Chương 1, Luật báo chí (sửa đổi năm 2016), nêu rõ: Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dân trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử [26]. Theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mang, báo điện tử là một trong 5 loại cua trang tin điện tử bao gồm: Báo điện tử, Trang thông tin điện tử tổng hợp, Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử các nhân và Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành [21]. Còn tác giả Nguyễn Thị Trường Giang cho rằng: “Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên Internet có ưu thế trong chuyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời đa phương tiện và tính tương tác cao” [8,tr. Trong giáo trình “Lý luận truyền thông”, tác giả Dương Xuân Sơn khi nói về báo điện tử cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Báo điện tử (Online Newspaper) là loại báo xuất hiện trên Internet (World Wide Web).
Internet là mang thông tin diện rộng, bao trùm toàn câu, hình thành trên cơ sở kêt nôi các 22 máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất.70] Có thé thấy, có rất nhiều khái niệm và định nghĩa được đưa ra về báo điện tử, tuy nhiên ở trong khuôn khổ đề tài này, tác giả sẽ sử dụng khái niệm sau về báo điện tử: Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành trên Internet, có thé truyén tải và cung cấp thông tin một cách nhanh chong; mang tính tương tác cao. Quản trị và quan trị nội dung e Khái niệm Quản tri Định nghĩa về “Quản trị” được đưa ra với rất nhiều góc nhìn khác nhau từ các học giả và vẫn chưa có thống nhất chung. Và sau đây chính là một số cách giải nghĩa quan tri: Trước hết, các học giả Phương Tây đã nhận định quản trị với đa dạng góc độ như sau. Theo Robert Kreitner: “Quản trị là tiễn trình làm việc với hoặc thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi.
Trọng tâm của tiến trình này là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có han.114,116] Hai nhà nghiên cứu James Stoner và Stephen Robbins thì cho răng: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tô chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tat cả các nguồn lực khác của t6 chức nhằm dat được mục tiêu đã đề ra.” Tiếp đó, học giả Robert Albanese định nghĩa như sau: “Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động cua con người và tao diéu kién thay đôi dé đạt được mục tiêu của tổ chức.” Trong cuốn “Quan trị học căn bản” của James H. Ivancevich (do Vũ Trọng Hùng dich) thi: “Quản tri là một 23 quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác dé đạt được nhữn kết quả mà một người hoạt động riêng rẽ không thé nao dat được.” [42] Tai Việt Nam, trong cuốn sách Quan trị hoc — Những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Tan Phước định nghĩa: Quản tri là tiến trình hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên (gồm Con người, may móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ.) dé hoàn thành mục tiêu đã định.7] Còn tác giả Trương Thị Kiên đã nhận định: Quản trị được hiểu là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước. Nói cách khác, quản trị là nghệ thuật đạt mục tiêu thông qua hoạt động của người khác [18, tr. Từ đó, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, khái niệm Quản trị được xác định như sau: Quan tri là quá trình các chu thể quản trị hoạch định, tô chức, lãnh đạo và kiém tra các hoạt động của đối tượng quản tri cùng chung trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tập thể, tổ chức.
Trong cuốn “Lao động nhà báo và quan tri tòa soạn”, tác gia Truong Thị Kiên cũng đưa ra khái niệm: “Quản trị tòa soạn báo chí là hoạt động hoạch đinh, tô chức, kiểm tra, đánh giá công việc của tòa soạn, căn cứ trên những nội quy, quy chế nhất định mà tòa soạn đặt ra, nhằm đảm bảo mọi hoạt động 6n định, có hiệu quả, với mục đích cao nhất là đem lại sản phẩm báo chí (tờ báo, chương trình phát thanh, truyền hình) có chất lượng, đáp ứng nhiệm vụ thông tin tuyên truyền của cơ quan báo chí, yêu cầu của công chúng và đem lại lợi nhuận, thúc day phát triển tòa soạn báo chí đó”. [18] 24 Đề hoạt động quản tri có thể diễn ra cần đảm bảo đủ 3 điều kiện cơ bản: Thứ nhất: Có chủ thé quản trị chính là các nhân tố tạo ra tác động quản trị, là đối tượng quản trị trực tiếp. Thứ hai: Có đối tượng bi quản tri là đối tượng chiu tác động trực tiếp của chủ thé quản trị, có thé là một tổ chức, một tập thé hoặc thiết bị, máy móc. Thứ ba: Nguồn lực giúp chủ thể quản trị khai thác, sử dụng trong quá trình quan tri.
Bên cạnh đó, muốn quản tri cũng cần có mục tiêu chung đặt ra cho tô chức bởi đây chính là căn cứ dé chủ thé tạo ra các nhân tô tác động vào đối tượng bi quản tri. e Khái niệm Quan tri nội dung thông tin Theo sách “Từ điển tiếng Việt”, “nội dung” được định nghĩa như sau: “Nội dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [39]. Nội dung trong luận văn này được xác định là các tin, bài về thông tin văn hóa được đăng tải trên báo Nhân Dân điện tử dưới hình thức là ngôn ngữ tiếng Việt được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc video. Từ đó, có thé hiểu một cách đơn giản rang: “Quản trị nội dung là hoạt động có mục đích, có tô chức của chủ thé tác động vào nội dung băng các phương thức, biện pháp nhất định nhằm kiểm soát nội dung, duy trì ôn định và phát triển dé đạt được mục tiêu, phương hướng đề ra.” (Dẫn lại theo Doan Biên Thùy, 2022) [6] Bên cạnh đó, quan tri nội dung thực chất là sự phản ánh mối quan hệ giữ chủ thé quản trị và đối tượng quản trị.
Tức là, chủ thé chính là những người có vai trò lãnh đạo như Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập, Trưởng ban, Phó ban của các phòng ban nghiệp vụ. Còn đối tượng quản trị là 25 những người có nhiệm vụ thực thi các mệnh lệnh, ý kiến chỉ đạo của cấp trên như phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, cộng tác viên. Trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững đã đưa ra khái niệm: “Thông tin là khởi nguồn là chức năng cơ bản nhất của báo chí” và “Thông tin trên báo chí không chi trở thành sức mạnh chính tri trong cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng, đối với sự phát triển khoa học — công nghệ, góp phần hình thành diện mạo văn hóa quốc gia cũng như nhân cách của con người, mà còn ngày càng đi sâu vào đời sống an sinh xã hội, thâm nhập ngày càng sâu vào đời thường, đi vào ngõ ngách của cuộc sống cá nhân và cộng đồng.” [5] Chính vì thế, nếu nội dung thông tin được đề cập trên báo chí mang tính chân thực, khách quan thì sẽ góp phần xây dựng một xã hội tốt, dư luận xã hội mang tính tích cực. Và ngược lại, nếu thông tin trên báo chí phản ánh sai sự thật, chủ quan thì sẽ gây hoang mang cho dư luận, cho công chúng và toàn xã hội.
Do đó, có thể nhận định: Quản trị nội dung thông tin là cách một tổ chức/cơ quan báo chí sử dụng phương thức dé lập kế hoạch, tập hợp, sáng tao và phổ biến một cách có hiệu qua các thông tin. Thông qua quản trị nội dung thông tin, tổ chức/cơ quan báo chí có thể đảm bảo giá trị của các thông tin được xác lập và sử dụng tối đa, nhằm phục vụ cho mục tiêu, tôn chỉ của các tô chức/cơ quan báo chí. Quản trị nội dung thông tin thường được thê hiện ở các khía cạnh: - Quản trị về nội dung thông tin dé đảm bao thông tin được phản ánh chính xác, khách quan, cần bằng và công băng. - Quản trị về quy trình sản xuất tin, bài: Việc quản trị quy trình sản xuất tin, bài của các cơ quan báo chí phải được dam bảo dé thông tin đáp ứng các yêu cầu về tính chính xác, khách quan, trung thực; đồng 26 thời, đáp ứng yêu cầu tính nhanh nhạy, hợp thời, kịp thời của thông tin báo chí.
Văn hóa và thông tin văn hóa e Văn hóa Văn hóa là một khái niệm rất rộng, được hiéu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Trên thế giới khái niệm văn hóa đã xuất hiện từ rất lâu và được các học giả Phương Tây định nghĩa một cách cụ thể.Tylor đã đưa ra khái niệm như sau: “Văn hóa là toàn bộ phức thé bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức. luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Boas cũng đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cau thành nên một nhóm người vừa có tính tập thé vừa có tinh cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên nay với nhau” [41].
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A. Kroeber và Kluckhohn đưa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thi và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người. Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” [3].