CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING 1. Tổng quan về truyền thông Marketing 1. Khái niệm Theo Philip Kotler, truyền thông marketing (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp [4]. Truyền thông marketing có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở đối tượng nhận tin về sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp.
Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của doanh nghiệp, của sản phẩm trên thị trường, thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh, và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu. Truyền thông marketing còn được gọi bằng thuật ngữ tương đương là xúc tiến (marketing promotion), là một trong 4 thành tố của marketing mix. Khái niệm truyền thông marketing (Marketing Communication) được hiểu là một phần không thể thiếu trong mọi sự cố gắng của doanh nghiệp khi truyền thông sản phẩm/dịch vụ tới khách hàng của mình. Hay hiểu đơn giản hơn, Truyền thông trong marketing là tổng hợp các hoạt động xây dựng và triển khai quảng bá các thông điệp marketing, các hình thức marketing và toàn bộ các hoạt động liên quan để có thể tiếp cận tốt nhất tới phân khúc thị trường doanh nghiệp đang hướng đến.
Vai trò Truyền thông marketing là một thành tố quan trọng có vai trò hỗ trợ đắc lực cho các chiến lược marketing mix khác. Tạo nên sự khác biệt với các tổ chức khác, giúp thông báo đến các khách hàng tìm năng nhận biết về sự tồn tại của sản phẩm, về những đặc tính của nó. Giúp khách hàng hiều về những khía cạnh độc đáo của sản phẩm hoặc là những tính năng vượt Luan van 7 trội so với đối thủ cạnh tranh [1]. Các chiến lược và chiến thuật marketing khác được xây dựng hoàn hảo sẽ giúp cho việc giảm bớt hoạt động truyền thông.
Tuy nhiên, có rất ít các dịch vụ, chủ yếu là các dịch vụ được cung cấp trong môi trường cạnh tranh lại có thể bỏ qua được vai trò của truyền thông marketing. Hơn nữa, ngày nay chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn, cho nên quan điểm “hữu xạ tự nhiên hương” không còn phù hợp nữa [4]. Thông qua chiến lược truyền thông marketing, doanh nghiệp thông tin cho khách hàng tiềm năng biết được những lợi thế, công dụng, giá trị, lợi ích của sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng. Do vậy, chiến lược truyền thông marketing giúp doanh nghiệp tăng doanh số của các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhận biết và ưa thích của khách hàng đối với sản phẩm mới, và xây dựng một hình ảnh tốt đẹp về doanh nghiệp.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải kết hợp chiến lược truyền thông với các thành tố khác của marketing hỗn hợp để tạo ra hiệu quả tổng hợp. Truyền thông cũng giúp cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu. Đặc biệt, trong các trường hợp như cầu âm, cầu bằng không, hay cầu đối với những hàng hóa độc hại như thuốc lá, rượu bia, ma túy…thì vai trò của truyền thông marketing đặc biệt quan trọng. Ví dụ: Mặc dù đội mũ bào hiểm khi đi xe máy, hay bảo vệ môi trường sống khỏi ô nhiễm thực sự cần thiết cho cuộc sống con người, nhưng Nhà nước phải chi rất nhiều tiền cho các chương trình truyền thông marketing rộng rãi nhằm làm cho người dân hiểu và thực hiện tự giác.
Mô hình truyền thông Marketing 1. Mô hình Quá trình truyền thông marketing tuy rất đa dạng, tuy nhiên có những đặc điểm chung. Để khái quát hoá quá trình truyền thông Marketing, chúng ta sẽ tìm hiểu mô hình truyền thông 1. Luan van 8 4 2 3 1 Truyền đạt 6 7 Thông Mã thông điệp Người điệp hoá Giải mã Người gửi chủ thông thông điệp nhận định điệp Phương tiện truyền tin 5 Người nhận thông điệp Thông điệp 9 Nhiễu 8 Thông tin phản hồi Phản ứng đáp lại 10 Hình 1.
Quá trình truyền thông (Nguồn [4]) Giải thích các yếu tố trong mô hình: - Người gửi: là chủ thể của quá trình truyền thông marketing. Đó là doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông marketing hướng tới khách hàng. - Thông điệp chủ định: Thông điệp chủ định là thông điệp nhằm mục đích tác động vào khách hàng mục tiêu để mong nhận được điều gì đó ở khách hàng theo chủ định của người gửi tin. - Mã hoá thông điệp: Là việc dùng các ngôn ngữ truyền thông để chuyển các ý tưởng truyền thông thành các hình thức có tính biểu tượng sao cho thuận tiện cho người nhận tin lĩnh hội được ý tưởng đó.
Ví dụ: Để quảng cáo dầu ăn Neptuyn, người gửi muốn cho khách hàng tiền năng thấy lợi ích của dầu ăn này là mang lại không khí ấm cúng gia đình. Muốn vậy, Luan van 9 người ta đưa ra hình ảnh cả gia đình ngồi cùng ăn cơm vui vẻ với các món ăn ngon được chế biến nhở dầu ăn Neptuyn. Khi muốn diễn tả hình ảnh sắc nét như thật của tivi LG, thay vì diễn tả bằng lời nói, người ta diễn tả bằng hình ảnh một chú nai đang uống nước, in hình dưới nước, trông như thật làm cho các chú cọp tưởng thật và nhảy vồ vào cái bóng chú nai. - Truyền đạt thông điệp: Tập hợp những ký hiệu bằng một thông điệp do người gửi truyền đi qua nhiều phương tiện.
- Phương tiện truyền tin: Thông điệp có thể truyền đi đến người nhận bằng các phương tiện như: truyền hình, truyền thanh, báo chí, Internet… - Giải mã: Là quá trình người nhận thông tin xử lý thông điệp truyền thông marketing đã được mã hóa của chủ thể truyền tin để hiểu ý tưởng cuả chủ thể muốn truyền đạt. Để đảm bảo thông điệp có hiệu quả, quá trình mã hóa của người gửi phải tương thích với quá trình giải mã của người nhận. Do vậy, thông điệp về cơ bản phải phải là những tín hiệu quen thuộc đối với người nhận. Ví dụ, khi nhận được một bông hoa hồng tươi thắm từ tay người bạn trai nhân ngày sinh nhật của mình, người con gái sẽ tìm hiểu xem đằng sau bông hồng này là thông điệp gì mà người bạn trai muốn truyền đạt? - Người nhận tin: Là khách hàng mục tiêu mà chủ thể truyền tin (doanh nghiệp, tổ chức) đang muốn thuyết phục.
- Phản ứng đáp lại: Là những phản ứng của người nhận tin sau khi lĩnh hội thông điệp. Người truyền tin cần nắm bắt được phản ứng của người nhận tin để điều chỉnh chiến lược, chiến thuật truyền thông. - Thông tin phản hồi: Thông điệp từ người nhận tác động trở lại người gửi tin. Qua thông tin phản hồi, người gửi tin biết được hiệu quả của chương trình truyền thông.
- Nhiễu: là các tác động đến thông điệp làm cho nó được hiểu sai lệch so với trạng thái ban đầu. Nhiễu có thể là do môi trường vật lý gây ra (tiếng ồn), có thể là Luan van 10 do người gửi tin không hiểu được quan điểm, nền tảng văn hoá của người nhận tin. Khi giao tiếp với những người không cùng nền văn hóa, không cùng nghề nghiệp, không cùng giai tầng xã hội…, người truyền tin cần thận trọng khi sử dụng các ngôn từ (cả ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ không lời) cũng như cách diễn đạt để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Mô hình này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong quá trình truyền thông marketing.
Chủ thể gửi thông tin cần xác định rõ người nhận thông điệp (công chúng mục tiêu) nào? Đặc điểm của công chúng mục tiêu? Mong muốn họ phản ứng lại như thế nào? Công chúng mục tiêu có giải mã thông điệp như mong muốn của người truyền tin không? Làm thế nào để công chúng mục tiêu quan tâm chú ý và tiếp nhận thông điệp? Làm thế nào để nhận được thông tin phản hồi từ công chúng mục tiêu?. Tìm hiểu mô hình này cho chúng ta định hướng đúng đắn trong quá trình truyền tin. Đó là xác định rõ đối tượng nhận tin, xác định các phản ứng của người nhận tin, xác định thông điệp gửi đi, lựa chọn kênh truyền tin, thu nhận thông tin phản hồi. Đây chính là các quyết định trong truyền thông marketing.
Mối liên hệ giữa đặc điểm của công chúng và việc tiếp nhận thông tin.[1] Đặc điểm của công chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bị thuyết phục của họ khi tiếp nhận thông tin marketing - Những người có học vấn/ hay có tri thức cao thường khó bị thuyết phục. - Phụ nữ dễ bị thuyết phục hơn đàn ông. Tuy nhiên, phụ nữ theo văn hóa truyền thống dễ bị thuyết phục hơn so vớ phụ nữ hiện đại. - Những người theo chuẩn mực đám đông dễ bị thuyết phục hơn những người có quan điểm độc lập.
Người Việt Nam hay hành động theo đám đông trong mua sắm. - Những người thiếu tự tin dễ bị thuyết phục hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông Marketing.[3] Môi trường vĩ mô 1. Môi trường khoa học công nghệ Khoa học công nghệ cũng tác động rất lớn đến sức mua của các doanh nghiệp đối với các thị trường.
Sức mua phụ thuộc vào giá cả, doanh thu, lợi nhuận, khả năng vay nợ… Sự suy thoái kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp cao, lãi suất vay tín dụng tăng đều ảnh hưởng đến sức mua của doanh nghiệp. Môi trường chính trị - pháp luật Những sự kiện trong môi trường chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những quyết định truyền thông marketing. Môi trường gồm các điều luật, các cơ quan Nhà nước, các nhóm xã hội có uy tín ảnh hưởng đến các tổ chức kinh doanh, hạn chế họ trong khuôn khổ điều luật. Luật pháp điều tiết hoạt động kinh doanh, nó có thể khuyến khích hay hạn chế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua: Sự ổn định chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp.
Chính sách thuế: thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập, hoàn thuế giá trị gia tăng… sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của doanh nghiệp. Các luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật sở hữu trí tuệ, luật lao động … Chính sách: Các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế… 1. Môi trường văn hóa - xã hội Nhân khẩu học là môn khoa học nghiên cứu dân cư theo quan điểm đặc điểm dân số và mật độ… Người làm marketing rất quan tâm tới yếu tố nhân khẩu học, bởi vì thị trường là do con người hợp lại mà thành.