phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng, 6 tiết. 8 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO TỈNH THANH HÓA VÀ BAN TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH THANH HÓA 1. Khái quát chung về Phật giáo tỉnh Thanh hóa 1. Cơ sở kinh tế, xã hội, văn hóa sự du nhập, phát triển của Phật giáo tỉnh Thanh Hóa Về lịch sử hình thành: Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, ở vùng đất Thanh Hóa từ xƣa đã xuất hiện các bộ lạc nguyên thủy sinh sống từ rất sớm, từ thời các Vua Hùng dựng nƣớc.
Điều đó đã đƣợc minh chứng rất rõ ràng bởi các cổ vật của các nền văn hóa xa xƣa đƣợc tìm thấy ở rất nhiều di chỉ ở vùng đất này nhƣ di chỉ Hoa Lộc, di chỉ Cồn Chân Tiên, di chỉ Đông Khối, di chỉ Mái Đá Điều,… Trƣớc thời Hán, Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân, đến thời Hán, quận Cửu Chân thuộc bộ Giao Chỉ. Thời nhà Lƣơng, Cửu Chân đƣợc đổi thành Ái Châu. Thời kỳ phong kiến độc lập nhà Lý, vua Lý Thái Tổ đã rất chú trọng đến việc xây dựng bộ máy hành chính nhà nƣớc, chia cả nƣớc từ 10 đạo thành 24 lộ và lấy châu Hoan, châu Ái làm trại. Đến năm 1111 thì châu Ái đƣợc đổi thành phủ Thanh Hoa.
Đầu thời nhà Trần, Thanh Hóa là một trong số 12 lộ. Nhà Hồ thành lập, Hồ Quý Ly rời đô vào trấn Thanh Đô, chính là Thanh Hóa ngày nay. Sau Cách mạng tháng Tám, các cấp hành chính cũ nhƣ châu, phủ, quận bị bãi bỏ, tỉnh Thanh Hóa lúc này có 21 đơn vị hành chính, sau nhiều lần tách ra, sát nhập địa giới hành chính các huyện, xã, hiện nay tỉnh Thanh Hóa gồm 27 thành phố, huyện, thị xã (trong đó 24 huyện, 2 thành phố là Thanh Hóa và Sầm Sơn, 1 thị xã Bỉm Sơn). 9 Vị trí địa lý: Thanh Hóa là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ, nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nƣớc ta, vì thế nên nhiều khi thƣờng hay do dự về sự cắt đặt địa vị hành chính: “Khu Bốn đẩy ra, Khu Ba đẩy vào”.
Có khi ngƣời ta coi Thanh Hóa thuộc khu vực phía Đông Bắc Bộ, có khi lại coi Thanh Hóa thuộc khu vực Bắc Trung Bộ. “Chính tính chất trung gian ấy đã khiến Thanh Hóa trở thành nơi hội tụ tinh hoa văn hóa từ hai miền Nam – Bắc, không chỉ mang đậm dấu ấn văn hóa từ xứ Nghệ lan tỏa ra mà còn mang cả những sắc màu văn hóa từ Bắc Bộ, từ vùng đất Thăng Long – Đế đô truyền nhập vào” [21,tr.113] Phía Bắc Thanh Hóa giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Đông giáp biển; phía Tây giáp Lào. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn thứ 5 trong cả nƣớc. Điều kiện tự nhiên của vùng đất này khá phong phú và đa dạng: địa hình có ba loại là núi, trung du, đồng bằng ven biển, trong đó địa hình núi, trung du là chủ yếu; hệ thống sông ngòi tƣơng đối nhiều với năm hệ thống sông chính: sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Chàng; hệ thống tài nguyên rừng và biển rất phong phú (không chỉ có hệ thống thảm thực vật phong phú, đa dạng, mà Thanh Hóa còn là một trong số ít các tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng nhƣ kim loại sắt và hợp kim, kim loại màu và kim loại hiếm, nguyên liệu hóa chất – phân bón…; vùng biển Thanh Hóa có năng suất sinh học tƣơng đối cao, có nhiều đảo có tiềm năng phát triển du lịch, diện tích bãi triều lớn thuận lợi cho nuôi trồng thủy hải sản,…) Thanh Hóa là tỉnh đông dân, theo báo cáo của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Thanh Hóa đứng thứ ba toàn quốc về dân số, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với 3.
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó ngƣời Kinh chiếm tỉ lệ lớn nhất, ngoài ra 2 Xem báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 10 còn có đồng bào các dân tộc thiểu số nhƣ: Mƣờng (số lƣợng đông thứ 2, sau ngƣời Kinh), Thái, Mông, Dao, Sán Dìu, Tày, Thổ, Cao Lan, Hoa,… Vì địa hình chủ yếu là đồi núi, trung du nên phân bố dân cƣ của Thanh Hóa không đồng đều, mặc dù mật độ dân số không cao nhƣng lại quá chênh lệch giữa các vùng. Dân cƣ tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị trấn ven biển,… còn vùng núi thì dân cƣ rất thƣa thớt. Về kinh tế: Thanh hóa là tỉnh có vị trí chiến lƣợc kinh tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ và cả nƣớc, có nhiều điều kiện để phát triển nhiều loại hình kinh tế. Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh đã có nhiều khởi sắc, đạt đƣợc nhiều thành tựu.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh là: “Phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả và bền vững; tạo sự chuyển biến căn bản về chất lƣợng tăng trƣởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phấn đấu đến năm 2015, Thanh Hóa thuộc nhóm tỉnh trung bình của cả nƣớc, đến năm 2020 Thanh Hoá cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đƣợc phát triển đồng bộ, hiện đại; đồng thời là một trong những trung tâm kinh tế, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, khoa học - kỹ thuật của vùng Bắc Trung Bộ và cả nƣớc, an ninh chính trị ổn định, tăng cƣờng khối đại đoàn kết dân tộc” [Xem 45]. Với những điều kiện tự nhiên phong phú, tỉnh Thanh Hóa phát triển đƣợc đa dạng các loại hình kinh tế: sản xuất nông - lâm - thủy sản: các cây trồng nông nghiệp chủ yếu nhƣ: lúa, mía, sắn,… chăn nuôi với các loại vật nuôi nhƣ: lợn, gà, nuôi thủy hải sản,…; sản xuất công nghiệp với các sản phẩm đƣợc coi là thế mạnh của tỉnh: lọc hóa dầu, thủy điện, sản xuất xi măng, cát xây dựng, khai thác đá, sản xuất bao bì,… nhiều ngành tiểu thủ công nghiệp: chế biến hải sản, mây giang xiên, làm đũa xuất khẩu, thêu tranh nghệ thuật,…; các ngành dịch vụ nhƣ: du lịch, xuất nhập khẩu, dịch vụ vận tải,… 11 Thanh Hóa có nhiều tiềm năng phát triển du lịch bởi điều kiện tự nhiên đã ƣu ái cho vùng đất này nhiều thắng cảnh thiên nhiên. Thanh Hóa nổi tiếng với các thắng cảnh thiên nhiên nhƣ: Bãi biển Sầm Sơn hình trăng khuyết, khu di tích Hàm Rồng, động Bích Đào, động Hồ Công, Động Kim Sơn, Cù Lao Biện, núi Nhồi – núi Vọng Phu, cửa Hà, suối cá Cẩm Lƣơng, vƣờn cò Tiến Nông, vƣờn quốc gia Bến Én… Với bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời tỉnh Thanh Hóa còn có rất nhiều di tích lịch sử: Lăng và đền Bà Triệu, Lê Hoàn, Thành Nhà Hồ, khu Lam Sơn – Lam Kinh, khu Ba Đình,… nhiều di tích cách mạng và kháng chiến: chiến khu Ngọc Trạo, Hàm Rồng, và nhiều đền, chùa, miếu mạo,… Thanh Hóa chính là vị trí mở, cửa ngõ vào Nam ra Bắc và cũng là điểm dừng chân trên đƣờng hàng hải quốc tế.
Chính những yếu tố về địa lý, tự nhiên đã đem đến cho mảnh đất này sự giao lƣu, tiếp nhận và ảnh hƣởng với các nền văn hóa khu vực và quốc tế. Học giả ngƣời Pháp H.Lebreton nhận xét: “Thanh Hóa không chỉ là một đơn vị hành chính bình thƣờng: đấy là cả một xứ, cũng muôn hình muôn vẻ nhƣ xứ Bắc Kỳ mà còn là một hình ảnh của Bắc Kỳ thu nhỏ, có châu thổ trù phú và phì nhiêu, vùng Trung du cây cỏ bạt ngàn đồi lƣợn sóng, vùng cao với những khu rừng đại ngàn um tùm bao phủ”. Thanh Hóa là tỉnh có bề dày lịch sử truyền thống cách mạng. Nhân dân Thanh Hóa luôn cùng nhân dân cả nƣớc không ngừng đấu tranh, chống giặc ngoại bang, đô hộ giành lại độc lập cho quê hƣơng, đất nƣớc.
Sử sách vẫn còn lƣu danh muôn thuở những tên tuổi các vị tƣớng tài ba, các nhân vật kiệt xuất gắn với các cuộc khởi nghĩa nhƣ: cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248, cuộc khởi nghĩa của Lê Ngọc (đầu thế kỷ VII), Dƣơng Đình Nghệ, Ngô Quyền, Lê Lợi,… Thanh Hóa cũng là tỉnh có truyền thống hiếu học, mảnh đất nơi đây đã sản sinh ra biết bao danh nhân văn hóa, nho sĩ nổi tiếng trong lịch sử văn 12 hóa Việt Nam nhƣ Lê Quát nổi tiếng về văn chƣơng, đạo đức, từng làm quan nhà Trần đến chức Thƣợng Thƣ; Lê Văn Hƣu ngƣời đƣợc coi là ông tổ ngành Sử học của Việt Nam, ngƣời đã soạn Đại Việt sử ký toàn thƣ – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nƣớc ta; và nhiều tên tuổi khác nữa nhƣ: Hà Tông Huân, Cao Đình Độ, Hà Duy Phiên, Mai Anh Tuấn,… Nói chung, trong thời kỳ phong kiến, đất xứ Thanh từng có hai trạng nguyên, hàng trăm tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa. Ngày nay, tinh thần hiếu học đó vẫn tiếp tục đƣợc các thế hệ nhân dân Thanh Hóa phát huy, Thanh Hóa vẫn đƣợc coi là cái nôi nhân tài của Việt Nam. Đời sống văn hóa: Với bề dày văn hóa đƣợc tích trữ từ ngàn xƣa, Thanh Hóa hiện nay vẫn lƣu giữ đƣợc nhiều hình thức văn hóa truyền thống: các điệu hò sông Mã, dân ca, dân vũ Đông Anh, trò diễn Xuân Phả, ca trù, hát xoan, hát xƣờng của ngƣời Mƣờng, kho tàng truyện cổ,… Đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân tỉnh Thanh Hóa rất đa dạng và phong phú. Mặc dù so với các tỉnh khác trong cả nƣớc, Thanh Hóa không có số lƣợng tín đồ theo các tôn giáo không đông, hiện nay khoảng 220.
Số lƣợng chức sắc và tín đồ các tôn giáo của tỉnh Thanh Hóa hiện chiếm khoảng 5% dân số của tỉnh, dù không nhiều nhƣng lại có đặc điểm phân bố dải rác, trong đó có cả thành phần là đồng bào các dân tộc thiểu số. Về tôn giáo: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, có bốn tôn giáo đƣợc công nhận về tổ chức: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài. Phật giáo vào Thanh Hóa từ rất sớm và có ảnh hƣởng lớn đến đời sống ngƣời dân (sẽ bàn đến rõ hơn ở phần sau). Công giáo: hiện toàn tỉnh có 51 xứ đạo, 324 họ đạo, 1 Dòng Mến Thánh giá với 135.000 giáo dân sinh sống tại 184 xã, phƣờng, thị trấn của 25 huyện, thị, thành phố.