MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phật giáo là một tôn giáo lớn, du nhập từ rất sớm, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng với dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước. Một trong những tông phái Phật giáo có giá trị sâu sắc, gìn giữ chánh pháp của Phật giáo Nguyên Thủy đó chính là Phật giáo Theravada.
Trải qua thời gian hình thành và phát triển lâu dai, các nghi lễ Phat giáo càng trở nên đa dạng và phong phú, có ý nghĩa tư tưởng, mang những giá trị nhân văn sâu sắc. Trong đó, nghi lễ xuất gia là một trong những điều kiện tiên quyết, là nhịp cầu giúp người tu sĩ tiễn thân trên con đường tu đạo, giải thoát bước vào hàng ngũ Tăng đoàn. Tuy nhiên, nghỉ lễ xuất gia của các Tông phái Phật giáo khác nhau cũng có phần khác nhau. Kiên Giang và Thành Phó Hồ Chí Minh là những địa bàn có nền kinh tế phát triển, chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, trước thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nghi lễ Phật giáo, đặc biệt nghi lễ xuất gia là hết sức cần thiết.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo và các nghi thức, nghi lễ Phật giáo nhưng có rat ít công trình nghiên cứu về nghi lễ xuất gia của Phat giáo Theravada. Nhăm nghiên cứu cụ thé hơn về van dé nghỉ lễ xuất gia của Phật giáo Theravada, bảo tồn và phát huy những giá trị cao đẹp của Phật giáo trước tình hình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ thì học viên đã chọn đề tài “nghi lỄ xuất gia cua Phật giáo Theravada (qua khảo cứu một số chùa trong địa bàn tỉnh Kiên Giang)” làm đề tài nghiên cứu của mình. Nghiên cứu về nghi lễ xuất gia của Phật giáo Theravada không những làm nỗi bật giá trị của Phật giáo Theravada mà còn góp phan bảo tồn những giá trị cao đẹp của Phật giáo. Hy vọng những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ vào công tác nghiên cứu tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng và thực tiễn sự phát triển Phật giáo Theravada trong giai đoạn hiện nay.
Tình hình nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo và các nghi thức, nghi lễ Phật giáo nhưng có rat ít công trình nghiên cứu về nghỉ lễ xuất gia của Phật giáo Theravada. Nghi lễ xuất gia là một trong những van đề mà Phật giáo quan tâm sâu sắc. Thông qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, người thực hiện dé tài này được tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú về Phật giáo va các nghi lễ Phật giáo. Tuy nhiên dé đi sâu vào nghiên cứu và tập trung vào đề tài, chúng được chia thành những nhóm tài liệu sau: Thứ nhất: các công trình liên quan đến Phật giáo Việt Nam nói chung, Phát giáo Theravada nói riêng.
Một trong những tác pham có thê ké đến đó chính là “Nguyên Thủy Phật giáo Lư Tưởng Luận” của tác giả Thích Quảng Độ. Tác phẩm nói về vấn đề Nguyên Thủy Phật giáo và những phương pháp giải thích giáo lý Phật giáo Nguyên Thủy liên quan mật thiết đến Phật giáo Theravdda. Ngoài ra còn một số tác phẩm như “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” của Nguyễn Lang; “Tư Tưởng Phật Giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh. Những công trình trên cung cấp một cách khá toàn diện về lịch sử và đặc điểm Phật giáo Việt Nam.
Tác phẩm “Phật giáo Nguyên Thủy Sử Lược” của Tỳ Khưu Giới Đức đã nêu lên cụ thể về các thời kì kết tập kinh điển Phật giáo, sự hình thành và phát triển của Phật giáo Theravada tại Việt Nam, đồng thời khái lược về các Chùa Phat giáo Theravada tại các tỉnh thành trên đất nước Việt Nam. Ngoài ra còn một số bài viết được đăng trên tạp chí như: Phật giáo Theravada Trong Đời Sống Người Khmer Đồng Bang Sông Cửu Long của tác giả Đặng Thị Kim Oanh. Theo tác giả: “khác với nhiều tôn giáo khác, Phật giáo Theravada của người Khmer ĐBSCL không chỉ thực hiện chức năng tôn giáo mà còn đảm nhận các chức năng khác về văn hóa — xã hội, dao đức lỗi sống với từng cá nhân và cả cộng đồng. Day duoc xem là nét đặc trưng quan trọng và tiêu biểu của Phật giáo Theravada ở người Khmer ĐBSCL”.
Thứ hai, một số tài liệu liền quan đến dia bàn nghiên cứu có thé kê đến như: Trần Kim Dung (2000) với tác phẩm Văn Hóa Truyền Thống Của Người Khmer Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Cuộc Sống Hiện Nay (Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á), NXB Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh. Thạch Voi (1988), Tìm Hiểu Vốn Văn Hóa Tộc Người Khmer Nam Bộ, NXB Tổng hợp Hậu Giang: Trương Lưu (1993), Văn Hóa Người Khmer Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, NXB Văn hóa dân tộc. Tiếp đến là những tài liệu liên quan đến nghi lễ xuất gia của Phật giáo Theravada có đến một sô kinh điển như: Mười Đức Tính Cần Có Của Người Xuất Gia của tác giả Tình Vân.
Xuất Gia, Hoàn Gia, Tại Gia của tác giả Hạnh Huệ. Nền Tảng Phật giáo quyền 2, quyền 3 Quy Y Tam Bảo của Tỳ khưu Hộ Pháp; Tăng Già Thời Đức Phật của tác giả Thích Chơn Thiện; Phật Tổ Truyền Đạo Pháp của Văn Sơn Thượng, Nguyễn Văn Quý. Phật Tổ Đạo Ảnh của tác giả Thich Đức Tri; Phật Tổ Tam Kinh của tác giả Thích Phổ Tuệ; Các Tông Phái Đạo Phật tác giả Nguyễn Công Oánh; Các Hệ Phái Phật giáo Và Tôn Giáo Mới Tại Vùng Nam Bộ của tác giả Thích Nhật Từ. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn nhằm tìm hiểu về cơ sở hình thành nghi lễ xuất gia Phật giáo Theravada; nội dung cơ bản thể hiện nghi lễ xuất gia của Phật giáo Theravada (qua khảo cứu một số chùa ở tỉnh Kiên Giang).
Bên cạnh đó, luận văn còn thể hiện được ý nghĩa và giá trị văn hóa của nghỉ lễ xuất gia Phật giáo Theravada đôi với việc giáo dục đạo đức tín đồ Phật giáo Việt Nam và trong việc hộ quốc an dân. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nghi lễ xuất gia của Phật giáo Theravada - Pham vi nghiên cứu: lịch sử Phật giáo Theravada và một số chùa trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang. - Không gian: nghiên cứu luận văn là một số ngôi chùa trong địa bàn tỉnh Kiên Giang. - Thời gian: luận văn nghiên cứu nghi lễ xuất gia của Phật giáo Theravada ở tỉnh Kiên Giang hiện nay 5.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp tiếp cận từ nhu cầu tín ngưỡng, ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân tích, tong hợp, so sánh, phân loại, thống kê, điều tra xã hội học. Ngoài ra, vấn đề này mang tính thực tế cao nên luận văn phải nghiên cứu cụ thé thông qua phương pháp điền dã, khảo sát thực tế tại các Chùa dé biết được nghỉ lễ cụ thể, số lượng Tang Ni xuất gia, và khảo sát xem nghi lễ tại các chùa có giống nhau hay không, có trang nghiêm giữ được đúng nghỉ lễ của Phật giáo Theravada hay không. Đóng góp của luận văn Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập tôn giáo, hoặc cho việc hoạch định chính sách của các nhà nghiên cứu. Cung cấp những luận cứ, luận chứng cụ thể nhằm phát huy những giá trị văn hoá tôn giáo tốt đẹp, khắc phục những hạn chế còn tồn đọng trong giai đoạn hiện nay.
(tức là việc bảo ton và phát huy những giá trị Phật giáo, đặc biệt là những giá trị cua Tăng đoàn còn nhiều bat cập. CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHI LE XUẤT GIA PHẬT GIÁO THERAVADA VÀ DIA BAN NGHIÊN CỨU 1. Co sở hình thành nghỉ lễ xuất gia đối với Phật giáo 1. Cơ sở kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa tín ngưỡng ở Ấn Độ Về kinh tế: Thời kỳ này có sự phát triển của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và dẫn tới sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc.
Về chính trị: Xã hội theo đà tiến triển nên phát sanh ra bốn chức nghiệp: Si, Nông, Công, Thương. Dan dan phát triển thành giai cấp hóa. Thời kỳ này có bốn giai cấp chính như sau:! Giai cấp trên hết là giai cấp Bà La Môn (Brahmana): Đây là những người thuộc giới tăng lữ, triết gia, học giả và các vị lãnh đạo tôn giáo. Họ được xem như một tang lớp lãnh đạo tinh thần, có quyền lực trong lĩnh vực văn hóa, tôn giáo và tham gia công tác chính trị để tham mưu.
Họ tự cho rằng họ được sinh ra từ miệng của Đắng Phạm Thiên (Brahma), nên họ được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thuong Dé và thay mặt Phạm Thiên dé dẫn dắt tinh thần của quần chúng nhân dân nên được các bậc dưới tôn kính và được toàn quyền hưởng mọi lạc thú. Dân chúng Ấn Độ rất tôn trọng dang cấp này. Giai cap thứ nhì là Sát Dé Ly (Kshastrya): Họ được sinh ra từ vai của Dang Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các bậc vua chúa, quý tộc, trưởng giả, công hau khanh tướng.
Ho nắm quyên cai trị và thưởng phạt dân chúng. ! Thích Thanh Kiểm (1973), Lược sử Phật Giáo An Độ, NXB Van Hạnh, tr 31-32. ? Thích Quảng Độ (1969), Nguyên Thủy Phật Giáo Tư tưởng Luận, Viện Dai Học Vạn Hạnh xuât ban 5 Giai cấp thứ ba là Phé Xá (Vaisya): họ được sinh ra từ hông của Đắng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nhà thương mại, các trại chủ giàu có.
Họ nắm kinh tế, chuyên môn mua bán làm ăn với các tầng lớp dân chúng trong xã hội. Giai cấp thứ tư là Thủ Da La (Soudra): họ được sinh ra từ chân của Dang Pham Thién. Giai cap nay gồm các nông dân và công nhân nghèo khô. Họ làm những công việc cày cấy, công việc cực nhọc trong cuộc sống hàng ngày.
Họ bị dân tộc Nhã Lợi An (Aryan) áp bức bốc lộc sức lao động và phục vụ cho các giai cấp khác.