CHƯƠNG 1 DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THÔNG - VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 1. Dư luận xã hội, các bước hình thành và chức năng cơ bản của dư luận xã hội 1. Khái niệm DLXH là sự phản ánh tâm trạng của xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn (của nhân dân nói chung) về những vấn đề cụ thể, về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại. Cơ sở quan tâm là lợi ích xã hội, đây là những lợi ích cấp bách, cần ngay.
Trong phản ánh DLXH có tính chất đánh giá tốt - xấu, nên – không nên. Tính chất của dư luận xã hội phụ thuộc vào tính chất của các sự kiện, vấn đề, những quan điểm, hành động của các nhân vật trong trường hợp thông tin phản ánh đúng đắn, chính xác. Quan niệm trên cho thấy sự phản ánh thực tế trong DLXH trước hết là thái độ phán xét, ý kiến đánh giá của quần chúng nhân dân đối với các sự kiện và vấn đề thời sự mà họ quan tâm. Hay nói cách khác, DLXH có tính chất đánh giá các hiện tượng xã hội để xác định hành vi ứng xử của con người.
Tính đặc thù của DLXH thể hiện ở chỗ: nó không chỉ thuần tuý tinh thần mà nó là cấu trúc tinh thần - thực tế. Tính đặc thù này chỉ ra mức độ xem xét sự thể hiện của DLXH và DLXH được xem là một hiện tượng tâm lý xã hội. z Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Báo chí 10 DLXH là một trạng thái tinh thần thực tế, có thể được biểu hiện đầy đủ ở thái độ, lời nói và đỉnh cao là hành vi. Tất cả những vấn đề đó được đặt trong quan hệ xã hội đang tồn tại.
Nghĩa là khi quan hệ xã hội thay đổi, DLXH thay đổi theo, về mặt triết học, nó là tinh thần của xã hội. Đây không phải là ý kiến của một ngưòi, một vài người, mà là các nhóm lớn, tập đoàn xã hội. DLXH bao giờ cũng phản ánh lợi ích, nếu không có lợi ích không thành dư luận. DLXH dựa trên các quan hệ xã hội đang tồn tại.
Bởi vậy, DLXH Khách thể của DLXH có thể là những sự kiện hết sức khác nhau trong đời sống xã hội và lợi ích chung được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định khách thể của DLXH. Còn chủ thể của DLXH là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội. Lập trường giai cấp được xem là cơ sở để xác định chủ thể của DLXH. Các bước hình thành DLXH + Bước thứ nhất, các cá nhân, các nhóm xã hội tiếp xúc, làm quen tạo nên cảm giác ban đầu và trao đổi thông tin về hiện tượng, sự việc đó.
+ Bước thứ hai, các nhóm xã hội bắt đầu bàn bạc về thông tin, đánh giá tốt, xấu, nên – không nên, dựa trên lợi ích cụ thể. Tại đây, ý kiến cá nhân bắt đầu trở thành tinh thần xã hội. + Bước thứ ba, các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm cơ bản để hình thành sự đánh giá chung về các hiện tượng, các quá trình xã hội, những đánh giá này thoả mãn được sự nhận định của đa số cộng đồng người. + Bước thứ tư, từ việc đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động và rút ra những kiến nghị trong hoạt động thực tiễn.
Sự hình thành dư luận xã hội diễn ra liên tục và chứa đầy các yếu tố tự phát, nhưng đây là một quá trình có quy luật. Lợi ích xã hội là nhân tố chi z Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Báo chí 11 phối sâu sắc đến sự hình thành DLXH. Lợi ích cá nhân thường rất nhạy bén trong sự hành thành ý kiến cá nhân. Ý kiến của nhóm được coi là đơn vị đầu tiên tạo nên “chất” của DLXH.
Con đường vận động từ ý kiến cá nhân qua ý kiến nhóm, để tạo thành DLXH là một quá trình biện chứng. Sự phát triển của các “tầng” ý kiến quy định cường độ của DLXH về một hiện tượng xã hội nào đó. Mặc dù sự phát triển của DLXH được xác định bởi các quy luật khách quan, song trong một xã hội phát triển có định hướng, thì quá trình hình thành DLXH theo con đường tự phát, tất yếu cần đến sự điều khiển của hoạt động quản lý và tổ chức xã hội. Để hoạt động này đạt được hiệu quả, cần thường xuyên quan tâm tới lợi ích của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội.
Việc khắc phục những khác biệt, trước hết là những khác biệt về lợi ích kinh tế, nhằm hướng tới mục tiêu chung, vì sự tiến bộ chung của xã hội, sẽ làm cho hoạt động định hướng DLXH đạt hiệu quả. Việc định hướng DLXH được hình thành thuận lợi khi có sự nhất quán trong chủ trương, chính sách với quá trình tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Nếu chủ trương chính sách được về xuất và các hành vi quản lý diễn ra theo kiểu “nói một đường, làm một nẻo” thì hoạt động định hướng của DLXH sẽ mất tác dụng. DLXH có các chức năng cơ bản sau + Chức năng phản ánh: là sự phản ánh về các vấn đề nóng bỏng hoặc có liên quan trực tiếp tới lợi ích xã hội.
Thông qua sự phản ánh này, các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và có hướng giải quyết. Từ đó, có thể điều hoà các quan hệ xã hội, không làm cho lợi ích nghiêng về nhóm nào. + Chức năng kiểm soát xã hội: Việc kiểm soát xã hội trong DLXH diễn ra cả ở kênh chính thức và không chính thức. DLXH là độc giả, khán thính giả, thường thể hiện quan điểm, thái độ, lập trường về những vấn đề mà họ z Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Báo chí 12 quan tâm.
Đây là biểu hiện giám sát rất tích cực, thể hiện sự dân chủ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, từ đó tạo nên hiệu quả truyền thông. + Chức năng giáo dục: Ví như việc lấy khuôn mẫu chung, chuẩn mực chung của xã hội để giáo dục. Bằng những nhận xét đánh giá khen chê, khuyên bảo của cộng đồng, DLXH tác động mạnh đến ý thức và hành vi của con người, nhất là đối với thế hệ trẻ. + Chức năng tư vấn hoặc lời khuyên: Trước những vấn đề lớn của đất nước, DLXH có thể đưa ra những lời khuyên sáng suốt.
Ngày nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành các cuộc thăm dò dư luận trước khi quyết định những vấn đề quan trọng. Sự ủng hộ hay phản đối của công chúng là yếu tố then chốt cho sự thành công hay thất bại của một chính sách nhất định. Các ý kiến phản ánh của DLXH giúp cho các cơ quan quản lý có được những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế, phù hợp với lợi ích của nhân dân. Như việc góp ý vào các dự thảo, trước khi ban hành các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Dư luận báo chí không chỉ bày tỏ sự khen, chê, mà còn đưa ra những giải pháp thiết thực. + Chức năng giải toả tâm lý: Sự bày tỏ ý kiến, nỗi bất bình của mỗi con người với cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc giải toả tâm lý. Vấn đề nghiên cứu ý kiến công chúng 1.1 Công chúng và ý kiến công chúng Trong Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Văn hoá-Thông tin, 1999) định nghĩa: “Công chúng là đông đảo người xem hoặc người chứng kiến việc gì, trong quan hệ với người diễn thuyết, tác giả, diễn viên. Như vậy, công chúng là số đông người, cùng quan tâm tiếp nhận thông tin từ một sự việc, sự kiện hay một đối tượng nào đó trong một khoảng không gian chung.
Chẳng hạn: công chúng của báo chí, công chúng của điện ảnh, công chúng của sân khấu. z Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Báo chí 13 Công chúng là khái niệm được đề cập nhiều trong các sách, báo và các công trình nghiên cứu khoa học về truyền thông. “Công chúng là quần thể cư dân mà cơ quan báo chí hướng vào để tác động (và trực tiếp hay gián tiếp chịu sự tác động của báo chí), nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình. Công chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động báo chí”.
Sản phẩm của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng được phát hành định kỳ, liên tục và rộng khắp cả về thời gian và không gian. Do đó, công chúng của báo chí cũng rộng lớn nếu không nói là đại đa số trong xã hội. Còn “ý kiến” cũng trong từ điển tiếng Việt giải thích “ý kiến: suy nghĩ và nhận định về một việc gì”. Công chúng được tập hợp từ những cá nhân trong xã hội, ý kiến công chúng chính là biểu thị thái độ, phán xét, đánh giá của một cộng đồng trước các sự việc, hiện tượng.
mà họ quan tâm. Về bản chất, ý kiến công chúng chính là dư luận xã hội (hay còn gọi là công luận). Tuy nhiên, theo nghĩa riêng thì ý kiến và dư luận có sự khác nhau. Dư luận biểu hiện ra thành lời, còn ý kiến không nhất thiết biểu hiện bằng lời mà ở dưới dạng chính kiến, quan điểm.
DLXH không phải ý kiến của một người, mà là ý kiến của số đông người, nó cũng không phải là tổng cộng các ý kiến phán xét đánh giá của các cá nhân, mà là sự phán xét, đánh giá chung của đại đa số trong cộng đồng. Ở nhiều trường hợp, ý kiến cá nhân trở thành DLXH rộng rãi khi nó thể hiện mối quan tâm chung, sự đánh giá chung của toàn xã hội về một vấn đề, hiện tượng nào đó. Ý kiến của con người thường phản ánh thái độ của họ đối với một vấn đề nào đó. Tuy nhiên có những trường hợp ý kiến và thái độ không đồng nhất, họ giấu giếm thái độ đích cực của mình, bộc lộ ý kiến trái ngược hẳn.
“ý kiến thường phức tạp và có thể phân biệt ở nó các biến số khác nhau. Các biến số thường xuyên nhất là khuynh hướng, cường độ, bề rộng, chiều sâu”. z Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Báo chí 14 Khuynh hướng thể hiện sự tán thành hay phản đối, cường độ là sức mạnh một ý kiến có được. Bề rộng thể hiện phạm vi phổ biến của ý kiến.