Tổng quan về luận án

Công trình khoa học của tác giả Bùi Thị Thoa (2020) với đề tài "Quá trình du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018" (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Đà Lạt, dưới sự hướng dẫn của PGS. Cao Thế Trình và TS. Hoàng Thị Như Ý) là công trình tiên phong giải mã toàn diện diện mạo lịch sử, cấu trúc thần điện và thực hành nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu (TNTM) tại địa bàn Nam Tây Nguyên.

Trong bối cảnh UNESCO chính thức ghi danh "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 01/12/2016, hồ sơ đệ trình quốc tế chỉ mới tập trung khảo sát 21 tỉnh thành từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Việc thiếu vắng dữ liệu khoa học về vùng đất Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng đã tạo ra một khoảng trống nghiên cứu (research gap) mang tính chiến lược trong bức tranh toàn cảnh về sự di chuyển văn hóa (cultural mobility) của người Việt.

Nghiên cứu được kiến tạo nhằm giải quyết 6 câu hỏi nghiên cứu (RQs) và kiểm chứng 6 giả thuyết khoa học (Hs) tương ứng:

  • RQ1 & H1: Căn nguyên tôn giáo - xã hội dẫn đến sự hiện diện của TNTM trên vùng đất cư trú của các tộc người bản địa Tây Nguyên xuất phát từ nhu cầu xác lập điểm tựa tâm linh của các làn sóng di dân người Việt trong quá trình khai phá kinh tế;
  • RQ2 & H2: Mốc thời gian du nhập sớm nhất được định vị chính xác vào năm 1923 tại Dran (Đơn Dương) và Đà Lạt gắn liền với tiến trình quy hoạch hạ tầng của chính quyền thực dân Pháp;
  • RQ3 & H3: Sự phân bố không đồng đều mang tính cục bộ của 144 cơ sở thờ tự trên 12/12 huyện, thành phố;
  • RQ4 & H4: Sự biến đổi hình thái kiến trúc đền phủ truyền thống (tinh giản kết cấu tam quan, bờ đao, mái ngói cổ truyền) dưới tác động của điều kiện địa - văn hóa và kinh tế;
  • RQ5 & H5: Quá trình tái cấu trúc thần điện với sự tích hợp giữa hệ thống Tứ phủ miền Bắc và điện thờ Thiên Y A Na miền Trung;
  • RQ6 & H6: Đánh giá thực trạng thương mại hóa và hiện tượng "loạn đồng, loạn bóng" trong thực hành đương đại.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp đa chiều giữa Chức năng luận (Emile Durkheim), Thuyết Hệ thống văn hóa (Bonnemaison), Thuyết Tiếp biến văn hóa (A.L. Kroeber) và Thuyết Tính đồng dạng (McPherson et al.). Quy mô khảo sát bao quát $N = 400$ mẫu định lượng trên 4 nhóm khách thể cùng $144$ cơ sở thờ tự trong khung thời gian gần 1 thế kỷ ($1923 - 2018$), mang lại giá trị khoa học vượt bậc cho ngành Lịch sử, Tôn giáo học và Văn hóa học Việt Nam.

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu về TNTM và nghi lễ lên đồng ghi nhận sự phân nhánh rõ nét qua các thời kỳ và trường phái học thuật:

flowchart TD
    A["Nghiên cứu Tín ngưỡng thờ Mẫu"] --> B["Thư tịch & Ghi chép Cổ điển<br/>(Đoàn Thị Điểm 2001; Phan Kế Bính 1915; Đào Duy Anh 1938; Nguyễn Văn Huyên 1944)"]
    A --> C["Nghiên cứu Quốc tế & Shaman giáo<br/>(Lagrèze 1941; Durand 1959; Simon & Simon-Baruch 1973; Kendall 2004; Proschan 2004)"]
    A --> D["Nghiên cứu Chuyên sâu Đương đại<br/>(Ngô Đức Thịnh 1992-2010; Nguyễn Hữu Thông 2001; Vũ Ngọc Khánh 2006-2009)"]
    B --> E["Khoảng trống: Vùng đất Nam Tây Nguyên / Lâm Đồng"]
    C --> E
    D --> E
    E --> F["Luận án Bùi Thị Thoa (2020):<br/>Hệ thống hóa Lịch sử - Cấu trúc - Thực hành tại Lâm Đồng (1923-2018)"]

Giai đoạn đầu thế kỷ XX, các học giả quốc tế đã tiếp cận hiện tượng này dưới lăng kính nhân học và tôn giáo học so sánh: Antoine Lagrèze (1941) dịch thuật Biên niên sử Ngọc phả họ Lê từ "Đồng sách" Đền Sòng; Maurice Durand (1959) trong công trình kinh điển Technique et Panthéon des médiums viêtnamiens đã xác lập cơ sở phân loại lên đồng như một dạng thức Shaman giáo bản địa hóa; Pierre Simon và Ida Simon-Baruch (1973) tiếp cận xã hội học về 27 buổi hầu đồng của kiều bào tại Pháp. Về sau, Laurel Kendall (2004) đặt phép so sánh tương đồng cấu trúc giữa nghi lễ Kut của Hàn Quốc và Lên đồng Việt Nam qua hệ thống thần linh, trang phục và âm nhạc nghi lễ; Silapakit Teekantikun (2010) so sánh với nghi thức Khuồng Phi Phon của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan nhằm chỉ ra tính thích ứng đô thị vượt trội của đạo Mẫu Việt Nam.

Trong nước, sau những góc nhìn hoài nghi của Phan Kế Bính (1915) hay Đào Duy Anh (1938) khi từng coi lên đồng là "mê tín nhảm nhí", các công trình của Nguyễn Văn Huyên (1944), Toan Ánh (1968), Phan Ngọc (1998) và đặc biệt là hệ thống công trình của GS. Ngô Đức Thịnh (1992, 1996, 2004, 2007, 2009a, 2009b, 2010a) đã chuẩn hóa khái niệm "Đạo Mẫu Việt Nam" với 3 tầng bậc: Thờ Nữ thần, Thờ Mẫu thần và Thờ Tam phủ, Tứ phủ. Nguyễn Hữu Thông (2001) đào sâu biến thể Thiên Y A Na tại miền Trung, trong khi Nguyễn Chí Bền và Hồ Tường (2004) phân lập hai dòng thờ Mẫu tại Nam Bộ.

Vị thế học thuật của luận án: Mặc dù công trình đồ sộ Địa chí Lâm Đồng (2001, 860 trang) bỏ trống hoàn toàn mảng TNTM, và Địa chí Đà Lạt (2008) chỉ nhắc sơ lược 4 cơ sở (Đền Linh Bửu, Bảo Hương Linh Từ, Việt Nam Thánh Mẫu, Suối Cát Linh Từ), luận án của Bùi Thị Thoa là công trình khoa học đầu tiên định vị toàn bộ 144 cơ sở thờ tự, làm rõ quá trình tiếp biến của hai dòng thờ Mẫu Bắc - Trung tại Lâm Đồng, giải quyết triệt để sự thiếu hụt tư liệu địa phương trong công trình của Ngô Đức Thịnh (2009a).

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng biên độ giải thích của Lý thuyết Chức năng luận tôn giáo (Emile Durkheim, 1912) khi chứng minh rằng trong môi trường di dân lập nghiệp nhiều rủi ro sinh thái - xã hội, thực hành nghi lễ thờ Mẫu không chỉ tái lập trật tự vũ trụ quan mà còn hoạt động như một cơ chế cố kết xã hội (social cohesion mechanism), cung cấp liệu pháp cân bằng tâm sinh lý (psychological therapy) cho các nhóm cộng cư tứ xứ.

Nghiên cứu đóng góp vào Lý thuyết Giao lưu - Tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory - A.L. Kroeber, 1948) thông qua phát hiện về cơ chế "dung hợp kép": cội nguồn Tam phủ miền Bắc hòa quyện cùng tín ngưỡng Thiên Y A Na miền Trung và tín ngưỡng thờ Mẹ Xứ sở của các tộc người bản địa Tây Nguyên, tạo nên cấu trúc thần điện mở linh hoạt.

Đồng thời, luận án kiểm chứng Lý thuyết Tính đồng dạng (Homophily Theory - McPherson, Smith-Lovin, & Cook, 1987), chỉ ra rằng mạng lưới bản hội, con nhang đệ tử hình thành dựa trên sự tương đồng về nguồn gốc di cư, vị thế xã hội và nhu cầu bảo trợ tâm linh.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 4 trường phái lý thuyết cốt lõi:

Thành phần lý thuyết Tác giả Chiều kích ứng dụng trong luận án
Xã hội học Tôn giáo Emile Durkheim (1912) Đánh giá chức năng cố kết cộng đồng và nhu cầu tâm linh cứu rỗi nơi đất mới
Địa - Văn hóa & Hệ thống J. Bonnemaison (2000) Giải mã sự biến đổi cấu trúc không gian thờ tự và thích ứng sinh thái Nam Tây Nguyên
Tiếp biến Văn hóa A.L. Kroeber (1948) Phân tích cơ chế cộng sinh giữa dòng Mẫu miền Bắc (Liễu Hạnh) và miền Trung (Thiên Y A Na)
Khuếch tán Văn hóa F. Ratzel; F. Graebner Phân tích lộ trình lan tỏa tiên phát và thứ sinh từ đồng bằng Bắc Bộ vào Tây Nguyên

Khái niệm thao tác hóa trọng tâm: Luận án phân định tường minh giữa Thờ Nữ thần (tôn vinh giống cái/nhiên thần tự nhiên), Thờ Mẫu thần (nhân thần, vương mẫu có công trạng) và Thờ Tam phủ, Tứ phủ (hệ thống vũ trụ luận hoàn chỉnh lấy Thánh Mẫu Liễu Hạnh làm trung tâm thần chủ).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng lập trường phương pháp luận Hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp giữa Phương pháp Lịch sử và Phương pháp Logic nhằm tái cấu trúc tiến trình vận động $1923 - 2018$. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed-methods Design) kết hợp chặt chẽ giữa:

  1. Định tính chuyên sâu: Điền dã dân tộc học với kỹ thuật quan sát - tham dự trực tiếp tại các đàn đồng và phỏng vấn sâu cấu trúc;
  2. Định lượng thực nghiệm: Điều tra xã hội học diện rộng nhằm lượng hóa các động cơ, hành vi và nhận thức tâm linh.
flowchart LR
    subgraph QUAL["Nghiên cứu Định tính"]
        Q1["Tư liệu Lưu trữ Quốc gia IV"]
        Q2["Điền dã Dân tộc học (2016-2019)"]
        Q3["Lịch sử truyền miệng (Oral History)"]
        Q4["Phỏng vấn sâu 4 nhóm tác nhân"]
    end
    subgraph QUANT["Nghiên cứu Định lượng"]
        N1["Khảo sát Bảng hỏi (N = 400)"]
        N2["4 Nhóm Khách thể (n = 100/nhóm)"]
        N3["Phần mềm Xử lý: SPSS 20.0"]
        N4["Thống kê Mô tả & Tương quan Chéo"]
    end
    QUAL --> TRIANGULATION{"Tam giác đạc Dữ liệu<br/>(Triangulation)"}
    QUANT --> TRIANGULATION
    TRIANGULATION --> OUT["Bức tranh Toàn diện TNTM Lâm Đồng (1923-2018)"]

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Nguồn dữ liệu lưu trữ: Khai thác hệ thống hồ sơ gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt), bao gồm công văn, báo cáo của Nha Pháp chánh Trung Việt, Phủ Thủ hiến Trung Việt, Tòa Đại biểu Chính phủ tại Cao nguyên Trung phần và Nha Thanh tra Lao động.
  • Dữ liệu điền dã định tính: Tham dự trực tiếp hàng chục vấn hầu (Phụ lục 9 ghi nhận các đàn lễ từ năm 2016 đến 2019), phỏng vấn sâu các đồng đền, thanh đồng cao niên (kỹ thuật Oral History - lịch sử truyền miệng), ghi chép nhật ký điền dã và khảo tả mặt bằng kiến trúc $144$ cơ sở.
  • Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa văn bản hành chính lưu trữ, lời kể nhân chứng lịch sử và dữ liệu điều tra thực địa.

Data và phân tích

Mẫu định lượng được phân bổ chuẩn hóa với $N = 400$ phiếu, chia đều cho 4 nhóm khách thể ($n = 100$ mỗi nhóm):

  1. Nhóm Đồng đền (chủ cơ sở thờ tự);
  2. Nhóm Thanh đồng (người trực tiếp thực hành diễn xướng hầu đồng);
  3. Nhóm Con nhang đệ tử;
  4. Nhóm Quản lý văn hóa và cộng đồng dân cư xung quanh.

Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, phân tích thống kê mô tả, kiểm định tương quan chéo giữa thời gian thành lập đền phủ, nguồn gốc địa phương của tín đồ với loại hình thờ tự và động cơ tâm linh.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

1. Tái dựng bức tranh không gian - thời gian với 144 cơ sở thờ tự phân bố tại 12/12 huyện, thị xã: Luận án xác lập biên niên sử phát triển của TNTM Lâm Đồng qua 4 giai đoạn lịch sử rõ rệt với số liệu thống kê chuẩn xác:

  • Giai đoạn 1923 - 1954: Hình thành 14 cơ sở ban đầu tại Đà Lạt, Đơn Dương gắn với quá trình mở đường và mộ phu đồn điền thời Pháp thuộc;
  • Giai đoạn 1955 - 1975: Lập mới 20 cơ sở (tổng cộng 34 cơ sở), tiêu biểu là sự thành lập tổ chức quy mô Việt Nam Thánh Mẫu hội với trụ sở Tổng hội đặt tại Đền Việt Nam Thánh Mẫu (đường Ngô Quyền, Đà Lạt), thu hút tín đồ từ Sài Gòn, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa;
  • Giai đoạn 1976 - 1990: Giai đoạn biến động do hoàn cảnh lịch sử, chỉ lập thêm 17 cơ sở trong điều kiện sinh hoạt tôn giáo khép kín, một số cơ sở bị thu hồi tự khí hoặc dỡ bỏ;
  • Giai đoạn 1991 - 2018: Sự bùng nổ vượt bậc với 93 cơ sở mới được xác lập (chiếm $64.58%$ tổng số cơ sở hiện hữu), nâng tổng quy mô lên 144 đền, điện, phủ trên toàn tỉnh.
pie title Tỷ lệ cơ sở thờ Mẫu thành lập qua các thời kỳ tại Lâm Đồng
    "1923 - 1954 (14 cơ sở)" : 9.72
    "1955 - 1975 (20 cơ sở)" : 13.89
    "1976 - 1990 (17 cơ sở)" : 11.81
    "1991 - 2018 (93 cơ sở)" : 64.58

2. Nhận diện cấu trúc lưỡng hợp văn hóa Bắc - Trung: Khác với sự thuần nhất Tam phủ ở đồng bằng Bắc Bộ, tại Lâm Đồng tồn tại song song 2 dạng thức:

  • Dạng thức thờ Mẫu miền Bắc (chiếm ưu thế áp đảo): Thờ Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ) lấy Mẫu Liễu Hạnh làm trung tâm;
  • Dạng thức thờ Mẫu miền Trung (chiếm tỷ lệ nhỏ hơn): Đồng nhất Mẫu Đệ Nhất với Nữ thần Thiên Y A Na, thực hành lối "Hầu hội/Hầu Huế" (nhiều thanh đồng cùng bước vào chiếu đồng tuần tự theo các cõi).

3. Sự giản lược và biến đổi hình thái kiến trúc - tự khí: Dưới áp lực kinh tế và điều kiện vùng đất mới, phần lớn cơ sở mang hình thức "Điện tư gia" xây dựng kiên cố dạng nhà ở, vắng bóng kết cấu vì kèo gỗ truyền thống, tam quan nguy nga hay chạm khắc "lưỡng long chầu nguyệt" phức tạp, thay vào đó là sự bài trí tập trung và tích hợp phối thờ Đức Thánh Trần, Bác Hồ và các Anh hùng liệt sĩ.

4. Phân tích thực trạng thương mại hóa và hiện tượng lệch chuẩn: Kết quả điều tra phản ánh rõ nét tình trạng thương mại hóa nghi lễ, hiện tượng "buôn thần bán thánh", sự cạnh tranh vật chất qua giá đồng và nguy cơ "loạn đồng, loạn bóng" do sự bùng nổ thanh đồng trẻ thiếu hiểu biết sâu sắc về căn mạng và lề lối diễn xướng cổ truyền.

Implications đa chiều

  • Lý thuyết: Bổ sung luận cứ thực nghiệm vững chắc cho luận điểm của Đặng Việt Bích (2005) về phản ứng của tín ngưỡng bản địa trước tôn giáo ngoại lai và công cuộc mở cõi về phương Nam;
  • Phương pháp luận: Xác lập quy trình điền dã kết hợp định lượng SPSS trong nghiên cứu folklore và tôn giáo học địa phương;
  • Thực tiễn & Chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ban Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng hoạch định chính sách phân loại quản lý di sản, ngăn chặn trục lợi tâm linh mà vẫn bảo tồn không gian thiêng của Di sản UNESCO.

Limitations và Future Research

  1. Giới hạn không gian và mẫu hồi cố: Do biến thiên lịch sử trước năm 1975, nhiều chứng tích vật chất và tự khí cổ bị thất lạc; nguồn dữ liệu giai đoạn $1923 - 1954$ phụ thuộc đáng kể vào ký ức hồi cố của các thanh đồng cao niên (Recall bias).
  2. Phạm vi phân tích âm nhạc và ngôn ngữ diễn xướng: Luận án tập trung sâu vào lịch sử và văn hóa học, chưa đi sâu giải mã cấu trúc âm nhạc học (ethnomusicology) của các làn điệu hát văn biến thể miền Trung tại Tây Nguyên.
  3. Hướng nghiên cứu tương lai:
    • Mở rộng phân tích so sánh liên vùng giữa Lâm Đồng với Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum;
    • Ứng dụng mô hình Phương trình Cấu trúc Tuyến tính (SEM) để kiểm định tác động của vốn tâm linh (spiritual capital) đến hành vi kinh tế của cộng đồng con nhang;
    • Nghiên cứu nhân học thị giác (visual anthropology) số hóa 3D toàn bộ hệ thống $144$ thần điện tại Lâm Đồng.

Tác động và ảnh hưởng

  • Học thuật: Lấp đầy khoảng trống tư liệu nghiên cứu đạo Mẫu vùng Nam Tây Nguyên; dự kiến trở thành tài liệu quy chuẩn được trích dẫn trong các công trình lịch sử văn hóa và tôn giáo học Việt Nam.
  • Quản lý Di sản và Du lịch: Cung cấp bản đồ phân bố di sản văn hóa phi vật thể, mở ra tiềm năng phát triển tuyến du lịch di sản tâm linh bền vững tại Đà Lạt - Bảo Lộc.
  • Tác động Xã hội: Chuẩn hóa nhận thức cộng đồng về giá trị nhân văn của thực hành hầu đồng chân chính, đẩy lùi mê tín dị đoan và thương mại hóa tâm linh.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống tư liệu sơ cấp chuẩn xác, mô hình kết hợp phương pháp lịch sử - xã hội học định lượng (SPSS).
  • Cơ quan Quản lý Nhà nước (Sở VHTTDL, Ban Tôn giáo): Sở hữu khung tiêu chí đánh giá và giải pháp quản lý thực tiễn đối với các cơ sở đền điện tư gia.
  • Cộng đồng Thực hành Tín ngưỡng: Thanh đồng, thủ nhang, bản hội có cơ sở chuẩn mực để chấn chỉnh lề lối thực hành di sản theo tinh thần Công ước UNESCO 2003.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng Thuyết Tiếp biến Văn hóa khi chứng minh sự hội tụ và dung hợp hoàn hảo giữa dòng Mẫu Tam phủ phía Bắc với thần nữ Thiên Y A Na miền Trung trong một địa bàn sinh thái - nhân văn đặc thù là vùng cao nguyên Nam Tây Nguyên, hình thành nên một biến thể địa phương mang tính thích ứng cao.

2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

Khác với các nghiên cứu trước đây (như Ngô Đức Thịnh 1996 nặng về mô tả định tính, hoặc Maurice Durand 1959 thiên về khảo tả biểu tượng), luận án tiên phong kết hợp Tam giác đạc dữ liệu: Sử dụng tư liệu lưu trữ hành chính thời Pháp thuộc/VNCH tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV đối sánh trực tiếp với khảo sát thực địa toàn diện 144 cơ sở và phân tích định lượng $N = 400$ mẫu bằng SPSS 20.0.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Sự phát triển nhảy vọt của các cơ sở thờ Mẫu giai đoạn 1991 - 2018 ($93/144$ cơ sở, chiếm $64.58%$) diễn ra chủ yếu dưới hình thức Điện tư gia, phản ánh quá trình tư nhân hóa không gian thiêng và sự dịch chuyển từ thiết chế sinh hoạt cộng đồng làng xã sang thiết chế mạng lưới gia đình - bản hội cá nhân hóa.

4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không?

Có. Luận án đính kèm 14 phụ lục chi tiết, bao gồm bảng hỏi khảo sát định lượng chuẩn hóa (Phụ lục 10), khung phỏng vấn sâu cho cán bộ và thanh đồng (Phụ lục 11, 12), danh mục tọa độ $144$ cơ sở (Phụ lục 6) và sơ đồ bình đồ thờ tự (Phụ lục 8), cho phép tái lập quy trình khảo sát khoa học.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao?

Thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa GIS về hệ thống di tích thờ Mẫu Tây Nguyên; nghiên cứu biến đổi xuyên văn hóa của tín ngưỡng trong bối cảnh toàn cầu hóa và thương mại hóa du lịch tâm linh thế hệ mới.

Kết luận

  1. Xác lập cột mốc lịch sử du nhập: Luận án chứng minh xác thực thời điểm du nhập của TNTM vào Lâm Đồng bắt đầu từ năm 1923 tại Dran (Đơn Dương) và Đà Lạt, đồng hành cùng các đợt di dân lập ấp người Việt.
  2. Khôi phục bức tranh toàn cảnh 144 cơ sở: Lần đầu tiên thống kê, định vị và phân loại đầy đủ 144 đền, phủ, điện Mẫu trên 12/12 huyện, thị xã thuộc tỉnh Lâm Đồng tính đến hết năm 2018.
  3. Làm rõ tính dung hợp cấu trúc Bắc - Trung: Luận giải sâu sắc sự chung sống hòa bình giữa hệ thống Tam phủ miền Bắc và điện thần Thiên Y A Na miền Trung trong đời sống tâm linh cư dân cao nguyên.
  4. Đánh giá thực trạng biến đổi đương đại: Lượng hóa động cơ tham gia sinh hoạt tín ngưỡng của các nhóm xã hội, đồng thời cảnh báo các lệch chuẩn thương mại hóa và hiện tượng loạn đồng.
  5. Đề xuất hệ giải pháp quản lý thực chứng: Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý văn hóa bảo tồn di sản được UNESCO vinh danh gắn với phát triển xã hội bền vững.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành: Đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp nối về nhân học tôn giáo, địa - văn hóa học và kinh tế học di sản tại khu vực Tây Nguyên.