Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing online trong ngành văn hóa nghệ thuật sân khấu Chương 2: Giới thiệu về Nhà hát Kịch Hà Nội và thực trạng hoạt động marketing online của Nhà hát Kịch Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing online của Nhà hát Kịch Hà Nội PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MARKETING ONLINE TRONG NGANH VAN HOA NGHE THUAT SAN KHAU 1. Giới thiệu về thị trường ngành văn hóa nghệ thuật sân khấu 1. Tong quan về ngành văn hóa nghệ thuật sân khẩu Việt Nam Sân khẩu cỗ truyền Ngành sân khấu Việt Nam được hình thành từ thời nhà Đinh, khi nhà nước Đại Cô Việt ra đời sau 1000 năm Bắc thuộc với các thể loại như chèo, hát tuồng (hát bội), xâm, quan họ, hát chèo, hát tuồng, múa rối nước. và mới hơn như cải lương, kịch dân ca.
Đến thế kỷ XIX, khi Việt Nam bắt đầu tiếp cận với phương Tây, sân khấu cô truyền Việt Nam bắt đầu bị ảnh hưởng bởi các hình thức nghệ thuật mới như hài kịch, opera va ballet. Tuy nhiên, ngành sân khấu cổ truyền vẫn tồn tại và phát triển đến nay với nhiều loại hình biểu diễn như tuồng, chèo, cải lương, văn nghệ dân gian, múa rôi, nhạc cô và nhiêu thê loại khác. Sân khẩu đương đại Ngành sân khấu Việt Nam đương đại và hiện đại là một ngành nghệ thuật trẻ, mới chỉ có khoảng hơn 60 năm phát triển tính từ khi Việt Nam giải phóng thủ đô Hà Nội (1954). Trước đó, nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam chủ yếu là sân khấu cô truyén.
Theo phó giáo su - tiễn sĩ - nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái, các khái niệm về nghệ thuật đương đại, trong đó có sân khấu đương đại, du nhập vao nước ta không qua tài liệu, sách vở, mà bằng tác phẩm cụ thể và mang đậm dấu ấn phương Tây. Ngành sân khấu đương đại Việt Nam gồm nhiều thể loại khác nhau như: kịch truyền thống, kịch hiện đại, kịch tương tác, văn nghệ dân gian, kịch nói,. Đặc điểm doanh nghiệp kinh doanh trong ngành văn hóa nghệ thuật sân khẩu Phan lớn chưa tw chủ Theo lộ trình, đến năm 2020, hệ thong các đơn vi nghệ thuật công lập phải tự chủ hoàn toàn. Sau gần 5 năm thực hiện, đến thời điểm này có một số cái tên được nhắc đến là mang lại hiệu quả như Trung tâm Chiếu phim quốc gia, Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà hát Múa rỗi Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nha hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam.
Nhung con số ấy là quá nhỏ bởi hiện nay, cả nước có 115 đơn vị nghệ thuật công lập, trong đó có 12 đơn vi trực thuộc Bộ VH,TT&DL, 103 tổ chức nghệ thuật thuộc các Sở VH,TT&DL. Tính thời vụ Tính thời vụ trong kinh doanh sân khấu là một đặc thù quan trọng của ngành này. Các sản phâm sân khấu, thường được biéu diễn trong một thời gian giới han, và sau đó sẽ được thay thế băng các sản phẩm khác, sau đó lại quay vòng. Vào những dịp lễ Tết, lịch diễn của các đơn vị này thường dày đặc hơn, trong khi vào những thời điểm không cao điểm trong năm, ví dụ như sau Tết, hoạt động hầu như khá buồn tẻ và im ang.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong ngành sân khấu cũng cần phải tính toán thời gian để chuẩn bị cho mỗi sản phẩm sân khấu. Tính từ thời điểm khởi công vở cho đến thời điểm chính thức mở bán vé yêu cau thời gian đến vài tháng dựng vở, biên kịch, tập luyện. Điều này cũng góp phan tạo nên tính thời vụ của sản phẩm sân khấu nghệ thuật. Yêu cau dau tư tài chính lớn Kinh doanh sân khấu đòi hỏi vốn đầu tư lớn vì các sản phâm sân khấu thường yêu cầu các chi phí kỹ thuật, đạo cụ và trang thiết bị cao.
Các sản phẩm sân khấu cần sử dụng sân khấu biéu diễn, ánh sáng, âm thanh, trang phục, dựng bối cảnh sân khấu. Hơn nữa, các sản phẩm sân khấu thường phải được biên soạn kỹ lưỡng, bao gồm việc phải thuê đạo diễn, biên kịch, diễn viên và các nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp. Tuy nhiên, một số đơn vị nghệ thuật đang trên lộ trình tự chủ hiện nay không có sân khấu dé biéu diễn dẫn đến chi phí chi trả cho những khoản trên đội lên rất lớn, khiến lợi nhuận bị thu hẹp. Cân bằng giữa chất lượng nghệ thuật và tính đại chúng khi phát triển sản phẩm Vấn đề phát triển sản phẩm và bán vé cho khán giả mê sân khấu truyền thống thực sự đang gặp nhiều bề tắc.
Không ít lãnh đạo đơn vị nghệ thuật truyền thống băn khoăn về công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật truyền thống trong xây dựng kịch mục biểu diễn. Nếu chương trình biéu diễn thiên về hướng bảo ton, giữ nguyên vẹn những gì vốn có của truyền thống như các trích đoạn, vở diễn, làn điệu thì không dễ thu hút khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ. Còn nếu cải biên, biến hóa, chọn loc mà không khéo thì có thể vi phạm vào các nguyên tắc bảo tồn, thậm chí bị chê trách là thương mại hóa. Yêu cau năng lực quản lý rủi ro tốt Các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm nghệ thuật phải đối mặt với rủi ro kinh doanh cao, bởi vì việc đo lường thị hiếu gặp nhiều khó khăn.
Sản phẩm sân khấu có thé không được khán giả đón nhận hoặc không đủ thu hút dé đáp ứng các chi phí đầu tư ban đầu. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành sân khấu cần phải có năng lực quản lý rủi ro và tài chính mạnh đề đối phó với những khó khăn này. Xu hướng phát triển của ngành văn hóa nghệ thuật sân khẩu Dé có thé xác định xu hướng phát triển của sân khấu Việt Nam hiện nay, trước tiên, chúng ta cần nhìn nhận xu hướng phát triển của sân khấu Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam và thé giới. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, giải trí trở thành mục đích chính của con người khi thưởng thức nghệ thuật trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ truyền thông đã tạo điều kiện cho khán giả có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn hình thức giải trí. Đề tổn tại, nghệ thuật sân khấu Việt Nam buộc phải vươn lên, khang định mình bằng chất lượng nghệ thuật mang tầm khu vực và quốc tế. Năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, xuất phát từ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm từng bước xóa bỏ bao cap, tiên tới tự chủ tai chính đôi với các don vi sự nghiệp công lập, góp phân tạo sự công bằng, phát triển xã hội. Chúng ta không thể phủ nhận, tw chú tài chính là xu thé tat yếu đối với các đơn vị nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay.
Chỉ có cơ chế tự chủ tài chính, tiến tới tư nhân hóa mới có thê giải quyết tốt các van dé của các đơn vị nghệ thuật sân khấu, đảm bảo sự môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng. Về nghệ thuật: Trong khoảng 50 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung đã xuất hiện một trào lưu mới” - rào lưu nghệ thuật đương đại. Đến nay, trào lưu đương đại đã trở nên phố biến trong sáng tạo nghệ thuật ở hầu hết các nước trên thế giới. Các liên hoan sân khấu thử nghiệm quốc tế đã tạo cơ hội cho nghệ sĩ Việt Nam giao lưu, tiếp xúc với nghệ sĩ trong khu vực, thế giới và tiếp cận sân khấu đương đại, từ đó năm bắt được tinh thần của nghệ thuật đương đại và sáng tạo phù hợp.
Nhiều tác phẩm sân khấu của các nước tham dự và của nghệ sĩ Việt Nam đã minh chứng một điều, rào lưu sân khẩu đương đại đang hình thành, phát triển tại Việt Nam, chiếm được cam tình của khán giá, đặc biệt là lóp khán giá trẻ. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành văn hóa nghệ thuật sân khấu Có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nghệ thuật sân khấu: Thứ nhất, yếu tố nghệ sĩ: Bước sang giai đoạn mới, gắn liền với hiện thực mới của đất nước và thế giới, nhưng nhiều nghệ sĩ vẫn mang trong mình quan niệm thâm mỹ cũ, hình thức cũ, không thé hiện được tinh thần của thời đại. Điều này dẫn đến hệ quả: sân khâu ngày càng xa rời cuộc sông và đánh mât khán giả. Thứ hai, yếu tổ nhà quan lý: Hiện nay, sân khẩu Việt Nam, ngoại trừ các đoàn tư nhân, còn lại cơ bản vẫn tồn tại mô hình quan hệ sản xuất từ thời kỳ bao cấp.
Điều này thể hiện ở ba mặt: chế độ sở hữu (sở hữu xã hội - các đoàn, nhà hát là các đơn vi sự nghiệp cua Nhà nước), chế độ quản lý (kế hoạch, bao cấp - Nhà nước cấp tiền dựng vở, duyệt phương hướng, kế hoạch, biên chế, tăng lương.), chế độ phân phối (theo lao động - tất cả đều bình đắng như nhau và các nghệ sĩ đều là viên chức làm công ăn lương). Cách thức quản lí hành chính này đã không kích thích được sự phát triên của mỗi cá nhân, mỗi đơn vi nghệ thuật, ở nhiêu nơi tạo nên sự dựa dam, y lại. Thứ ba, yếu tố khán giả: Bước sang cơ chế thị trường, khán giả sân khấu bị phân hóa sâu sắc về vùng miền, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, thời gian rỗi.; đồng thời nhiều khán giả trẻ ngày càng thờ ơ, quay lưng với nghệ thuật sân khấu. Thứ tư, yếu tố hệ thống chính sách: Mức lương và các chế độ phụ cấp cho việc luyện tập và biểu diễn tuy đã được nâng lên, nhưng van còn thấp kém.
Mức lương thấp đi kèm với chế độ cào bằng, biểu diễn thì vắng khán giả, doanh thu ít đã làm cho đời sống của người nghệ sĩ gặp rất nhiều khó khăn., không thé toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp nghệ thuật. Đặc thù hoạt động marketing trong ngành văn hóa nghệ thuật sân khấu 1. Cân bằng giữa nhu cầu của công chúng với chất lượng nghệ thuật Marketing nghệ thuật đã từng là một chủ đề nhạy cảm, một từ mà các nhà quản lý miễn cưỡng phải dùng, vì tin rằng nó ám chỉ “sự bán rẻ” các nguyên tắc nghệ thuật nhằm thiên về tìm ra một mẫu số chung tầm thường nhất đề thương lượng với công chúng. Một số ý kiến tranh luận rằng marketing nghệ thuật cần được áp dụng một cách sáng tạo chứ không phải áp dụng rập khuôn nguyên lý marketing chung, vì sản phẩm nghệ thuật có những đặc thù của nó.