phần mở đầu; nội dung có 3 chương, 9 tiết; phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo. 4 z Chƣơng 1: KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đạo đức và giáo dục đạo đức Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng La tinh là “mos” có nghĩa là lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa).
Còn “luân lý”, một khái niệm thường được xem như đồng nghĩa với “đạo đức”, thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos, nghĩa là lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại.
Đạo có nghĩa là con đường, đường đi - về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội. Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý.
Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo. Theo từ điển Tiếng việt, đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có [34]. Dưới góc độ Tâm lý học, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai - chúng được thực hiện bởi niềm tin ở mỗi cá nhân, bởi truyền thống và 5 z sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức vừa có tính đa dạng và uyển chuyển, vừa có tính bất biến tương đối.
Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm,quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Dưới góc độ Giáo dục học,đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người. Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự.
Hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.
Như vậy, đạo đức ngày nay có thể được định nghĩa như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội. Từ “giáo dục” theo nghĩa gốc trong tiếng La Tinh là “educere”, có nghĩa là lôi ra, đưa ra khỏi. Vào thời đại La Mã, theo ngôn ngữ của những người dân chăn cừu, thì “educere” chỉ có nghĩa rất đơn sơ là bước đi trước đàn cừu của mình và dẫn 6 z chúng ra ngoài.
Như vậy, giáo dục có thể được hiểu là quá trình làm sống dậy, khơi ra những đức tính cao cả, những năng lực còn đang “nằm ngủ”, những khả năng còn đang ẩn tàng trong một chủ thể. Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCH TW khóa XI (Nghị quyết số 29- NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Do vậy giáo dục đạo đức là yêu cầu khách quan của sự nghiệp trồng người, giúp đào tạo thế hệ vừa “hồng” vừa “chuyên” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, các giá trị đạo đức truyền thống và hiện đại vẫn giữ một vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phá vỡ sự cân bằng giữa xã hội và tự nhiên, giữa con người với con người. Chúng ta đã biết, hành vi của con người tuân theo hệ thống quy tắc do xã hội đặt ra; có người tuân thủ do nhập tâm, do ý thức được các giá trị đạo đức, các chuẩn mực xã hội; có người tuân thủ vì xung quanh họ là những cơ chế kiểm soát xã hội mạnh mẽ như gia đình, họ hàng, làng xóm, luật lệ.
Quá trình này làm cho hệ thống quy tắc đó dễ bị phá vỡ, lúc đó phải - trái, đúng - sai không còn rạch ròi làm cho con người thờ ơ giữa cái thiện và cái ác. Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách con người, giúp con người phát triển toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc mọi người phải có đức, có tài mới đóng góp đựợc nhiều lợi ích cho xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đáp ứng dược yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội.
7 z Giáo dục đạo đức là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quy tắc hành vi thể hiện trong giao tiếp với mọi người với công việc, với Tổ quốc. Công tác này cần phải được coi trọng đặc biệt, nhất là trong sự nghiệp cách mạng hiện nay của dân tộc, khi nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Thế hệ trẻ cần phải được phát triển đúng về mặt đạo đức, phải được tạo cơ sở để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với gia đình, bạn bè, thầy cô, với xã hội, với tổ quốc, với môi trường tự nhiên, với cộng đồng quốc tế. Ngày nay, thanh niên cần được giáo dục đạo đức XHCN, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho thanh niên có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật.
Truyền thống và hiện đại Trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về truyền thống. Theo từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô, truyền thống có nguồn gốc từ tiếng Latinh là tradition, nghĩa là nối đời, nối truyền[35]. Theo Từ điển Tiếng Việt, truyền thống được định nghĩa như sau: “Truyền thống: thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác” [34]. Dưới góc độ chính trị - xã hội: “Truyền thống là di sản về xã hội và văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được duy trì trong suốt thời gian dài”.
Qua những định nghĩa trên, có thể hiểu: truyền thống là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên, dựa trên quan điểm biện chứng, ở một thời điểm nhất định, truyền thống bao giờ cũng có tính hai mặt: mặt tích cực và mặt tiêu cực. Mặt tích cực bao gồm những yếu tố ưu việt, tiến bộ, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc - những giá trị tốt 8 z đẹp, tích cực ấy được lưu truyền từ đời này qua đời khác, đứng vững theo thời gian và có thể đương đầu với những biến động của lịch sử. Hơn nữa, những giá trị ấy có khả năng tạo ra sức mạnh, sản sinh ra các giá trị mới đem lại lợi ích cho con người.
Mặt tiêu cực là hiện thân của sức ỳ, của sự bảo thủ, lạc hậu, có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển xã hội. Có những cái mà chúng ta vẫn gọi là truyền thốngnhưng không đem lại lợi ích cho con người, nhiều khi còn kìm hãm sự phát triển. Trong cuốn “Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bonaparte”, C.Mác đã từng nói đến truyền thống của các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống [16].