhiều điểm tƣơng đồng” (Laurel Kendall, 2004, tr. 6 Trong số các học giả nƣớc ngoài nghiên cứu về tục thờ Mẫu của ngƣời Việt còn có Silapakit Teekantikun. Với Luận án tiến sĩ lịch sử mang tên Nghi lễ lên đồng của người Việt ở miền Bắc Việt Nam và của người Lào ở đông bắc Thái Lan… đƣợc thực hiện vào năm 2010 tại Trƣờng Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả cho rằng: Trong xã hội đƣơng đại, tục lên đồng của ngƣời Việt có xu hƣớng phát triển không chỉ ở địa bàn nông thôn mà còn cả ở thành thị, đặc biệt là Hà Nội.
Còn về tục “Khuồng Phi Phon” của ngƣời Lào ở Đông Bắc Thái Lan, mặc dù vẫn đƣợc duy trì nhƣng không phát triển bằng tục lên đồng của ngƣời Việt (Silapakit Teekantikun, 2010, tr. Nhìn chung, các học giả nƣớc ngoài khi nghiên cứu về TNTM của ngƣời Việt thƣờng tập trung vào hầu đồng - nghi lễ đặc trƣng nhất của tục thờ này; những vấn đề khác nhƣ nguồn gốc và quá trình hình thành TNTM, các dạng dạng thức thờ tự, những đặc trƣng của TNTM các vùng miền trong cả nƣớc ta. vẫn chƣa dành đƣợc sự quan tâm đúng mức 2. Những nghiên cứu của các học giả trong nƣớc 2.
Những công trình nghiên cứu tổng quan về văn hóa dân gian trong đó có đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu Hiện nay, công tác nghiên cứu về văn hóa, văn học, TNDG… của một dân tộc, một đất nƣớc đã trở thành đề tài thu hút sự chú ý đặc biệt của đông đảo học giả. Ở Việt Nam, số lƣợng các công trình thuộc thể loại này vô cùng phong phú. Tuy nhiên trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, TNDG mà trong đó các tác giả có đề cập đến tục thờ Nữ thần, tục thờ Mẫu. Hiện tƣợng thờ Mẫu đã ra đời từ giữa thế kỷ XVI và huyền thoại về Thánh Mẫu Liễu Hạnh cũng đƣợc lƣu truyền trong dân gian từ rất lâu song hành với sự lan tỏa của loại hình TN này.
Tuy nhiên theo hiểu biết của chúng tôi, phải đợi tới thế kỷ XVIII, huyền thoại Thánh Mẫu Liễu Hạnh mới đƣợc Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sƣu tập và giới thiệu trong tập truyện Truyền kỳ tân phả của bà với tiêu đề Vân Cát 7 thần nữ. Qua tác phẩm này, lần đầu tiên tiên thoại về vị Nữ Thánh - một trong Tứ bất tử của ngƣời Việt đƣợc giới thiệu một cách chi tiết, sinh động. Theo Đoàn Thị Điểm (2001, tái bản): Nguồn gốc xuất thân của Mẫu Liễu vốn là Đệ nhị Tiên Chúa Quỳnh nƣơng - con Ngọc Hoàng do đánh vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian và đầu thai vào nhà họ Lê ở Vụ Bản - Nam Định với tên gọi Giáng Tiên. Lớn lên, Giáng Tiên càng xinh đẹp, lại thông minh.
Sau đó, nàng kết hôn với Đào Lang rồi hạ sinh một con trai và một con gái. Ngày mùng 3 tháng Ba (âm lịch) tự nhiên không bệnh mà mất vì hết hạn phải về trời (khi mới 21 tuổi). Song vì còn nặng tình nhân gian, nàng đƣợc Ngọc Hoàng Thƣợng Đế phong là Liễu Hạnh công chúa và cho giáng trần lần hai để thăm gia đình cũ. Lần này, nàng không ở yên một nơi mà thƣờng đi mây về gió (có khi giả làm cô gái đẹp thổi ống tiêu dƣới trăng, có khi hóa làm bà già tựa gốc cây trúc bên đƣờng); ngƣời nào dùng lời đùa cợt tất bị vạ tai, ngƣời nào mang lễ cầu đảo tất đƣợc phúc… Cũng trong lần giáng thứ hai này, Liễu Hạnh đã kết hôn với một thƣ sinh ở Nghệ An vốn là kiếp sau của chồng bà, nhƣng sau đó hết hạn phải về trời.
Sau 5 năm, nàng lại xin vua cha giáng lần ba tại Phố Cát - Thanh Hóa. Tiên Chúa thƣờng hiển linh, ngƣời lành đƣợc phúc, kẻ ác bị tai vạ. Nhân dân đã lập đền thờ. Về đời Cảnh Trị (1663 - 1671) - niên hiệu vua Lê Huyền Tông, triều đình nghe tin đồn tƣởng yêu quái, sai quân Vũ lâm cùng thuật sĩ đến nơi trừ tiễu.
Sau đó ít lâu, cả vùng sinh bệnh dịch khiến triều đình phải cho sửa sang làm lại đền mới trong núi Phố Cát, sắc phong Mã Hoàng Công chúa. Về sau, quân triều đình đi tiễu trừ giặc, Tiên Chúa có công giúp sức, đƣợc triều đình gia tặng Chế Thắng Hòa diệu đại vương (xem Đoàn Thị Điểm, 2001, tr. Nguyễn Công Trứ trong Đại Nam quốc âm ca khúc (thế kỷ XIX) (đƣợc trích bởi Ngô Đức Thịnh, 2009b) có bài Liễu Hạnh công chúa diễn âm. Đây là một tập sách Hán Nôm đang đƣợc lƣu giữ tại Thƣ viện KHXH, kí hiệu AB146.
Dù có khác về cách thức diễn đạt so với Vân Cát thần nữ, nhƣng nội dung chính của Liễu Hạnh công chúa diễn âm vẫn xoay quanh vấn đề nguồn gốc xuất thân của Mẫu Liễu từ Tiên Chúa phạm lỗi và bị đày vào nhà họ nhà Trần, mất năm 21 tuổi; giáng trần lần hai cũng lấy thƣ sinh vốn là kiếp sau của chồng cũ… 8 Trong Nam Hải dị nhân (xuất bản lần đầu năm 1909), Phan Kế Bính cũng giới thiệu về “Liễu Hạnh Tiên Chúa”, qua đó lần giáng thứ ba của Thánh Mẫu đƣợc giới thiệu nhƣ sau: Về sau, Tiên Chúa hiển thánh ở Phố Cát tỉnh Thanh Hóa, hiện ra làm con gái đẹp bán nƣớc, những kẻ đùa bỡn chết hại rất nhiều, triều đình nghi là yêu quái, sai thầy phù thủy là Trịnh Hoàng Thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi, tàn phá đền đài. Đƣợc vài tháng dân xứ ấy dịch tễ, lập đàn cầu khấn, thì mới biết là Tiên Chúa hiển thánh; tâu lên triều đình, vua sai sửa sang lại đền miếu, phong bà làm Mã Hoàng công chúa. Sau lại có công giúp nƣớc phá giặc Mán, đƣợc phong làm Chế Thắng Hòa diệu đại vương lập đền trên núi Sùng Sơn đến giờ vẫn còn anh linh (Phan Kế Bính, 2016).
Đầu thế kỷ XX, trong bộ Bulletin Les amis du vieux Huế (tập 1, năm 1914), nhà nghiên cứu Đào Thái Hanh đã để lại nhiều bài nghiên cứu hấp dẫn về các vị nữ thần; làm tăng thêm nét cổ kính của Cố đô Huế một màu sắc huyền hoặc biểu thị lòng tin vào thần linh của ngƣời dân vùng Huế xƣa. Thông qua bài giới thiệu của Trần Văn Dũng (2013), chúng ta có thể biết đến một số bài nghiên cứu của Đào Thái Hanh, trong đó đáng chú ý là các bài Histoire de la déesse Thiên-Y-A-Na (Lịch sử nữ thần Thiên Y A Na); La déesse Liễu Hạnh (Nữ thần Liễu Hạnh)… Tuy nhiên, các bài viết của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Phan Kế Bính (trong Nam Hải dị nhân) hay Đào Thái Hanh chỉ mang tính thuật truyện - ghi chép lại những huyền thoại về Mẫu Liễu Hạnh lƣu truyền trong dân gian. Đầu thế kỷ XX, công tác nghiên cứu về TNTM ở Việt Nam mới chính thức đƣợc bắt đầu. Ngƣời tiên phong trong lĩnh vực này là nhà Nho theo tân học Phan Kế Bính với tác phẩm Việt Nam phong tục (mục Đồng cốt), xuất bản lần đầu năm 1915 và đƣợc tái bản nhiều lần.
Theo ông: Đồng cốt là những ngƣời thờ về chƣ vị, nhƣ thờ bà Liễu Hạnh công chúa, Thƣợng Ngàn công chúa, Cửu Thiên huyền nữ, v.v… thì gọi là đồng Đức mẹ, thờ Hoàng tử gọi là đồng Đức ông, thờ các Cậu gọi là đồng Cậu, thờ các Cô gọi là đồng Cô… Ngƣời nào bị chƣ vị bắt đồng thì phải ngồi hầu 9 Thánh… Thánh đã bắt đồng thì phải lập cửu tĩnh riêng tại nhà mà thờ hoặc phải đến chầu chực tại nơi đền miếu nào đó (Phan Kế Bính, 1995, tr. Ngoài việc giới thiệu những thông tin liên quan đến tục thờ này, tác giả cũng thẳng thắn phê phán những ngƣời tin vào đồng cốt, cho đó là mê tín. Tác giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (xuất bản lần đầu năm 1938) cũng quan tâm đến TNTM qua mục Tín ngưỡng và tế tự. Theo ông: Những ngƣời thờ chƣ vị đƣợc gọi là đồng cốt, hay bà đồng.
Đàn bà con gái, nhất bà bà góa hay gái già, nếu xem bói hay nằm mộng mà thấy có số thờ thì phải làm lễ đội bát hƣơng ở tĩnh hay phủ, để xin làm con công đệ tử… Trong hàng chƣ vị đƣợc nhân dân sùng bái hơn cả là thánh Liễu Hạnh. Tuy nhiên tác giả lại kết luận rằng đó “chỉ là một mớ mê tín nhảm nhí” (Đào Duy Anh, 1992, tr. Năm 1939, tác giả Nguyễn Văn Huyên - ngƣời đặt nền móng cho ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam đã hoàn thành bản thảo cuốn La civilisation annamite - Văn minh Việt Nam với mong muốn công bố cho độc giả phƣơng Tây về một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên đến năm 1944, sách mới đƣợc xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội.
Trong tác phẩm này, ông đã dành một phần nói đến hình thức lên đồng nhƣ là một sinh hoạt đạo Lão dân gian Việt Nam với việc thờ Chƣ vị - đó là “những thần linh nữ và nam ở ba thế giới - Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ” (Nguyễn Văn Huyên, 2016, tr. Cũng trong tác phẩm này ông còn cho rằng, những ngƣời làm bà đồng là do Chƣ vị chọn, qua nằm mộng hay đột nhiên cảm thấy thần kinh rất khác thƣờng. Ngƣời ta thƣờng làm hài lòng chƣ vị bằng cách đội bát hương. Song, nếu việc đội bát hƣơng không làm cho họ khỏi ốm, ngƣời ta buộc phải để ngƣời đó trở thành bà đồng.
Khi đã trở thành bà đồng, họ phải thực hiện nghi lễ lên đồng đều đặn để đƣợc khỏe mạnh, phát tài (tr. Phía Nam đất nƣớc, nhà khảo cứu Toan Ánh cũng dành sự quan tâm tới loại hình TN này trong Nếp c Tín ngưỡng Việt Nam (Quyển thƣợng) đƣợc NXB Nam 10 Chi Tùng thƣ ấn hành lần đầu năm 1968. Trong phần biến thể của đạo Lão, tác giả cho rằng: “Đồng cốt là những ngƣời có căn thờ chƣ vị nhƣ Liễu Hạnh công chúa, Cửu Thiên huyền nữ, Thƣợng Ngàn công chúa… hoặc các vị Hoàng tử, các Cô, các Cậu (Toan Ánh, 2005.