CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN PHẬT HỌC Ở HỌC VIỆN PHẬT GIÁO 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục là hoạt động đặc biệt, có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của loài người nói chúng. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, giáo dục là động lực hàng đầu đem lại cường thịnh, bền vững cho mỗi quốc gia, cho từng dân tộc. Chính vì thế, quan tâm, đầu tư và nghiên cứu về giáo dục là nhiệm vụ, yêu cầu có tính bắt buộc, đặc biệt trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay.
Dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục, là hoạt động mà hiệu quả của nó quyết định đến chất lượng và thậm chí là cả cơ cấu, sách lược, mục tiêu, biện pháp… của toàn hệ thống. Chính vì thế, ngày từ thuở bình minh văn minh nhân loại, khi nghiên cứu về giáo dục, các bận hiền triết – các nhà giáo dục đã chú ý đến mục tiêu, nội dung và cả phương pháp dạy học. Về nội dung giáo dục. Không Từ hướng đến dạy đạo đức, mong muốn truyền dạy được hệ thống luận lý, nhân bản, đạo làm người.
Phương châm giáo dục của Khổng Tử là trước hết phải học lễ - cách làm người, cách sống, sau mới học văn - các tri thức khác phục vụ cho công việc chính trị quốc gia. Khổng Tử luôn chủ trương dùng đức trị. “Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi cố định mà các ngôi sao khóc hướng về cả (tức thiên hạ theo về)" Về phương pháp dạy học, Khổng Tử chủ yếu truyền dạy bằng cách nêu gương, thực hiện học đi đôi với hành, phát huy tinh tích cực của học trò, thường xuyên thực hiện kiểm tra - ôn tập. Cùng với đó, ông còn rất chú ý đến việc dạy sao phù hợp với từng đối tượng người học.
Với Khổng Tử, hiệu quả của việc dạy học không nằm ở khả năng thuộc lòng hay thì tầm chương trích củ mà ở khả năng vận dụng. Ông từng nhấn mạnh: “Đọc 300 thiên kinh thì, giao cho việc chính trị mà làm không nên; sai đi xử 4 phương mà không biết ứng đối, như vậy đọc nhiều để làm gì? Có thể nói, nhiều những tư trong của Không từ trong giáo dục - dạy học vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. 7 Socrates (469 hoặc 470-399 TCN) là người đặc biệt chú trọng đến các phương pháp dạy học. Ông nổi tiếng với việc dạy học bằng cách điểm lượng thủy đặt của hỏi, trò tự tìm câu trả lời và từ đó tự tìm ra chân lý.
Khi trò hỏi lại thấy, thầy chỉ định hướng, khơi mở hoặc dùng một câu hỏi khác thay cho việc trả lời trực tiếp. Nói riêng về cách đặt câu hỏi của Socrates thì đó thực sự vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, vừa rất cụ thể, gần gũi vừa có thể nâng tầm trở thành kinh điển có tính chất giáo khoa. Có thể chia hệ thống câu hỏi của Socrates đối với học trò thành các nhóm: nhóm câu hỏi làm rõ khái niệm, nhóm câu hỏi điều tra các giả định, nhóm tìm hiểu lý do, nguyên nhân và bằng chứng, nhóm hương về quan điểm và lập trưởng, nhóm hội về ý nghĩa và hậu quả, nhóm câu hỏi nghi vấn những câu hỏi. Ngày nay, sau gần 2500 năm, việc “học thấy Socrates về cách đặt câu hỏi" vẫn là một trong những khẩu hiệu, phương châm được nhiều nhà giáo dục phương Tây cố xây.
Komenski (1592-1670) cho rằng trong dạy học, có 9 nguyên tắc cần tuân thủ và thực hiện thật tốt. Thứ nhất, tôn trong thời gian thích hợp; thứ hai, chuẩn bị chất liệu trước khi tạo hình thức; thứ ba, chọn chủ đề thích hợp, tác động một cách thích hợp đến chủ thể để biến chủ thể trở nên thích hợp; thứ tư, đi từng bước theo một lộ trình hợp lý, có tính kế thừa giữa các nội dung học tập; thứ năm, sự phát triển phái diễn ra từ bên trong thứ sáu, đi từ phổ quát đến đặc thù, thủ bay, không nhảy với nhưng bước từng bước vùng chắc; thủ tâm, không bỏ giữa chứng thứ chín, loại trừ các trở ngại và nguy hại. Từ những nguyên tắc kể trên, Komenski đã vận dụng và đúc kết thành nhiều vấn đề lý luận rất sâu sắc, chặt thế mà lý thú về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học. Đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mac-Lênin, sự phát triển toàn diện của con người làm mục đích chính của giáo dục dạy học.
Trong tư tưởng của các ông (CMac, I. Ăng-ghen), giáo dục không những là điều kiện cần thiết cho sự phát triển cầu xã hội, mà quan trọng hơn, còn là tích để cho sự phát triển toàn diện các năng lực của con người. Mục tiêu, đích đến của giáo dục là sự phát triển của chính ban thần con người. Mặc đã chỉ rõ, nền giáo dục sau này sẽ là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em, khi đến lứa tuổi nhất định, đều biết “kết hợp trí dục và thể dục với lao động chân tay và do đó, kết hợp lao động chân tay với trí dục và thể dục”, “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục” và coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là phương pháp duy nhất để “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện”.
Từ những nền tảng kể trên, các nhà giáo dục theo chủ nghĩa Mác- Lênin đã phát triển một nền giáo dục mới hết 8 sức tiến bộ, hướng tới việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, đáp ứng quy luật tất yếu sẽ tiến lên xã hội chủ nghĩa của lịch sử nhân loại. Nghiên cứu ở trong nước Quản lý đào tạo ở Việt Nam là nội dung được các nhà khoa học quản lý, các chuyên gia nghiên cứu, tìm hướng vận dụng trong hàng chục năm qua ứng với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Gần đây, xu thế đổi mới quản lý đào tạo ở Việt Nam cũng đã tiếp cận với thế giới; đặc biệt là khi chúng ta hội nhập sâu rộng, nhiều cơ hội phát triển mở ra cùng với những thách thức có tác động tiêu cực đến hệ thống giáo dục vả đào tạo. Năm 2002, tác giả Trần Khánh Đức xuất bản cuốn “Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực”; năm 2004, tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến xuất bản cuốn “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”; năm 2005, tác giả Nguyễn Viết Sự xuất bản cuốn “Giáo dục nghề nghiệp – Những vấn đề và giải pháp”.
Các cuốn chuyên khảo này là tập hợp các bài viết của các tác giả về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp luận quản lý và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp, kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp… trong đó có bàn luận tới 3 công tác quản lý đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực. Hiện nay, có rất nhiều mô hình đào tạo theo các tiếp cận khác nhau để nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục. Trong đó, cách tiếp cận theo mô hình đào tạo CIPO và sự vận dụng vào quản lí đào tạo đang được nhiều tác giả quan tâm vì tính hiệu quả cao của mô hình này. Với mục đích làm rõ hơn việc vận dụng mô hình CIPO trong quản lý đào tạo, Đàm Thị Diệu Thúy (2017) cũng đã thực hiện đề tài: “Biện pháp quản lí đào tạo theo tiếp cận mô hình CIPO tại trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội” [24].
Đề tài cũng đưa ra các biện pháp quản lý đào tạo như: Tổ chức khảo sát thị trường lao động và tuyển sinh đáp ứng nhu cầu xã hội, tổ chức dạy học đáp ứng chuẩn đầu ra, xây dựng nhà trường thành tổ chức “biết học hỏi”, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữ nhà trường và cơ sở sử dụng lao động, phát triển chương trình đào tạo dựa trên thông tin phản hồi của cơ sở lao động và sinh viên tốt nghiệp. Trong đó, mỗi biện pháp đều cụ thể hóa mục tiêu và nội dung cách thức thực hiện. Trần Hoàng Vĩ (2019) nghiên cứu “Quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng quốc tế Hà Nội theo tiếp cận mô hình CIPO” [27] cũng đã nhận định: Phương pháp tiếp cận mô hình CIPO là phù hợp với tình hình tiếp cận tiên tiến của quốc tế và khu 9 vực, phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Tóm lại đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo, quản lý dạy học ở các cơ sở giáo dục tại các địa phương khác nhau, các đề tài đã xác định một số cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Riêng tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục những nam gần đây.
Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động đào tạo cử nhân Phật học ở Học viện Phật giáo - Hoạt động đào tạo cử nhân Phật học Theo từ điển Tiếng Việt thì đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định” [28]. Theo tiếp cận CIPO của UNESCO (2010) thì đào tạo là một quá trình diễn ra liên tục dưới sự tác động của các yếu tố đầu vào, các yếu tố quá trình, các yếu tố đầu ra và các yếu tố bối cảnh. Còn hoạt động là “tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” [8].
Như vậy, hoạt động đào tạo cử nhân Phật học là quá trình tác động tới đối tượng cụ thể thông qua cách thức, phương pháp nhất định thông qua sự tác động của các yếu tố đầu vào, quá trình, đầu ra và bối cảnh một cách có hệ thống nhằm biến đổi đối tượng được đào tạo trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn đã đề ra. Về cơ bản, đào tạo là dạy học và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục tư duy đạo đức, nhân cách.