Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược phát triển của tổ chức Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3. Phân tích các căn cứ hình thành chiến lược phát triển của Báo Đầu tư Chương 4.
Đề xuất và lựa chọn chiến lược phát triển của Báo Đầu tư đến năm 2025 3 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, tổ chức luôn được quyết định phần lớn bởi chiến lược phát triển va điều này đã trở thành chủ đề tìm hiểu, phân tích của nhiều nhà nghiên cứu. Có một số lượng đáng kể giáo trình, tài liệu làm rõ về chiến lược, giúp người đọc nói chung và các nhà quản lý doanh nghiệp nói riêng nắm vững được nội dung, cách thức xây dựng cũng như lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp.
Ví dụ: Chiến lược cạnh tranh của Michaek E.Porter, Nhà xuất bản trẻ; Chiến lược Đại dương Xanh của W. Chan Kim - Renée Mauborgne, NXB Lao động - Xã hội; Xây dựng bộ máy lãnh đạo để trường tồn của Noel M.Tichy - Eli Cohen, NXB Lao động - Xã hội; Quản trị chiến lược của Hoàng Văn Hải, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Quản trị chiến lược (2011) thuộc Bộ môn Quản trị doanh nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân… Những công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo hữu ích cho người đọc về cơ sở lý luận cũng như phương pháp nghiên cứu về đề tài liên quan đến xây dựng chiến lược phát triển cho doanh nghiệp, tổ chức. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy chưa có tài liệu nào nghiên cứu về chiến lược phát triển của Báo Đầu tư, do đó tác giả nhận thấy lựa chọn đề tài “Xây dựng Chiến lược phát triển của Báo Đầu tư đến năm 2025” là sự lựa chọn đúng đắn. Cơ sở lý luận về chiến lƣợc phát triển 1.
Khái niệm chiến lược và chiến lược phát triển Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của vị 4 z tướng trong quân đội. Ngày nay, thuật ngữ này đã lan toả và du nhập vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội. Sự giao thoa về ngôn ngữ giữa thuật ngữ chiến lược với các khái niệm và phạm trù của các lĩnh vực này đã tạo ra những cái mới trong ngôn ngữ khoa học của các lĩnh vự đó, chúng ta có thể gặp ở mọi nơi các khái niệm: Chiến lược kinh tế xã hội, Chiến lược ngoại giao, Chiến lược dân số, Chiến lược khoa học công nghệ… Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế chúng ta có thể gặp rất nhiều khái niệm cũng được hình thành từ sự kết hợp trên.
Ở phạm vi vĩ mô có thể gặp các khái niệm: Chiến lược phát triển ngành, Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, ở phạm vi vi mô thuật ngữ chiến lược cũng có sự kết hợp với các khái niệm, phạm trù quản lý doanh nghiệp hình thành các thuật ngữ Chiến lược marketing, Chiến lược kinh doanh. Sự xuất hiện các thuật ngữ nói trên không chỉ đơn thuần là vay mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách quan của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Tùy cách tiếp cận khác nhau về chiến lược mà các quan niệm về chiến lược được đưa ra cũng khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung, thống nhất về phạm trù này. Do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, sự khác nhau giữa các định nghĩa thường là do quan điểm của mỗi tác giả.
Năm 1962, Alfred Chandler - một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược đã định nghĩa: “Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của một tổ chức và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. Quinn đã đưa ra định nghĩ có tính khái quát hơn. Chiến lược là mô thức hay kế hoạch nhằm kết hợp những mục tiêu chính, chính sách và trình tự hành động của một tổ chức sao cho hòa hợp nhất. Một chiến lược đúng đắn sẽ giúp sắp xếp và phân phối nguồn lực của tổ 5 z chức sao cho thống nhất và hiệu quả dựa trên những tiềm năng và thiếu sót, dự đoán được những thay đổi của môi trường và dự đoán được những hành động của đối thủ.
Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng khái niệm chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính… nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Trong cuốn “The Concept of Corporate Strategy”, Kenneth Andrews định nghĩa, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bổi cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo Hoàng Văn Hải (2010), chiến lược phát triển là chuỗi các quyết định nhằm định hướng tương lai của doanh nghiệp và tạo ra sự thay đổi về chất bên trong doanh nghiệp.
Theo cách tiếp cận này, thuật ngữ chiến lược phát triển được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Ngày nay, hệ thống chiến lược đang được nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lược phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lược phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lược của tổ chức, doanh nghiệp.
Giữa các chiến lược đó có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau. Đặc điểm của chiến lược Các chiến lược tổng thể của doanh nghiệp xác định các mục tiêu và phương hướng hoạt động trong thời kỳ tương đối dài (5, 10 năm.) và được quán triệt một cách đầy đủ trong tất cả các hoạt động của tổ chức nhằm đảm bảo cho tổ chức phát triển bền vững. Chiến lược chỉ phác thảo các phương hướng dài hạn, có tính định hướng, còn trong thực hành phải thực hiện việc kết hợp giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế, kết hợp giữa chiến lược và chiến thuật, giữa ngắn hạn và dài hạn. Từ đó mới đảm bảo được hiệu quả hoạt động và khắc phục được các sai lệch do chiến lược gây ra.
Chiến lược luôn được xây dựng dựa trên cơ sở các lợi thế so sánh. Điều này đòi hỏi trong quá trình xây dựng chiến lược, tổ chức phải đánh giá đúng thực trạng của mình để tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu. Vai trò của chiến lược Chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ những cơ hội và đe dọa trong các hoạt động, từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Chiến lược giúp các nhà quản trị dự báo được một số bất trắc, rủi ro sẽ xảy ra trong hiện tại cũng như trong tương lai, từ đó dựa trên tiềm lực của tổ chức để chủ động đối phó với những tình huống bất trắc này.
Chiến lược phối hợp các bộ phận trong tổ chức một cách tốt nhất; giúp các thành viên phát huy được tính năng động, sáng tạo để đạt được mục tiêu chung. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Chiến lược được chia thành 3 loại chính: (i). Chiến lược doanh nghiệp là chiến lược của cả tập đoàn hay doanh nghiệp nhằm định hướng hoạt động của doanh nghiệp và cách thức phân bổ nguồn lực để đạt mục tiêu chung. Chiến lược cấp doanh nghiệp là một lời công bố về mục tiêu dài hạn, các định hướng phát triển của tổ chức.
Chiến lược phát triển là chiến lược nhằm thực hiện một lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh cụ thể; là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể chỉ có những doanh nghiệp liên tục nâng cấp các lợi thế cạnh tranh của mình theo thời gian mới có khả năng đạt được những thành công lâu dài với chiến lược cấp đơn vị kinh doanh. Chiến lược chức năng là chiến lược thực hiện các chức năng hoạt động của doanh nghiệp như chiến lược nhân sự, chiến lược marketing. Đây là những chiến lược liên quan đến các hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ cho chiến lược phát triển cấp doanh nghiệp và cấp đơn vị kinh doanh chiến lược. Chiến lược chức năng là một lời công bố chi tiết về các mục tiêu và phương thức hành động ngắn hạn được các lĩnh vực chức năng sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn của tổ chức.
Chiến lược chức năng giải quyết hai vấn đề có liên quan đến lĩnh vực chức năng: Thứ nhất, là đáp ứng của lĩnh vực chức năng đối với môi trường tác nghiệp; Thứ hai, là việc phối hợp với các chính sách chức năng khác nhau. Các loại chiến lược phát triển 1. Phân loại theo phạm vi Căn cứ vào phạm vi, chiến lược kinh doanh có thể chia thành hai loại: Các chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát: Các chiến lược này nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa dài hạn, quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp; Chiến lược bộ phận: Đây là chiến lược cấp hai, gồm chiến lược sản phẩm,chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược yểm trợ khách hàng. Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành hệ thống chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.