Luận án tiến sĩ: Quá trình du nhập và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng (1900-2018)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ mẫu ở lâm đồng từ đầu thế kỷ xx đến năm 2018, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Đà Lạt

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

331
4
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

1.1. Lý thuyết nghiên cứu

1.2. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

1.3. Những kết quả dự kiến đạt được

1.4. Một số khái niệm được sử dụng trong luận án

1.5. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.5.1. Điều kiện tự nhiên của Lâm Đồng

1.5.2. Đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Lâm Đồng

1.5.3. Những yếu tố thế tục của tín ngưỡng thờ Mẫu

1.5.4. Tổng quan bức tranh tôn giáo-tín ngưỡng của người Việt ở Lâm Đồng

1.6. Các loại hình tín ngưỡng dân gian

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 1923 ĐẾN NĂM 1975

2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

2.1.1. Bối cảnh chính trị

2.1.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội

2.1.3. Quá trình di dân của người Việt đến Lâm Đồng

2.1.4. Tình hình kinh tế Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975

2.2. SỰ XUẤT HIỆN CỦA NHỮNG CƠ SỞ THỜ MẪU BAN ĐẦU

2.2.1. Tại khu vực Dran (Đơn Dương)

2.2.2. Tại khu vực B'lao (Bảo Lộc)

2.2.3. Tại khu vực Đà Lạt

2.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ THỜ TỰ MỚI

2.3.1. Lịch sử các cơ sở thờ tự

2.3.2. Thực trạng các cơ sở thờ tự

2.3.3. Sự phát triển các cơ sở thờ tự mới

2.4. THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

2.4.1. Sinh hoạt tín ngưỡng cấp Tổng hội

2.4.2. Sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu tại điện tư gia

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 2018

3.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

3.1.1. Bối cảnh chính trị

3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.3. Quá trình người Việt di cư vào Lâm Đồng từ 1975 đến nay

3.1.4. Sự thay đổi điều kiện kinh tế từ 1975 đến nay

3.1.5. Những đổi mới trong chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước

3.1.6. Sự công nhận của UNESCO đối với Di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt

3.2. SỰ PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ THỜ TỰ

3.2.1. Hạn chế trong việc lập cơ sở thờ tự mới

3.2.2. Thực trạng các cơ sở thờ tự

3.2.3. Sự phát triển nở rộ các cơ sở thờ tự mới

3.3. THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

3.4. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

4.1. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

4.1.1. Đặc trưng về loại hình thờ tự

4.1.2. Đặc trưng về tính chất thờ tự

4.1.3. Đặc trưng về cơ sở thờ tự

4.1.4. Đặc trưng trong thực hành tín ngưỡng

4.2. GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

4.2.1. Giá trị lịch sử - văn hóa

4.2.2. Giá trị thực tiễn

4.3. MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

4.3.1. Hạn chế từ phía những người sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu

4.3.2. Trình độ nhận thức

4.3.3. Vấn đề thống nhất trong tổ chức

4.3.4. Vấn đề đoàn kết nội bộ

4.3.5. Tình trạng thương mại hóa, biến tướng trong sinh hoạt

4.3.6. Hạn chế từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng

4.3.7. Số lượng và trình độ nguồn nhân lực

4.3.8. Sự quan tâm của chính quyền địa phương

4.4. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI

4.4.1. Tiếp tục nở rộ các cơ sở thờ tự

4.4.2. Gia tăng tần suất thực hành tín ngưỡng

4.4.3. Gia tăng số lượng thanh đồng dẫn đến nguy cơ loạn đồng, loạn bóng

4.5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LÂM ĐỒNG

4.6. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC BÁO CÁO HỘI THẢO, ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

TÓM TẮT

SUMMARY

Tóm tắt

I. Tín ngưỡng thờ Mẫu và bối cảnh lịch sử tại Lâm Đồng

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa độc đáo của người Việt, xuất hiện từ thế kỷ XVI. Tại Lâm Đồng, tín ngưỡng này du nhập từ đầu thế kỷ XX, gắn liền với quá trình di cư của người Việt từ miền Bắc và miền Trung vào vùng đất này. Du nhập tín ngưỡng này không chỉ mang theo những giá trị văn hóa truyền thống mà còn phản ánh sự thích nghi với môi trường tự nhiên và xã hội mới. Tín ngưỡng dân gian này đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt tại Lâm Đồng.

1.1. Bối cảnh lịch sử và xã hội

Lâm Đồng là vùng đất có điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù, tạo nên môi trường thuận lợi cho sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu. Quá trình di cư của người Việt từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đã mang theo những phong tục, tập quán và tín ngưỡng truyền thống. Tín ngưỡng tôn giáo này đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống cộng đồng, trở thành một phần quan trọng trong văn hóa tâm linh của người dân địa phương.

1.2. Sự du nhập và hình thành ban đầu

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng bắt đầu xuất hiện từ những năm 1920, với sự hình thành của các cơ sở thờ tự đầu tiên tại các khu vực như Đà Lạt, Đơn Dương và Bảo Lộc. Tín ngưỡng văn hóa này đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau sự ra đời của Việt Nam Thánh Mẫu hội vào năm 1954. Tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và quản lý các hoạt động thờ cúng, tạo nên sự thống nhất trong sinh hoạt tín ngưỡng tại Lâm Đồng.

II. Phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu từ 1923 đến 1975

Giai đoạn từ 1923 đến 1975 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng. Số lượng các cơ sở thờ tự tăng lên đáng kể, đặc biệt là tại các khu vực đông dân cư như Đà Lạt và Bảo Lộc. Tín ngưỡng truyền thống này đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân, với các nghi lễ thờ cúng được tổ chức thường xuyên và quy mô lớn.

2.1. Sự hình thành các cơ sở thờ tự

Trong giai đoạn này, Lâm Đồng chứng kiến sự xuất hiện của 34 cơ sở thờ Mẫu, phân bố chủ yếu tại Đà Lạt, Đơn Dương và Bảo Lộc. Tín ngưỡng thờ cúng này đã thu hút đông đảo người dân tham gia, tạo nên một mạng lưới thờ tự rộng khắp. Các cơ sở thờ tự không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn là trung tâm văn hóa, nơi giao lưu và kết nối cộng đồng.

2.2. Sinh hoạt tín ngưỡng và nghi lễ

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng trong giai đoạn này được đặc trưng bởi các nghi lễ thờ cúng và lên đồng. Tín ngưỡng tâm linh này đã thu hút sự tham gia của nhiều thanh đồng và con nhang đệ tử từ các tỉnh lân cận như Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Các nghi lễ này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính và cầu mong sự bình an, may mắn.

III. Phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu từ 1976 đến 2018

Giai đoạn từ 1976 đến 2018 chứng kiến sự phát triển vượt bậc của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng. Số lượng các cơ sở thờ tự tăng lên đáng kể, đặc biệt là từ năm 1991 đến 2018, với 93 cơ sở mới được thành lập. Tín ngưỡng địa phương này đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa và tâm linh của người dân Lâm Đồng.

3.1. Sự phát triển các cơ sở thờ tự

Trong giai đoạn này, Lâm Đồng chứng kiến sự bùng nổ của các cơ sở thờ Mẫu, với tổng số 144 cơ sở được phân bố trên 12 huyện thị. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2016. Sự kiện này đã thúc đẩy sự quan tâm và tham gia của người dân vào các hoạt động thờ cúng.

3.2. Thực hành tín ngưỡng và giá trị văn hóa

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng trong giai đoạn này không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Các nghi lễ thờ cúng và lên đồng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân. Tín ngưỡng thờ Mẫu và văn hóa đã góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời tạo nên sự gắn kết cộng đồng.

IV. Xu hướng phát triển và giải pháp

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển. Sự gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự và thanh đồng đặt ra yêu cầu về quản lý và bảo tồn các giá trị văn hóa. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội hiện đại cần được phát huy một cách có định hướng, đảm bảo sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại.

4.1. Xu hướng phát triển

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ, với sự gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự và thanh đồng. Tín ngưỡng thờ Mẫu và lịch sử đã chứng minh sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh của người dân. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc quản lý và bảo tồn các giá trị văn hóa.

4.2. Giải pháp và khuyến nghị

Để phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu, cần có sự quan tâm và hỗ trợ từ các cơ quan chức năng. Tín ngưỡng thờ Mẫu và phong tục tập quán cần được bảo tồn và phát huy một cách có định hướng, đảm bảo sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Các giải pháp cụ thể bao gồm tăng cường quản lý các cơ sở thờ tự, nâng cao nhận thức của người dân về giá trị văn hóa của tín ngưỡng này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quá trình du nhập và phát triển của tín ngưỡng thờ mẫu ở lâm đồng từ đầu thế kỷ xx đến năm 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề so sánh để tìm ra những tƣơng đồng và khác biệt giữa lễ Kut và lên đồng trên một số phƣơng diện nhƣ ai là ngƣời có thể thực hiện nghi lễ, thần linh trong kut và lên đồng, trang phục mà ngƣời hành lễ sử dụng, kỹ năng ngƣời hành lễ, âm nhạc, lễ vật, cách thức phát lộc trong khi hành lễ. Tác giả đã kết luận: “Về cơ bản, những cách thức tƣợng trƣng đƣợc sử dụng trong giao tiếp với linh hồn giữa thế giới lên đồng và thế giới kut có nhiều điểm tƣơng đồng” (Laurel Kendall, 2004, tr. 6 Trong số các học giả nƣớc ngoài nghiên cứu về tục thờ Mẫu của ngƣời Việt còn có Silapakit Teekantikun. Với Luận án tiến sĩ lịch sử mang tên Nghi lễ lên đồng của người Việt ở miền Bắc Việt Nam và của người Lào ở đông bắc Thái Lan… đƣợc thực hiện vào năm 2010 tại Trƣờng Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả cho rằng: Trong xã hội đƣơng đại, tục lên đồng của ngƣời Việt có xu hƣớng phát triển không chỉ ở địa bàn nông thôn mà còn cả ở thành thị, đặc biệt là Hà Nội.

Còn về tục “Khuồng Phi Phon” của ngƣời Lào ở Đông Bắc Thái Lan, mặc dù vẫn đƣợc duy trì nhƣng không phát triển bằng tục lên đồng của ngƣời Việt (Silapakit Teekantikun, 2010, tr. Nhìn chung, các học giả nƣớc ngoài khi nghiên cứu về TNTM của ngƣời Việt thƣờng tập trung vào hầu đồng - nghi lễ đặc trƣng nhất của tục thờ này; những vấn đề khác nhƣ nguồn gốc và quá trình hình thành TNTM, các dạng dạng thức thờ tự, những đặc trƣng của TNTM các vùng miền trong cả nƣớc ta. vẫn chƣa dành đƣợc sự quan tâm đúng mức 2. Những nghiên cứu của các học giả trong nƣớc 2.

Những công trình nghiên cứu tổng quan về văn hóa dân gian trong đó có đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu Hiện nay, công tác nghiên cứu về văn hóa, văn học, TNDG… của một dân tộc, một đất nƣớc đã trở thành đề tài thu hút sự chú ý đặc biệt của đông đảo học giả. Ở Việt Nam, số lƣợng các công trình thuộc thể loại này vô cùng phong phú. Tuy nhiên trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, TNDG mà trong đó các tác giả có đề cập đến tục thờ Nữ thần, tục thờ Mẫu. Hiện tƣợng thờ Mẫu đã ra đời từ giữa thế kỷ XVI và huyền thoại về Thánh Mẫu Liễu Hạnh cũng đƣợc lƣu truyền trong dân gian từ rất lâu song hành với sự lan tỏa của loại hình TN này.

Tuy nhiên theo hiểu biết của chúng tôi, phải đợi tới thế kỷ XVIII, huyền thoại Thánh Mẫu Liễu Hạnh mới đƣợc Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sƣu tập và giới thiệu trong tập truyện Truyền kỳ tân phả của bà với tiêu đề Vân Cát 7 thần nữ. Qua tác phẩm này, lần đầu tiên tiên thoại về vị Nữ Thánh - một trong Tứ bất tử của ngƣời Việt đƣợc giới thiệu một cách chi tiết, sinh động. Theo Đoàn Thị Điểm (2001, tái bản): Nguồn gốc xuất thân của Mẫu Liễu vốn là Đệ nhị Tiên Chúa Quỳnh nƣơng - con Ngọc Hoàng do đánh vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian và đầu thai vào nhà họ Lê ở Vụ Bản - Nam Định với tên gọi Giáng Tiên. Lớn lên, Giáng Tiên càng xinh đẹp, lại thông minh.

Sau đó, nàng kết hôn với Đào Lang rồi hạ sinh một con trai và một con gái. Ngày mùng 3 tháng Ba (âm lịch) tự nhiên không bệnh mà mất vì hết hạn phải về trời (khi mới 21 tuổi). Song vì còn nặng tình nhân gian, nàng đƣợc Ngọc Hoàng Thƣợng Đế phong là Liễu Hạnh công chúa và cho giáng trần lần hai để thăm gia đình cũ. Lần này, nàng không ở yên một nơi mà thƣờng đi mây về gió (có khi giả làm cô gái đẹp thổi ống tiêu dƣới trăng, có khi hóa làm bà già tựa gốc cây trúc bên đƣờng); ngƣời nào dùng lời đùa cợt tất bị vạ tai, ngƣời nào mang lễ cầu đảo tất đƣợc phúc… Cũng trong lần giáng thứ hai này, Liễu Hạnh đã kết hôn với một thƣ sinh ở Nghệ An vốn là kiếp sau của chồng bà, nhƣng sau đó hết hạn phải về trời.

Sau 5 năm, nàng lại xin vua cha giáng lần ba tại Phố Cát - Thanh Hóa. Tiên Chúa thƣờng hiển linh, ngƣời lành đƣợc phúc, kẻ ác bị tai vạ. Nhân dân đã lập đền thờ. Về đời Cảnh Trị (1663 - 1671) - niên hiệu vua Lê Huyền Tông, triều đình nghe tin đồn tƣởng yêu quái, sai quân Vũ lâm cùng thuật sĩ đến nơi trừ tiễu.

Sau đó ít lâu, cả vùng sinh bệnh dịch khiến triều đình phải cho sửa sang làm lại đền mới trong núi Phố Cát, sắc phong Mã Hoàng Công chúa. Về sau, quân triều đình đi tiễu trừ giặc, Tiên Chúa có công giúp sức, đƣợc triều đình gia tặng Chế Thắng Hòa diệu đại vương (xem Đoàn Thị Điểm, 2001, tr. Nguyễn Công Trứ trong Đại Nam quốc âm ca khúc (thế kỷ XIX) (đƣợc trích bởi Ngô Đức Thịnh, 2009b) có bài Liễu Hạnh công chúa diễn âm. Đây là một tập sách Hán Nôm đang đƣợc lƣu giữ tại Thƣ viện KHXH, kí hiệu AB146.

Dù có khác về cách thức diễn đạt so với Vân Cát thần nữ, nhƣng nội dung chính của Liễu Hạnh công chúa diễn âm vẫn xoay quanh vấn đề nguồn gốc xuất thân của Mẫu Liễu từ Tiên Chúa phạm lỗi và bị đày vào nhà họ nhà Trần, mất năm 21 tuổi; giáng trần lần hai cũng lấy thƣ sinh vốn là kiếp sau của chồng cũ… 8 Trong Nam Hải dị nhân (xuất bản lần đầu năm 1909), Phan Kế Bính cũng giới thiệu về “Liễu Hạnh Tiên Chúa”, qua đó lần giáng thứ ba của Thánh Mẫu đƣợc giới thiệu nhƣ sau: Về sau, Tiên Chúa hiển thánh ở Phố Cát tỉnh Thanh Hóa, hiện ra làm con gái đẹp bán nƣớc, những kẻ đùa bỡn chết hại rất nhiều, triều đình nghi là yêu quái, sai thầy phù thủy là Trịnh Hoàng Thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi, tàn phá đền đài. Đƣợc vài tháng dân xứ ấy dịch tễ, lập đàn cầu khấn, thì mới biết là Tiên Chúa hiển thánh; tâu lên triều đình, vua sai sửa sang lại đền miếu, phong bà làm Mã Hoàng công chúa. Sau lại có công giúp nƣớc phá giặc Mán, đƣợc phong làm Chế Thắng Hòa diệu đại vương lập đền trên núi Sùng Sơn đến giờ vẫn còn anh linh (Phan Kế Bính, 2016).

Đầu thế kỷ XX, trong bộ Bulletin Les amis du vieux Huế (tập 1, năm 1914), nhà nghiên cứu Đào Thái Hanh đã để lại nhiều bài nghiên cứu hấp dẫn về các vị nữ thần; làm tăng thêm nét cổ kính của Cố đô Huế một màu sắc huyền hoặc biểu thị lòng tin vào thần linh của ngƣời dân vùng Huế xƣa. Thông qua bài giới thiệu của Trần Văn Dũng (2013), chúng ta có thể biết đến một số bài nghiên cứu của Đào Thái Hanh, trong đó đáng chú ý là các bài Histoire de la déesse Thiên-Y-A-Na (Lịch sử nữ thần Thiên Y A Na); La déesse Liễu Hạnh (Nữ thần Liễu Hạnh)… Tuy nhiên, các bài viết của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Phan Kế Bính (trong Nam Hải dị nhân) hay Đào Thái Hanh chỉ mang tính thuật truyện - ghi chép lại những huyền thoại về Mẫu Liễu Hạnh lƣu truyền trong dân gian. Đầu thế kỷ XX, công tác nghiên cứu về TNTM ở Việt Nam mới chính thức đƣợc bắt đầu. Ngƣời tiên phong trong lĩnh vực này là nhà Nho theo tân học Phan Kế Bính với tác phẩm Việt Nam phong tục (mục Đồng cốt), xuất bản lần đầu năm 1915 và đƣợc tái bản nhiều lần.

Theo ông: Đồng cốt là những ngƣời thờ về chƣ vị, nhƣ thờ bà Liễu Hạnh công chúa, Thƣợng Ngàn công chúa, Cửu Thiên huyền nữ, v.v… thì gọi là đồng Đức mẹ, thờ Hoàng tử gọi là đồng Đức ông, thờ các Cậu gọi là đồng Cậu, thờ các Cô gọi là đồng Cô… Ngƣời nào bị chƣ vị bắt đồng thì phải ngồi hầu 9 Thánh… Thánh đã bắt đồng thì phải lập cửu tĩnh riêng tại nhà mà thờ hoặc phải đến chầu chực tại nơi đền miếu nào đó (Phan Kế Bính, 1995, tr. Ngoài việc giới thiệu những thông tin liên quan đến tục thờ này, tác giả cũng thẳng thắn phê phán những ngƣời tin vào đồng cốt, cho đó là mê tín. Tác giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (xuất bản lần đầu năm 1938) cũng quan tâm đến TNTM qua mục Tín ngưỡng và tế tự. Theo ông: Những ngƣời thờ chƣ vị đƣợc gọi là đồng cốt, hay bà đồng.

Đàn bà con gái, nhất bà bà góa hay gái già, nếu xem bói hay nằm mộng mà thấy có số thờ thì phải làm lễ đội bát hƣơng ở tĩnh hay phủ, để xin làm con công đệ tử… Trong hàng chƣ vị đƣợc nhân dân sùng bái hơn cả là thánh Liễu Hạnh. Tuy nhiên tác giả lại kết luận rằng đó “chỉ là một mớ mê tín nhảm nhí” (Đào Duy Anh, 1992, tr. Năm 1939, tác giả Nguyễn Văn Huyên - ngƣời đặt nền móng cho ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam đã hoàn thành bản thảo cuốn La civilisation annamite - Văn minh Việt Nam với mong muốn công bố cho độc giả phƣơng Tây về một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên đến năm 1944, sách mới đƣợc xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội.

Trong tác phẩm này, ông đã dành một phần nói đến hình thức lên đồng nhƣ là một sinh hoạt đạo Lão dân gian Việt Nam với việc thờ Chƣ vị - đó là “những thần linh nữ và nam ở ba thế giới - Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ” (Nguyễn Văn Huyên, 2016, tr. Cũng trong tác phẩm này ông còn cho rằng, những ngƣời làm bà đồng là do Chƣ vị chọn, qua nằm mộng hay đột nhiên cảm thấy thần kinh rất khác thƣờng. Ngƣời ta thƣờng làm hài lòng chƣ vị bằng cách đội bát hương. Song, nếu việc đội bát hƣơng không làm cho họ khỏi ốm, ngƣời ta buộc phải để ngƣời đó trở thành bà đồng.

Khi đã trở thành bà đồng, họ phải thực hiện nghi lễ lên đồng đều đặn để đƣợc khỏe mạnh, phát tài (tr. Phía Nam đất nƣớc, nhà khảo cứu Toan Ánh cũng dành sự quan tâm tới loại hình TN này trong Nếp c Tín ngưỡng Việt Nam (Quyển thƣợng) đƣợc NXB Nam 10 Chi Tùng thƣ ấn hành lần đầu năm 1968. Trong phần biến thể của đạo Lão, tác giả cho rằng: “Đồng cốt là những ngƣời có căn thờ chƣ vị nhƣ Liễu Hạnh công chúa, Cửu Thiên huyền nữ, Thƣợng Ngàn công chúa… hoặc các vị Hoàng tử, các Cô, các Cậu (Toan Ánh, 2005.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quá trình du nhập và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến 2018" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm Đồng, một trong những tín ngưỡng văn hóa đặc sắc của người Việt. Tác giả phân tích các yếu tố lịch sử, xã hội và văn hóa đã ảnh hưởng đến sự phát triển của tín ngưỡng này, từ những ngày đầu du nhập cho đến nay. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự giao thoa văn hóa trong xã hội hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các tín ngưỡng và tôn giáo khác, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án phật giáo thời lê sơ qua tư liệu hán nôm, nơi khám phá sự phát triển của Phật giáo trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ quan hệ quốc tế sự đa dạng tôn giáo ở đông nam á đối với tiến trình xây dựng cộng đồng văn hóa xã hội asean ascc quan hệ quốc tế sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng tôn giáo trong khu vực Đông Nam Á. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ban trị sự giáo hội phật giáo việt nam tỉnh thanh hóa thực trạng và giải pháp cung cấp cái nhìn về tổ chức và hoạt động của Giáo hội Phật giáo tại một tỉnh cụ thể, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về tôn giáo này trong xã hội Việt Nam.