Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nội dung về van đề bạo hành trẻ em trên báo điện tử. © Chương 2: Thực trạng quản trị nội dung về van đề bạo hành trẻ em trên báo điện tw (Khảo sát 02 tờ báo điện tw Phu nữ Việt Nam Online, VnExpress, giai đoạn 01/2020 đến tháng 12/2022). « Chương 3: Một số van dé đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả quan trị nội dung về van dé bạo hành trẻ em trên báo điện tử. CƠ SO LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE QUAN TRI NỘI DUNG VE BAO HANH TRE EM TREN BAO DIEN TU’ A.
CO SO LY LUAN VE QUAN TRI NOI DUNG VE BAO HANH TRE EM TREN BAO DIEN TU 1. Một so khái niệm liên quan 1.1 Báo điện tw Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn so với báo In, phát thanh và truyền hình. Tuy nhiên, báo điện tử có nhiều ưu thế vượt trội. Do đó, xu hướng các cơ quan báo chí truyền thống là từng bước tiến hành “điện tử hóa” tờ báo của mình đang rất thịnh hành trong giai đoạn hiện nay.
Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang, Phó giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền sử dụng thuật ngữ “báo mạng điện tử” dé giải thích về loại hình này: “Bao mạng điện tu là một loại hình bao chí được xây dựng dưới hình thức cua một trang web và phát hành trên mạng internet”.TS Dương Xuân Sơn, trong cuốn Các loại hình báo chí truyền thông, xuất bản năm 2014 có định nghĩa “Báo điện tw là một loại hình thông tin đại chúng dựa trên việc triển khai các thế mạnh của internet, sử dụng các yếu to công nghệ cao như một nhân to quyết định nhằm đem đến cho công chúng những thông tin mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh chóng và toàn diện nhất”. Tại điều 3, Luật Báo chí Việt Nam năm 2016 có định nghĩa: “Báo điện tu là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh được truyén dan đến môi trường mạng, gom cả bdo điện tử và tạp chí điện tử. ” Theo UNESCO: “Báo điện tử là các hình thức truyền thông trực tuyến, sử dụng công nghệ số hóa dé cung cấp tin tức, thông tin và nội dung văn bản, hình ảnh, âm thanh và video cho người đọc. ” Theo Neil Thurman - Giảng viên truyền thông và báo chí, Đại học Luân Đôn: “Báo điện tử là hình thức truyền thông trực tuyến, tương tự như báo giấy, nhưng 19 được xuất bản và truyền tải qua internet.
Nó cung cáp tin tức và nội dung da dạng cho người đọc, thường với tốc độ cập nhật nhanh và khả năng tương tac.” Tên gọi và những vẫn đề đặt ra: Hiện nay, đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau về báo điện tử: Báo mạng điện tử (electronic journal), Báo trực tuyến (online newspaper), Báo online (ví dụ Tuyên Quang online). Những đặc trưng cơ bản của báo điện tử: Khả năng đa phương tiện (Multimedia): Báo điện tử có khả năng tích hợp nhiều các phương tiện truyền tải thông tin như: văn bản chữ viết (text), hình ảnh tinh (still image), hình ảnh động (animation), đồ hoa (graphic), 4m thanh (audio), video va cac chuong trinh tuong tac. Tinh tức thời va phi định kỳ: Rất nhiều sự kiện dién ra cần được đưa tin liên tục dé công chúng năm tình hình và điều ay chi có thé thực hiện được nhanh nhất ở báo điện tử. Báo điện tử vượt qua được các rào cản mà các loại hình báo chí khác gặp phải, nội dung thông tin không bị giới han bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính, quy trình sản xuất thông tin lại đơn giản, dé dang vi thế đây cũng là nét đặc trưng nổi bật của báo điện tử.
Tính tương tác: Báo điện tử có khả năng tác động qua lại giữa người sản xuất thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện. Đặc trưng này cho phép cơ quan báo chí tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thêm thông tin để hiểu rõ hơn sự việc của công chúng, đồng thời báo chí có thé “giữ chân” những công chúng trung thành với tờ báo một cách lâu đài. Kha năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin: Báo điện tử có thé lưu giữ được dung lượng lớn thông tin dé phục vụ công tác tim kiếm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin của báo điện tử giúp cho công chúng tìm kiếm rất nhanh bằng cách gõ các từ khóa cho thông tin cần tim và nhắn nút “tìm kiếm”.
Có thé tìm kiếm theo chủ đề, ngày, tháng hoặc theo từ khoá.2 Quan trị Theo Mary Parker Follet: “Quản trị là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác. ” Theo Harold Koontz & Cyril O’Donnell: “Quan tri là việc thiết lập và duy trì một môi trường nơi mà các cả nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt các mục tiêu của nhóm. ” Theo Robert Kreitner: “Quản tri là tiến trình lam việc với con người và thông qua con người dé hoàn thành các mục tiêu của tô chức trong một môi trường luôn thay đổi. Trọng tâm của tiễn trình này là sử dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên có han.” Theo giáo trình Quản trị học, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: “Quản trị là qua trình lãnh đạo và điều hành một tổ chức dé đạt được mục tiêu của tổ chức đó.
Nó bao gom các hoạt động quan lý tài nguyên, quan lý nhân lực, quan lý tài chính, quản lý sản xuất, tiếp thị và các hoạt động khác đề đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức. ” Từ những định nghĩa trên, tác giả xin định nghĩa về quản trị như sau: “Quản trị là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, có tổ chức của chủ thể quản trị lên doi tượng quản trị. Đông thời có sự phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân, nguon lực để đạt đến mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất. ” Quản trị đóng một vai trò cốt lõi trong tạo giá trị cho khách hàng và đảm bảo sự cạnh tranh của tô chức.
Họ lãnh đạo, quan lý tai nguyên và định hình chiến lược của tô chức truyền thông. Nhiệm vụ của họ bao gồm quản lý nguồn lực nhân sự, ngân sách và cơ sở hạ tầng, đồng thời đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và chuẩn mực dao đức trong ngành báo chí. Họ xây dựng mối quan hệ với đối tác và cộng đồng, đánh giá hiệu quả và thúc đây sự phát trién bền vững của tổ chức. Quan trị là bộ não chiến lược và lực đây cho sự thành công trong lĩnh vực truyền thông.
Trẻ em Trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như Triết học, Xã hội học, và Tâm lý học, đêu có những cách tiêp cận khác nhau đôi với việc định nghĩa vê trẻ em. 21 Tuy nhiên, điểm chung của tất cả là sự thừa nhận: trẻ em không đơn giản chỉ là phiên bản thu nhỏ của người lớn. Thực tế, trẻ em và người lớn là hai giai đoạn phát triển khác nhau trong chuỗi phát triển của một thế hệ con người từ khi chào đời đến khi kết thúc cuộc sống. Điều này ám chỉ rằng, cả trẻ em và người lớn đều trải qua sự vận động và phát triển theo các quy luật riêng biệt của từng giai đoạn.
Cần lưu ý răng thuật ngữ “trẻ em” chi đề cập đến một giai đoạn cụ thé trong quá trình phát triển của con người. Mỗi người khi ra đời đều trải qua giai đoạn này, vì vậy chúng ta cần hiéu rõ hơn về sự mong manh và yếu đuối của giai đoạn này. Trẻ em luôn can sự quan tâm, chăm sóc và bảo vệ đặc biệt từ người lớn. Theo cách hiểu của quốc tế thị trẻ em là những người dudi 18 tuổi.
Cụ thé, tại Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em nêu: “Tré em được xác định là người dưới 18 tuổi, từ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên som”. Khác biệt với cách hiểu về trẻ em quốc tế, tại Việt Nam trẻ em được hiểu là lứa tuổi từ 0 đến 16. Cụ thể các văn bản Pháp luật của Việt Nam quy định: “Những người đưới 16 tuổi gọi là trẻ em. “Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên”.
“Những người từ đủ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động goi là người lao động ””. Trẻ em nên được hiểu đầu tiên là những con người có quyền và tự do như đã được phổ quát trong các Hiến chương Quốc tế về quyền của con người. Họ không nên phải chịu bất kỳ loại phân biệt đối xử nào dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, hoặc bất kỳ yếu tố nào khác. Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu trẻ em Việt Nam từ 0 - 16 tuổi.
Có thé khang định rằng, trẻ em không chỉ khác nhau ở độ tuổi mà còn đặc thù theo từng thời đại, theo nền văn hóa mà chúng trải qua qua những hoạt động riêng của mình. Không có một hình ảnh chung chung về trẻ em; chỉ tồn tại hình ảnh về trẻ em trong một thời điểm, ở một độ tuôi cụ thé. Vì lẽ đó, cần nhìn nhận về trẻ em một cách khách quan, không dựa vào quá khứ đề đánh giá trẻ em hiện tại. 22 Trong không gian báo chí, thông tin về trẻ em luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt.
Trẻ em không chỉ là đối tượng phản ánh, mà còn là nguồn cảm hứng cho sự đa dang và phong phú của hoạt động báo chí. Từ trẻ sơ sinh đến thiếu niên, khi đặt trẻ em vào trung tâm, chúng ta đặt quyền lợi của họ lên hàng đầu. Tiếp cận thông tin với tư cách này sẽ tạo ra những tác phẩm có giá trị, có khả năng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng. Thông tin về trẻ em trên báo chí không chỉ đơn thuần là việc phản ánh, mà còn liên quan sâu sắc đến nhân văn, đến lòng nhân ái giữa con người với nhau trong xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay trẻ em thường được đề cập trên phương tiện truyền thông theo một số bức tranh lặp đi lặp lại, bao gồm trẻ em đối diện với bạo lực, trẻ em trong hoàn cảnh nghèo đói, hoặc trẻ em là nạn nhân của sự phân biệt giới tính. Việc viết về trẻ em, đặc biệt là với các vấn đề nhạy cảm như mại dâm, HIV. đòi hỏi nhà báo không chỉ có đạo đức mà còn phải có hiểu biết sâu sắc.