Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay" của tác giả Bùi Thị Minh Hải là luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học (mã số 9 32 01 01), được thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Mai Quỳnh Nam và PGS,TS. Đỗ Thị Thu Hằng.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ hôn nhân có yếu tố nước ngoài (HNCYTNN) là một hiện tượng xã hội diễn ra ngày càng gia tăng trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt tại khu vực châu Á (tỷ lệ so với tổng số lượng hôn nhân: Singapore tăng khoảng 30%, Đài Loan 18%, Hàn Quốc 11%, Nhật Bản 5-6%, Philippines 2%). Tại Việt Nam, cả nước đã ghi nhận hơn 100.000 công dân kết hôn với người nước ngoài, trung bình mỗi năm có hơn 18.000 trường hợp, trong đó khu vực phía Nam có khoảng 13.800 người (chiếm 76%). Hôn nhân quốc tế không thuần túy là sự kết hợp giới tính mà liên quan trực tiếp đến quan hệ đối ngoại, quản lý nhà nước và hình ảnh quốc gia. Báo mạng điện tử (BMĐT) với đặc trưng đa phương tiện và khả năng lan tỏa nhanh đã trở thành kênh thông tin chủ đạo phản ánh đề tài này. Về mặt lý luận, thông điệp (message) giữ vị trí trung tâm trong chu trình truyền thông. Việc khảo sát thông điệp trên báo chí giúp nhận diện mối quan hệ biện chứng giữa thông điệp và thực tế sản sinh ra nó, đồng thời bộc lộ ý đồ và mục đích của cơ quan báo chí. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở chỗ: mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về hôn nhân quốc tế dưới góc độ luật học, xã hội học hoặc nghiên cứu nghiệp vụ báo mạng điện tử nói chung, nhưng chưa có công trình nào đánh giá một cách hệ thống, đa chiều về nội dung, hình thức và phương thức truyền gửi thông điệp HNCYTNN trên báo mạng điện tử tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, phân tích và nhận diện thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử.
  2. Khảo sát và phân tích thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên các báo mạng điện tử: VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Baophapluat.vn, Tuoitre.vn, Giadinh.net.vn.
  3. Nhận định các vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay.

Giả thuyết nghiên cứu của luận án bao gồm hai nội dung chính:

  • Giả thuyết 1: Thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay chứa đựng khuôn mẫu hôn nhân mang tính thương mại hóa và bi kịch hóa; thông điệp phản ánh theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn tích cực, thiếu khách quan, nặng về phê phán; các tác phẩm báo chí có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến truyền thông về biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả hơn là những tác nhân gây ra những bất cập, hệ lụy trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Chủ đề phản ánh tập trung chủ yếu khắc họa chân dung người phụ nữ Việt lấy chồng nước ngoài mặt xấu nhiều hơn mặt tốt.
  • Giả thuyết 2: Thông điệp truyền thông về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử trong tương lai cần có kế hoạch, chiến lược đổi mới tăng cường tính khách quan, nhất quán trong định hướng thông điệp đích một cách hệ thống; tác phẩm báo chí cần phân tích lý giải vấn đề có chiều sâu trong môi trường và bối cảnh xã hội rộng thay vì phê phán và định kiến; cần bồi đắp và phát huy các giá trị xã hội, văn hóa dân tộc thay vì hạ thấp các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc và hình ảnh người phụ nữ Việt. Đồng thời cần chú ý đến việc xây dựng hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam trong thời đại công nghệ số và toàn cầu hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay.
  • Không gian nghiên cứu: Khảo cứu các tác phẩm báo chí trên 05 cơ quan báo mạng điện tử gồm: Báo điện tử VnExpress (Vnexpress.net), Báo điện tử VietNamNet (Vietnamnet.vn), Báo điện tử Pháp luật Việt Nam (Baophapluat.vn), Báo Tuổi Trẻ Online (Tuoitre.vn) và Báo điện tử Gia đình và Xã hội (Giadinh.net.vn).
  • Thời gian khảo sát: Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 (cụ thể từ ngày 01/01/2010 đến ngày 30/06/2015).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu trong luận án được cấu trúc theo ba hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về báo mạng điện tử và thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử:

  • Trên thế giới, các tác giả tập trung vào kỹ thuật, nghiệp vụ và đạo đức báo chí trực tuyến. Điển hình là Mike Ward với "Journalism Online" (nghiên cứu về quy trình sản xuất tin trực tuyến, HTML, thiết kế web và áp dụng kỹ năng đa phương tiện); Alfred Lawrence Lorenz và John Vivian với "Làm báo và viết báo" (Vũ Thu Hồng dịch, tổng kết phương pháp viết bài, đạo đức, thu thập tài liệu và ứng dụng công nghệ); Murray Dick (2013) với "Search: Theory and Practice in Journalism Online" (lý thuyết và thực hành tìm kiếm trên môi trường số); Randy Reddick và Elliot King với "The Online Journalist: Using the Internet and other electronic resources" (nghiên cứu việc khai thác tài nguyên mạng và đạo đức của phóng viên trực tuyến).
  • Tại Việt Nam, hệ thống lý luận nền tảng về báo chí được khẳng định qua giáo trình của các học giả: Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Dững, Hà Minh Đức, Đinh Văn Hường, Dương Xuân Sơn, Trần Quang, Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Hà. Về thể loại và sáng tạo tác phẩm có Đức Dũng, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Thành Lợi, Phạm Minh Sơn, Hà Huy Phượng; về ngôn ngữ báo chí có Vũ Quang Hào, Nguyễn Trọng Báu, Hoàng Anh. Đặc biệt, nghiên cứu chuyên sâu về báo mạng điện tử có hệ thống công trình của Nguyễn Thị Trường Giang: "Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản" (2011), "Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử" (2014), "Báo mạng điện tử: Đặc trưng và phương pháp sáng tạo" (2014), "Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử" (2014), "Giáo trình Lý thuyết và kỹ năng báo mạng điện tử" (2016). Ngoài ra còn có các đề tài của Hoàng Công Trí (cấu trúc nhiều cửa trên VnExpress), Phạm Thị Hằng (chất lượng thông tin), Đào Bích Ngọc (giao diện), Hoàng Minh Hạnh (đạo đức báo chí), Trần Hồng Vân (xử lý thông tin tòa soạn), Lê Thanh Huyền (tính cập nhật).

Hướng nghiên cứu về phân tích thông điệp báo chí - truyền thông:

  • Lịch sử phân tích nội dung được tác giả truy nguyên từ Karl Marx (năm 1871, khi phân tích báo chí về Công xã Paris), Max Weber (1910, xem phân tích truyền thông là hàn thử biểu văn hóa), Harold Lasswell (1927, với "Propaganda Technique in the World War" và mô hình 5W). Bernard Berelson (1952) xuất bản cuốn sách "Content analysis in communication research", chuẩn hóa kỹ thuật mô tả định lượng nội dung. Harold Lasswell, Daniel Lerner và Ithiel de Sola Pool (1952) công bố "The Comparative Study of Symbols: An Introduction". Arthur Asa Berger (1991) xuất bản "Media research techniques". Kimberly Neuendorf xác lập phân tích thông điệp là phương pháp luận lấy thông điệp làm trọng tâm. Chris Newbold (2002) trong "The media book" nhấn mạnh phân tích định tính về mặt ý nghĩa văn cảnh. Pamela J. Shoemaker và Stephen D. Reese (1996) với "Mediating the Message - Theories of Influences on Mass Media Content" ủng hộ việc kết hợp định lượng và định tính. W. Lawrence Neuman (1997) trong "Social research methods: qualitative and quantitative approaches" khẳng định giá trị việc giải mã văn bản. Danielle R. Stromberg phân tích thông điệp thảm họa sóng thần Nhật Bản 2011 trên The New York Times và Yomiuri Shimbun. Christoph Spurk và Jan Lublinski (2014) công bố nghiên cứu "Content analysis: Measuring the success of journalism capacity building".
  • Tại Việt Nam, tác giả Mai Quỳnh Nam khẳng định nghiên cứu thông điệp cho thấy các hiện tượng, sự kiện xã hội và mối quan hệ giữa thông điệp với hiện thực ngoài thông điệp; Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng phân tích mối quan hệ giữa thông tin và thông điệp báo chí.

Hướng nghiên cứu về hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Luận án điểm lại các văn bản pháp lý và công trình xã hội học nghiên cứu thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài (Đài Loan, Hàn Quốc...), các vấn đề liên quan đến di cư hôn nhân, quyền trẻ em, phòng chống buôn bán người và bảo hộ công dân.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận báo mạng điện tử ở góc độ lý thuyết chung, kỹ năng làm báo, giao diện kỹ thuật hoặc tiếp cận đề tài hôn nhân quốc tế dưới góc độ xã hội học, pháp luật thuần túy. Chưa có công trình nào sử dụng phương pháp phân tích nội dung hỗn hợp để giải mã toàn diện thông điệp báo mạng điện tử về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nhằm chỉ rõ khuôn mẫu thông điệp, cấu trúc thông tin, mức độ thiên kiến và tác động của lăng kính truyền thông đối với nhận thức xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân, gia đình.

Hệ thống lý thuyết tiếp cận liên ngành được tác giả vận dụng gồm:

  • Lý thuyết truyền thông: Sử dụng mô hình truyền thông một chiều của Harold D. Lasswell ("Who says What in Which Channel to Whom with What Effect") để xem xét sức mạnh truyền tải thông điệp; mô hình truyền thông Claude Shannon với sơ đồ tương tác S - M - C - R - E - F (Nguồn phát S là báo mạng điện tử; kênh truyền C là các trang báo mạng; thông điệp M; người nhận R là công chúng; hiệu quả E; phản hồi F trở lại nguồn phát); Lý thuyết Đóng khung (Framing theory) của Erving Goffman và Gamson William nhằm phân tích cách thức cơ quan báo chí lựa chọn, nhấn mạnh hoặc loại bỏ chi tiết để định hình nhận thức của độc giả; Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda setting) của Maxwell McCombs và Donald Shaw (1972) để lý giải cơ chế cơ quan báo chí định hướng sự quan tâm của công chúng theo tôn chỉ, mục đích và định hướng chính sách.
  • Lý thuyết báo chí học: Xem xét tác phẩm báo chí như một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa nội dung (chủ đề, chi tiết, quan điểm tác giả) và hình thức (kết cấu, ngôn ngữ, thể loại: thông tấn, chính luận, ký báo chí); vận dụng lý thuyết ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Thị Thoa, Vũ Quang Hào và tâm lý học báo chí của Đỗ Thị Thu Hằng để giải thích hành vi sáng tạo của nhà báo cũng như cơ chế tiếp nhận tâm lý của công chúng.
  • Lý thuyết xã hội học báo chí: Xem truyền thông đại chúng và hôn nhân gia đình là hai định chế xã hội (trong đó HNCYTNN thuộc định chế thân tộc) vận động trong mối quan hệ biện chứng; vận dụng quan điểm của Max Weber và Mai Quỳnh Nam nhằm phân tích nội dung thông điệp như một công cụ giám sát và phản ánh bản chất các quá trình xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích nội dung định lượng: Xây dựng bảng mã hóa nội dung thông điệp về HNCYTNN trên 05 tờ báo mạng điện tử để thống kê số lượng, quy mô, tần suất xuất hiện các biến số về nội dung, hình thức và cách thức truyền tải. Dữ liệu mã hóa được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS và NVivo.
  • Phương pháp phân tích nội dung định tính: Phân tích tài liệu lý luận, văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước; phân tích văn bản tác phẩm báo chí nhằm tìm kiếm các tầng nghĩa sâu, ý đồ của nhà truyền thông, cách diễn giải ngôn từ và tính khách quan của thông điệp.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Luận án thiết kế ba nhóm đối tượng phỏng vấn:
    • Nhóm 1: Các nhà báo làm công tác quản lý tại các cơ quan báo chí trong diện khảo sát (05 người).
    • Nhóm 2: Phóng viên, biên tập viên trực tiếp viết về đề tài HNCYTNN thuộc 05 tờ báo khảo sát, mỗi cơ quan 02 người (tổng số 10 người).
    • Nhóm 3: Cán bộ quản lý về hôn nhân nước ngoài tại Bộ Tư pháp (02 người) và chuyên gia nghiên cứu về hôn nhân gia đình (02 người).

Nguồn tư liệu và quy trình chọn mẫu:

  • Tiêu chí chọn báo: Gồm 02 báo điện tử thuần túy (VnExpress.net, Vietnamnet.vn) và 03 báo điện tử có ấn bản báo in (Baophapluat.vn, Tuoitre.vn, Giadinh.net.vn); bao gồm cả báo thông thường và báo có tính chất chuyên ngành liên quan (pháp luật, gia đình).
  • Phương pháp thu thập: Kết hợp công cụ tìm kiếm Google Advanced Search và tìm kiếm trực tiếp trên từng chuyên mục của 05 báo theo trình tự ngày, tháng, năm. Luận án phân loại tin bài thành 2 nhóm: nhóm đề cập trực tiếp (có từ khóa "HNCYTNN", kết hôn với người nước ngoài, cô dâu Việt, rể Tây...) và nhóm đề cập gián tiếp (phụ nữ bị lừa bán làm vợ người nước ngoài, môi giới xem mặt, phổ biến chính sách pháp luật về hôn nhân quốc tế...). Khung thời gian thu thập từ 01/01/2010 đến 30/06/2015, thu được tổng số 300 sản phẩm thông điệp hợp lệ.

Bảng tổng hợp mẫu phân tích nội dung thông điệp:

STT Báo mạng điện tử Địa chỉ tên miền Sản phẩm thông điệp Tỷ lệ (%)
1 Báo điện tử VietNamNet http://vietnamnet.vn 48 16,00
2 Báo điện tử VnExpress http://vnexpress.net 69 23,00
3 Báo điện tử Pháp luật Việt Nam http://baophapluat.vn 49 16,33
4 Báo Tuổi Trẻ Online http://tuoitre.vn 34 11,33
5 Báo điện tử Gia đình và Xã hội http://giadinh.vn 100 33,33
Tổng 05 cơ quan báo chí 300 100,00

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung: báo mạng điện tử và thông điệp truyền thông; phương pháp phân tích thông điệp báo chí - truyền thông; các nghiên cứu về thực trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã sớm xác lập quy chuẩn kỹ thuật phân tích nội dung (từ Harold Lasswell, Bernard Berelson đến Kimberly Neuendorf, W. Lawrence Neuman), đồng thời khẳng định phân tích nội dung là công cụ then chốt để giải mã thông điệp báo chí. Tại Việt Nam, lý thuyết báo mạng điện tử đã được nghiên cứu bài bản qua các công trình của Nguyễn Thị Trường Giang, lý thuyết thông điệp gắn liền với các công trình của Mai Quỳnh Nam, Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng. Tuy nhiên, mảng nghiên cứu giao thoa áp dụng phương pháp phân tích thông điệp thực nghiệm đối với đề tài HNCYTNN trên báo mạng điện tử vẫn là một khoảng trống học thuật cần được bổ khuyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: "thông điệp", "thông điệp báo chí", "báo mạng điện tử", "thông điệp báo mạng điện tử", "hôn nhân có yếu tố nước ngoài" (dẫn chiếu theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014). Tác giả phân tích vai trò của thông điệp HNCYTNN trên báo mạng điện tử Việt Nam trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội, cung cấp tri thức pháp lý và phản ánh chính sách đối ngoại. Chương này phân tích hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến hôn nhân quốc tế, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng bộ tiêu chí phân tích thông điệp HNCYTNN trên báo mạng điện tử gồm các chỉ báo: nội dung thông điệp (chủ đề, chi tiết, quan điểm, giải pháp), hình thức thông điệp (kết cấu, thể loại, ngôn ngữ, sapo, tiêu đề), và cách thức truyền thông điệp (tần suất, thời điểm, chuyên mục, vị trí đăng tải, cấu trúc thông tin).

Chương 3: Thực trạng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng và định tính thu được từ 300 sản phẩm thông điệp khảo sát trên 05 báo mạng điện tử giai đoạn 2010 - 2015:

  • Về nội dung thông điệp: Các số liệu thống kê phản ánh tỷ lệ công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí, các hình thức kết hôn, cuộc sống sau kết hôn và mong muốn của người Việt khi lấy chồng/vợ ngoại quốc. Kết quả phân tích chỉ ra thông điệp báo mạng điện tử thể hiện xu hướng bi kịch hóa và thương mại hóa các cuộc hôn nhân; tỷ lệ tin bài phản ánh mặt tiêu cực, rủi ro, bạo lực gia đình, lừa đảo môi giới chiếm ưu thế so với các bài phản ánh hôn nhân tiến bộ, hạnh phúc. Tin bài tuyên truyền, tư vấn chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, cũng như các bài viết đề xuất giải pháp căn cơ còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn.
  • Về hình thức thông điệp: Khảo sát mức độ phản ánh nội dung thông điệp thông qua cách đặt tiêu đề (tít bài), thể loại tít được sử dụng, và mức độ phản ánh thông điệp của đoạn mở đầu (sapo). Các hình thức biểu đạt chính bao gồm văn bản kết hợp hình ảnh, trong khi các yếu tố đa phương tiện hiện đại (như video, đồ họa tương tác) chưa được khai thác nhiều. Về thể loại, thông tấn (tin, bài phản ánh) chiếm tỷ trọng lớn, trong khi thể loại chính luận chuyên sâu và phóng sự điều tra còn hạn chế.
  • Về cách thức truyền tải thông điệp: Khảo sát nguồn đăng tải thông điệp, tỷ lệ và tần suất xuất hiện bài viết theo cơ cấu thời gian (2010 - 2015), vị trí chuyên mục (chủ yếu tập trung ở các chuyên mục Pháp luật, Xã hội, Đời sống, ít xuất hiện ở chuyên mục Chính trị hay Đối ngoại), và cách thức cấu trúc thông tin. Thông điệp truyền thông về HNCYTNN phần lớn xuất hiện mang tính sự vụ, phản ứng sau các vụ việc tiêu cực nổi cộm, thiếu tính kế hoạch và chiến lược dài hạn.

Chương 4: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Từ thực trạng phân tích ở Chương 3, Chương 4 chỉ ra các vấn đề cấp thiết: sự thiên lệch trong khuôn mẫu thông điệp (khắc họa chân dung phụ nữ lấy chồng nước ngoài thiên về mặt xấu, vụ lợi kinh tế, thụ động); nguy cơ làm sai lệch hình ảnh con người và văn hóa Việt Nam trong giao lưu quốc tế; việc thiếu hụt thông tin định hướng pháp lý và bảo hộ công dân. Để khắc phục, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp, bao gồm:

  • Định hướng chiến lược nội dung: Đổi mới tư duy truyền thông, tăng cường tính khách quan, toàn diện; khắc phục lối đưa tin giật gân, định kiến giới; chú trọng tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật và bồi đắp các giá trị văn hóa dân tộc.
  • Hoàn thiện hình thức và phương thức truyền thông: Tận dụng ưu thế đa phương tiện của báo mạng điện tử; đa dạng hóa thể loại báo chí, tăng cường các bài chính luận, phân tích chuyên sâu; xây dựng cấu trúc thông tin mạch lạc, tiêu đề chuẩn xác.
  • Đề xuất mô hình chiến dịch truyền thông: Luận án xây dựng sơ đồ mô hình chiến dịch truyền thông về HNCYTNN trên báo mạng điện tử (Biểu đồ 4.1), chỉ rõ sự phối hợp giữa cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, cơ quan tư pháp và tòa soạn báo mạng điện tử nhằm chủ động định hướng dư luận xã hội một cách có hệ thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án đóng góp vào lĩnh vực lý luận tác phẩm và sản phẩm báo chí, cụ thể là lý luận về thông điệp báo chí trên báo mạng điện tử.
  • Hệ thống hóa và làm rõ phương pháp phân tích nội dung thông điệp báo chí từ góc độ liên ngành (báo chí học, truyền thông học, tâm lý học báo chí và xã hội học báo chí).
  • Xây dựng thành công khung tiêu chí khoa học để phân tích, đánh giá thông điệp về đề tài hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử tại Việt Nam.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn tư liệu thực tế và số liệu định lượng xác thực về 300 sản phẩm thông điệp HNCYTNN trên 05 tờ báo mạng điện tử tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015.
  • Làm rõ khuôn mẫu thông điệp hiện hành: chứng minh giả thuyết nghiên cứu rằng thông điệp báo chí giai đoạn này chủ yếu đóng khung hiện tượng HNCYTNN theo hướng bi kịch hóa, thương mại hóa, nặng về phê phán biểu hiện tiêu cực mà chưa đi sâu lý giải các nguyên nhân xã hội gốc rễ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn có tính khả thi đối với các cơ quan quản lý báo chí, ban biên tập và phóng viên nhằm nâng cao chất lượng nội dung, hình thức và phương thức truyền tải thông điệp.
  • Xây dựng mô hình chiến dịch truyền thông về HNCYTNN trên báo mạng điện tử, hỗ trợ hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm giới hạn trong 05 cơ quan báo mạng điện tử (VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Baophapluat.vn, Tuoitre.vn, Giadinh.net.vn) với tổng số 300 sản phẩm thông điệp, chưa bao quát toàn bộ hệ thống báo chí điện tử và các trang thông tin điện tử tổng hợp tại Việt Nam.
  • Khung thời gian lấy mẫu dừng lại ở giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2015, do đó các diễn biến mới về mặt pháp lý (sự vận hành hoàn chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong thực tế những năm sau đó) và sự chuyển dịch của môi trường truyền thông số (như sự bùng nổ của mạng xã hội sau năm 2015) chưa được cập nhật đầy đủ trong mẫu nghiên cứu thực nghiệm.
  • Luận án tập trung sâu vào phân tích nguồn phát và nội dung thông điệp, trong khi dữ liệu thực nghiệm về phản hồi của công chúng (thành tố F và R trong mô hình truyền thông) chủ yếu dựa trên quan sát gián tiếp và phỏng vấn sâu chuyên gia, chưa triển khai điều tra xã hội học diện rộng đối với độc giả.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo (từ sau năm 2015 đến nay) để đánh giá sự biến đổi của thông điệp HNCYTNN trong bối cảnh truyền thông xã hội và chuyển đổi số báo chí.
  • Khảo sát mở rộng trên các nền tảng mạng xã hội và truyền thông đa nền tảng, nơi diễn ra các cuộc thảo luận trực tiếp của cộng đồng về hôn nhân quốc tế.
  • Triển khai nghiên cứu định lượng chuyên sâu về sự tiếp nhận và hành vi thay đổi của công chúng sau khi tiếp xúc với các thông điệp truyền thông về hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xã hội học: Luận án là tài liệu hữu ích về phương pháp nghiên cứu phân tích nội dung văn bản (kết hợp định tính và định lượng), kỹ thuật xây dựng bảng mã hóa và quy trình ứng dụng phần mềm SPSS, NVivo trong nghiên cứu truyền thông.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu báo chí: Chương 1 và Chương 2 cung cấp nguồn tổng thuật tài liệu phong phú về lịch sử phân tích nội dung và hệ thống lý thuyết truyền thông hiện đại (mô hình Shannon, Lasswell, Framing, Agenda Setting).
  • Đối với phóng viên, biên tập viên và nhà quản lý cơ quan báo chí: Kết quả phân tích ở Chương 3 và các giải pháp ở Chương 4 giúp người làm báo nhận diện những định kiến, khuôn mẫu tiêu cực cần tránh khi viết về phụ nữ và hôn nhân quốc tế; đồng thời cung cấp gợi ý về cách cấu trúc thông tin, giật tít, viết sapo và tổ chức vệt bài cân bằng, nhân văn.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam): Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách thông tin đối ngoại, định hướng truyền thông về gia đình và nâng cao hiệu quả phổ biến pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án khảo sát thông điệp trên những cơ quan báo mạng điện tử nào và trong giai đoạn nào? Luận án khảo sát trên 05 báo mạng điện tử: VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Baophapluat.vn, Tuoitre.vn và Giadinh.net.vn. Khung thời gian khảo sát dữ liệu là từ ngày 01/01/2010 đến ngày 30/06/2015.

  2. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm là bao nhiêu và được phân bổ ra sao? Tổng mẫu nghiên cứu gồm 300 sản phẩm thông điệp báo chí. Phân bổ cụ thể: Báo điện tử Gia đình và Xã hội chiếm 100 bài (33,33%); Báo điện tử VnExpress chiếm 69 bài (23,00%); Báo điện tử Pháp luật Việt Nam chiếm 49 bài (16,33%); Báo điện tử VietNamNet chiếm 48 bài (16,00%); và Báo Tuổi Trẻ Online chiếm 34 bài (11,33%).

  3. Giả thuyết nghiên cứu cốt lõi của tác giả về thực trạng thông điệp là gì? Tác giả giả thuyết rằng thông điệp về HNCYTNN trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay chứa đựng khuôn mẫu mang tính thương mại hóa và bi kịch hóa; phản ánh tiêu cực nhiều hơn tích cực, thiếu khách quan, nặng về phê phán; quan tâm đến biểu hiện, hậu quả nhiều hơn nguyên nhân sâu xa; và khắc họa chân dung người phụ nữ lấy chồng nước ngoài ở mặt xấu nhiều hơn mặt tốt.

  4. Tác giả đã sử dụng các công cụ và phần mềm nào để xử lý dữ liệu nghiên cứu? Để tìm kiếm mẫu khảo sát, tác giả sử dụng Google Advanced Search kết hợp tìm kiếm thủ công trực tiếp theo chuyên mục và mốc thời gian trên 05 báo. Để mã hóa và phân tích số liệu thống kê nội dung thông điệp, tác giả sử dụng hai phần mềm chuyên dụng là SPSS và NVivo.

  5. Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trên những nhóm đối tượng nào? Luận án phỏng vấn sâu 03 nhóm: Nhóm 1 gồm 05 nhà báo làm công tác quản lý tại 05 cơ quan báo chí khảo sát; Nhóm 2 gồm 10 phóng viên, biên tập viên viết về đề tài này (mỗi báo 02 người); Nhóm 3 gồm 02 cán bộ quản lý về hôn nhân nước ngoài tại Bộ Tư pháp và 02 chuyên gia nghiên cứu về hôn nhân gia đình.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Minh Hải đã giải quyết mục tiêu nhận diện, phân tích thực trạng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam qua mẫu khảo sát 300 tác phẩm giai đoạn 2010 - 2015. Bằng cách tiếp cận liên ngành giữa báo chí học, truyền thông học và xã hội học, tác giả đã làm rõ các biểu hiện bi kịch hóa, thương mại hóa và định kiến giới trong các sản phẩm báo chí thời kỳ này. Các tiêu chí đánh giá thông điệp và mô hình chiến dịch truyền thông được đề xuất trong luận án mang lại giá trị thiết thực cho công tác quản lý báo chí, hoạt động tác nghiệp của phóng viên và công tác phổ biến chính sách pháp luật về hôn nhân gia đình tại Việt Nam.