phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết: Chƣơng 1: Giá trị đạo đức truyền thống và tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ngành sư phạm ở Thành phố Hà Nội hiện nay. Chƣơng 2: Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ngành sư phạm ở Thành phố Hà Nội hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra. Chƣơng 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ngành sư phạm ở Hà Nội hiện nay. 8 z Chƣơng 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH SƢ PHẠM Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 1.
Giá trị và một số giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam cần giáo dục cho sinh viên ngành sƣ phạm ở thành phố Hà Nội hiện nay 1. Giá trị và giá trị đạo đức truyền thống 1. Khái niệm giá trị Khái niệm giá trị xuất hiện từ rất sớm. Thời kỳ cổ đại, khái niệm giá trị gắn chặt với triết học.
Từ nửa sau thế kỷ XIX, khái niệm giá trị trở thành khái niệm trung tâm của giá trị học. Hiện nay, khái niệm giá trị được sử dụng trong nhiều bộ môn khoa học khác nhau như: đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, triết học,. Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm giá trị có thể mang những nội dung khác nhau. Trong lĩnh vực kinh tế, khái niệm giá trị gắn liền với giá trị hàng hóa, là sự kết tinh của lao động xã hội trong hàng hóa (hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng).
Theo quan điểm kinh tế, giá trị kinh tế là sức mạnh của sản phẩm này khống chế những sản phẩm khác thông qua trao đổi, giá trị của một vật phẩm thể hiện ở tính có ích của nó, nghĩa là vật phẩm đó có khả năng đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Do vậy trong phân tích kinh tế thì giá trị là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó càng cao thì giá trị của nó càng lớn. Trong lĩnh vực triết học, khi đề cập đến phạm trù giá trị có nhiều quan điểm khác nhau. Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan coi giá trị là sự tồn tại của những bản chất tiên nghiệm, những chuẩn mực lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật không phụ thuộc vào nhu cầu và ham muốn của con người.
Trái lại chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý 9 z thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang đánh giá. Những người theo thuyết tự nhiên chủ nghĩa lại coi giá trị là biểu hiện những nhu cầu tự nhiên của con người, từ đó làm nảy sinh quan điểm thực dụng. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhận thức được, tính thực tiễn của giá trị và coi giá trị là hiện tượng xã hội đặc thù, giá trị không phải là những cái tiên nghiệm, thần bí, có từ hư vô mà mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng và khi nói đến giá trị bao giờ cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể. Con người có khả năng nhận thức được giá trị và thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm giá trị.
Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết định nghĩa: Giá trị là một sự khẳng định hay phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản tính các thuộc tính tự nhiên mà bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, đáp ứng các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích [16, tr.51-52], tác giả luận văn đồng ý với quan điểm này. Cho đến nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù giá trị, nhưng có thể khái quát lại, giá trị có một số đặc điểm sau: Một là, giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào sự phát triển xã hội. Như vậy, việc khẳng định đặc điểm giá trị đã bao hàm trong nó sự phân biệt với các sự vật, hiện tượng mà ta gọi là “phản giá trị”, “vô giá trị”- tức là những gì đi ngược lại sự phát triển của lịch sử, ngăn cản sự tiến bộ của xã hội.
10 z Hai là, giá trị có tính lịch sử - khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà do yêu cầu của từng thời đại lịch sử, trong đó con người sống và hoạt động. Ba là, giá trị chứa đựng các yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ thể trong quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự đánh giá, lựa chọn của chủ thể đối với sự vật hiện tượng ấy. Bốn là, giá trị được xác định trong mối quan hệ thực tiễn với con người, được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm tra bằng thực tiễn. Thực tiễn “vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất của khách thể, vừa là tiêu chuẩn chân lý về giá trị của khách thể” [19, tr.
Năm là, giá trị đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Nó là cái mà con người dựa vào để xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình. Là cái con người mong muốn được theo đuổi. Tóm lại: “Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [59, tr.
Để phân loại giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lên những căn cứ phân loại khác nhau. Nhưng cách phân loại khá phổ biến là chia giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất thường được thể hiện một cách rõ nét trong đời sống kinh tế, nơi gắn bó trực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại của xã hội loài người. Vì vậy giá trị vật chất cũng liên quan mật thiết với các lĩnh vực chính trị, pháp quyền, thiết chế xã hội,.
Trong các giá trị vật chất, người ta thường đề cập đến giá trị sử dụng và giá trị kinh tế. Còn giá trị tinh thần “vượt thoát” hiện thực nhưng không phải xa rời hiện thực mà là nhằm vươn tới một 11 z xã hội nhân văn, xã hội mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị như: giá trị khoa học, giá trị chính trị, giá trị tôn giáo, giá trị đạo đức, v. Khái niệm giá trị đạo đức truyền thống Trong mỗi xã hội bên cạnh các vấn đề quan trọng như kinh tế, văn hóa, chính trị, thì đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Chúng ta đều biết rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống dân tộc và sức mạnh của dư luận xã hội. Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạo đức là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh hành vi của con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh: “giá trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ người - người với giới tự nhiên và xã hội (gia đình và cộng đồng.) trên tinh thần yêu thương hay thù hận, tôn trọng hay không, sự phát triển hay kìm hãm tài năng, tự do và hạnh phúc” [58, tr. Mỗi một dân tộc đều có những giá trị đạo đức truyền thống, trong cuốn Toàn cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay có viết: “Truyền thống là một khái niệm chỉ phức hợp những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí,… của một cộng đồng người được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [54, tr.
Truyền thống là sản phẩm của lịch sử, nên không thể ngay lập tức thay đổi, xóa bỏ. Nhận thức này sẽ quy định thái độ của hiện tại đối với truyền 12 z thống. Sùng bái truyền thống hoặc coi thường truyền thống đều dẫn đến những hậu quả xấu. Sùng bái một cách mù quáng đối với truyền thống, không phân biệt những giá trị tích cực với những gì là lạc hậu, tiêu cực trong truyền thống sẽ dẫn đến hoài cổ, phục cổ và ngược lại, không tính đến những biến đổi khách quan trong hiện tại mà đề cao thái quá truyền thống sẽ dẫn đến trì trệ, bảo thủ, cản trở tiến bộ.
Thực tiễn lịch sử cho thấy dân tộc nào kết hợp được các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại thì sẽ phát triển. Cho dù lịch sử đã có nhiều thay đổi nhưng các thế hệ đi sau vẫn không thoát khỏi được sự ràng buộc bởi những nếp nghĩ, cách làm của các thế hệ đi trước, thậm chí lặp lại một cách máy móc, không sáng tạo. Đó chính là mầm mống của tư tưởng bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển xã hội. Truyền thống của mỗi dân tộc luôn cần được đổi mới, bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới.