phần Mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài nghiên cứu khoa học bao gồm 2 chương với 5 tiết. 12 z CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 1. Khái quát về Phật giáo và Phật giáo ở Bắc Ninh 1. Sự ra đời của Phật giáo Về bối cảnh lịch sử tư tưởng và xã hội: Thời kỳ đạo Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI tại Bắc Ấn Độ.
Ở thời kỳ này, tư tưởng triết học, tôn giáo rất phong phú, đa dạng. Đó là sự tồn tại của nhiều loại hình tôn giáo và nhiều trường phái triết học khác nhau như Số luận, Du Già, Phệ Đà Đa,. trong đó nổi bật nhất là Bà La Môn giáo. Về xã hội chia làm bốn giai cấp, đó là giới tăng lữ Bà La Môn; giới vua quan quý tộc; giới buôn bán, người làm thủ công giàu có và giới nô lệ, nông nô.
Ngoài ra còn một loại tiện dân là hạng cùng đinh nhất trong xã hội sống trong công xã nông thôn với chế độ quốc hữu ruộng đất. Đúng như nhận xét của GS. Nguyễn Hữu Vui cho rằng "sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất là hai đặc điểm lớn nhất, ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ. Từ hai đặc điểm trên, dẫn tới hệ quả là các bước phát triển của lịch sử xã hội Ấn Độ thời cổ không mạch lạc như lịch sử xã hội của các nước châu Âu.
Thực sự ở Ấn Độ không có quan hệ phong kiến giống như kiểu ở Hy – La, cũng không có kiểu quan hệ phong kiến giống như ở các nước Tây Âu. Ở Ấn Độ, nô lệ chưa bao giờ là lực lượng sản xuất chủ yếu, họ chưa bao giờ trở thành nông nô như ở Tây Âu phong kiến… Mặt khác, quan hệ đẳng cấp ở Ấn Độ càng làm cho kết cấu xã hội – giai cấp thêm phức tạp"[79, tr. Trong bối cảnh đó, đạo Phật ra đời với quan niệm mới đã đem lại một luồng tư tưởng mới về tinh thần từ bi, bình đẳng giai cấp, bình đẳng tôn giáo. Tuy nhiên, theo kinh điển Phật giáo, Thích Ca Mâu Ni là nhân vật lịch sử, nhưng trên phương diện tôn giáo thì Ngài lại một trong muôn vàn chư Phật.
13 z Trước ngài đã có nhiều vị Phật quá khứ và sau ngài sẽ còn nhiều vị Phật tương lai. Thái tử Tất Đạt Đa – người sáng lập Phật giáo: Câu chuyện về cuộc đời Đức Phật rất quan trọng trong lịch sử hình thành đạo Phật. Nhưng sẽ đặc biệt hơn, nếu đặt câu chuyện trong đời sống cộng đồng tín đồ Phật giáo. Bởi chỉ có cộng đồng Phật giáo mới cảm nhận, chiêm nghiệm được những huyền diệu từ cuộc đời ngài.
Và sâu sa hơn, cuộc đời Đức Phật đã và đang là mô hình lý tưởng nhất để tín đồ Phật tử học tập, tu tập và giải thoát, đồng thời cũng chỉ ra cho con người hiện sinh một nếp sống đúng đắn trong xã hội đầy biến động. Kinh Bản sinh ghi chép về cuộc đời Đức Phật bắt đầu với ngày Phật đản sinh. Đây là câu chuyện về sự tái sinh và niềm tin vào sự tái sinh bởi đó là quả của một cuộc đời tu tập, đạo hạnh của Đức Phật. Trong sự tái sinh cuối cùng này, kinh Bản sinh cho chúng ta biết Đức Phật được sinh ra trong một gia đình hoàng tộc và ngài là một vị Thái tử.
Mẹ ngài, bà Maya mang thai ngài trong giấc mơ về một con voi trắng và sinh ra ngài trong khu rừng Lumbini thuộc dãy Himalaya gần Nepal ngày nay. Khi vừa mới sinh ra, ngài bước bảy bước trên bảy đóa hoa sen, tay trái chỉ lên trời tay phải đất và nói "Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn". Sau khi ngài đản sinh, một vị tiên tri đến và tiên đoán rằng, nếu ngài vui sống trong gia đình hoàng gia thì ngài sẽ trở thành một bậc quân vương tài ba, nhưng nếu ngài từ bỏ hoàng gia cùng với những khoái lạc trần thế thì ngài trở thành một "Đấng Toàn Giác". Thời gian đầu, Thái tử Tất Đạt Đa đã sống và được giáo dục trong một môi trường lý tưởng, sung túc về vật chất và thoải mái về tinh thần.
Nhưng trong một vài lần ra ngoài cung điện, Thái tử đã thấy cuộc sống thường ngày với nhiều khổ đau: Già – tương lai của mỗi người; người đau ốm – ai cũng có thể bị đau ốm; người chết - sự kết thúc cuộc sống của mỗi người; một vị tu sĩ khắc khổ – người đi tìm sự giải thoát khỏi thế giới đau khổ. Tất cả những gì Thái tử chứng kiến đều mang tính biểu tưởng cho cuộc đời, 14 z nhưng đã thôi thúc ngài rời bỏ hoàng gia và thực hiện cuộc sống khổ hạnh nhằm mục đích thoát khỏi những khổ đau đã thấy. Qua sáu năm khổ hạnh dưới sự dẫn dắt của nhiều vị tu sĩ, nhưng không một vị nào làm cho ngài hài lòng bởi cuộc sống tu hành khổ hạnh đã không đem lại kết quả như mong đợi. Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh ấy và đón nhận bát sữa từ một thiếu nữ chăn bò và ngài đã khám phá con đường "Trung dung" giữa hai lối sống giàu sang và khổ hạnh.
Không lâu sau, vị Phật tương lai ngồi dưới tán cây Bồ đề tu tập và quyết không dời bỏ chốn này nếu không giác ngộ. Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy cho năm vị khổ tu cùng với ngài trước đây, đó là Tứ diệu đế và từ đây bánh xe Pháp đầu tiên đã dịch chuyển. Sau gần 50 năm với sự nghiệp hoằng pháp, vào một ngày Ngài nhắc nhở tín đồ về tính Vô thường của sự vật, cần phải lấy chuyên cần trong tu tập thực hành để giác ngộ, giải thoát rồi sau đó, ngài nhập Niết bàn. Tứ diệu đế là những nguyên lý đầu tiên được ngài khám phá và thuyết giảng và dần dần ngài thiết lập đời sống tu tập cho mọi tín đồ Phật giáo noi theo.
Tuy nhiên, thời gian đầu những lời Đức Phật thuyết giảng không được ghi lại bằng văn tự, vì thế phải qua những lần kết tập kinh điển thì giáo lý mới có hệ thống. Và qua hệ thống giáo lý mới thấy rõ quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của đạo Phật, đặc biệt là quan niệm về nhân sinh trong Phật giáo Đại thừa. Vì thế, ở đây, chúng tôi xin được nhắc lại một cách khái quát nhất về quá trình kết tập kinh điển. Bởi chỉ khoảng 100 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, sự phát triển của đạo Phật được mở rộng.
Tuy nhiên, mỗi vùng đất mà Phật giáo truyền đến có những sự khác biệt về văn hóa xã hội và đây được xem là nguyên nhân chính dẫn đến những bất đồng trong việc nhận thức lời Phật dạy trước đó chủ yếu là phương thức truyền miệng. Cho nên, Phật giáo đã phân hóa thành nhiều bộ phái nhằm thích ứng với những môi trường mà đạo Phật truyền tới. Lần kết tập thứ nhất tại thành Vương Xá có 500 vị La Hán được Ca Diếp mời dự dưới sự bảo trợ của vua A Xà Thế, xứ Ma Kiệt Đà. Khi đức Phật nhập 15 z diệt, không lâu sau đã xuất hiện những kiến giải bất đồng về lời Phật dạy.
Để tránh sự sai biệt, và bảo tồn các giáo pháp và luật lệ được toàn vẹn, Ma Ha Ca Diếp đã đề nghị kết tập và hệ thống hóa lời dạy của đức Phật lại thành kinh điển với mục đích không để xảy ra tình trạng hiểu sai lầm về giáo pháp. Trong cuộc kết tập này, A Nan Đà chính là người đã đứng ra trì tụng những điều đức Phật đã thuyết giảng và Upani kể về Giới luật. Sau cuộc kết tập, bốn bộ kinh đầu tiên được chép lại. Đó là kinh Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và Tạp A Hàm.
Bốn bộ kinh này được xem là các tài liệu cổ nhất ghi lại cuộc đời của đức Phật và những hoạt động của Tăng đoàn, đánh dấu bước hình thành Kinh tạng và Luật tạng vô cùng quan trọng sau này. Lần kết tập thứ hai tại tại thành Tì Xá Ly sau lần kết tập thứ nhất một trăm năm. Lần kết tập thứ hai này có 700 vị Tỳ kheo tham dự. Hội nghị kết tập lần thứ hai cơ bản là để thảo luận về những thay đổi một số chi tiết trong giới luật.
Ngoài ra, đại hội còn nhằm mục đích ngăn không để tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo lý Phật giáo. Kết quả là trong hội nghị, những người không đồng ý với việc giữ nguyên giới luật ban đầu đã bỏ ra để tổ chức một hội nghị kết tập riêng và thành lập Đại chúng bộ và số người còn lại vẫn tiếp tục kết tập kinh điển, sau đó hình thành Thượng tọa bộ,… Như vậy, Hội nghị này đánh dấu sự phân hóa về tổ chức của Tăng đoàn. Thượng tọa bộ gồm thiểu số các vị Trưởng lão có khuynh hướng bảo thủ, Đại chúng bộ gồm đa số Tỳ kheo trẻ tuổi có khuynh hướng cấp tiến, mà nhiều nhà nghiên cứu Phật học sau này cho rằng, tư tưởng của Đại chúng bộ làm nảy sinh nhiều quan niệm mới về chư Phật, đặc biệt là Bồ tát, là mầm mống cho việc hình thành phong trào Phật giáo Đại thừa sau này. Lần kết tập thứ ba dưới triều vua A Dục thế kỷ 3 trước Công nguyên.
Vua A Dục là người mộ đạo nên Phật giáo được ưu đãi rất lớn. Số lượng tăng ni đông đảo và trong đó cũng không ít kẻ cơ hội trà trộn tăng đoàn gây nên những mối bất hòa. Trước thực trạng như vậy, vua A Dục đã khởi xướng và bảo trợ cho Hội 16 z nghị kết tập kinh điển lần thứ ba trong lịch sử Phật giáo.000 Tỳ kheo được cử đến. Sau 9 tháng kết tập, lần đầu tiên Tam tạng kinh hoàn thiện và được con trai vua A Dục đem tới Tích Lan.
Các kinh điển này sau đó đã được dịch sang văn hệ Pali và còn nguyên vẹn cho đến nay. Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư diễn ra vào thời vua Ca Nị Sắc Ka. Tuy sử liệu không hoàn toàn thống nhất với nhau về thời gian và địa điểm. Vua Ca Nị Sắc Ca là một tín đồ trung thành của đạo Phật và rất thích nghe giảng kinh văn.
Vì thế, nhà vua nhận ra có rất nhiều sự khác biệt về các kiến giải trong kinh nên ông khởi tâm bảo trợ cho lần kết tập thứ tư.