Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế (mã số 9310206) với đề tài "Quá trình Việt Nam đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu từ 2006 đến 2023" do nghiên cứu sinh Trần Chí Trung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Đình Quý tại Học viện Ngoại giao, bảo vệ năm 2024.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, chủ trương đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu là một trong những định hướng chiến lược xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Chủ trương này được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội X (năm 2006), tiếp tục được bổ sung và phát triển qua các kỳ Đại hội XI, XII và Đại hội XIII (năm 2021). Tuy nhiên, về mặt lý luận, các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế trên thế giới chủ yếu phân tích vấn đề hợp tác hoặc thiết lập quan hệ đối tác, chưa cụ thể hóa các tiêu chí đo lường chiều sâu trong các mối quan hệ song phương. Tại Việt Nam, phần lớn các công trình nghiên cứu hiện có chỉ tập trung phân tích từng mối quan hệ song phương cụ thể hoặc mô tả mạng lưới Đối tác Toàn diện, Đối tác Chiến lược, Đối tác Chiến lược Toàn diện từ góc độ thực tiễn chính sách; rất ít công trình khái quát hóa lý luận, thiếu vắng một khung phân tích hệ thống để đánh giá mức độ chiều sâu của quan hệ đối ngoại. Về mặt thực tiễn, việc triển khai chính sách dù đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có; đồng thời sự biến động nhanh chóng của môi trường quốc tế (cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đại dịch COVID-19, xung đột địa chính trị) đặt ra yêu cầu phải rà soát, đánh giá bài bản để điều chỉnh chính sách đến năm 2030.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, cụ thể hóa khung lý luận về chiều sâu của quan hệ đối ngoại để kiểm chứng quá trình Việt Nam đưa quan hệ đối ngoại vào chiều sâu với các đối tác từ năm 2006 đến năm 2023.

Câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm hai câu hỏi chính:

  1. Chiều sâu trong quan hệ đối ngoại là gì?
  2. Làm thế nào để đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu?

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung: (1) Phân tích cơ sở lý luận về chiều sâu trong quan hệ quốc tế từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế (Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Kiến tạo); khảo sát thực tiễn quốc tế của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Indonesia; từ đó đề xuất khái niệm và cụ thể hóa khung tiếp cận gồm ba tiêu chí: đan xen lợi ích, độ tin cậy, các cơ chế hợp tác. (2) Khảo sát thực trạng triển khai định hướng đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu của Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2023 qua các giai đoạn và ba trường hợp điển hình: Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam - CHLB Đức. (3) Đưa ra những dự báo bối cảnh mới và đề xuất các kiến nghị định hướng, giải pháp đối ngoại của Việt Nam đến năm 2030.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình Việt Nam đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu từ năm 2006 đến năm 2023.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về thời gian: Tập trung chính vào giai đoạn 2006 - 2023 (từ Đại hội X khi chủ trương được văn bản hóa đến năm 2023), đồng thời liên hệ từ thời điểm bắt đầu Đổi mới (năm 1986) để phục dựng tiến trình nhận thức chính sách.
  • Về không gian: Tập trung vào cấp độ song phương giữa Việt Nam với các đối tác quan trọng (láng giềng, khu vực, nước lớn); khảo sát chính sách của Trung Quốc, Hoa Kỳ, Indonesia; thực nghiệm kiểm chứng tại ba đối tác đại diện là Trung Quốc, Hoa Kỳ và CHLB Đức; không phân tích cấp độ đa phương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài qua các nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu chung về hợp tác quốc tế: Robert Axelrod và William D. Hamilton (1981) nghiên cứu về sự tiến hóa của hợp tác và động lực duy trì quan hệ từ thù địch sang hợp tác nhưng chưa bàn về chiều sâu; Peter Digeser (2016) phân tích tình hữu nghị trong chính trị mang tính lý thuyết; Lucile Eznack và Simon Koschut (2016) nghiên cứu nguồn gốc cảm xúc trong quan hệ liên nhà nước nhưng thiếu so sánh thực nghiệm; Kristin Haugevik (2020) tiếp cận quan hệ đặc biệt từ động lực bên trong sau Thế chiến II.

Thứ hai, các nghiên cứu về nội hàm đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu: Đặng Đình Quý và Nguyễn Vũ Tùng (2011) xác lập khung tiếp cận ban đầu về khái niệm, tiêu chí đánh giá chiều sâu của quan hệ đối ngoại Việt Nam nhưng chưa khai thác sâu thực tiễn quốc tế; Dương Văn Quảng (2015) bàn về chiều sâu và tính hiệu quả trong hội nhập quốc tế từ sau Đại hội XI, khảo sát lĩnh vực văn hóa trong phạm vi thời gian hẹp.

Thứ ba, nghiên cứu về lòng tin trong quan hệ quốc tế: Đặng Đình Quý (2023) đưa ra khung đo lường lòng tin qua ba yếu tố (song trùng lợi ích, vấn đề lịch sử, cơ chế giám sát thực thi); Vũ Lê Thái Hoàng (2008) cung cấp 4 thước đo, 5 cấp độ lòng tin và 3 nhóm biện pháp xây dựng lòng tin; Aaron Hoffman (2002, 2018) phân tích định nghĩa lòng tin cùng hai chiến lược tiệm tiến và thể chế; Nicholas J. Wheeler (2011) đề xuất biện pháp xây dựng lòng tin qua giao tiếp cá nhân lãnh đạo; Vincent Keating (2014) nhận diện lòng tin qua việc quốc gia từ bỏ chính sách phòng bị nước đôi (hedge).

Thứ tư, nghiên cứu về đan xen lợi ích: Robert O. Keohane và Joseph S. Nye (1987) khảo sát sự phụ thuộc lẫn nhau phức hợp và liên kết vấn đề (issue-linkage); Trần Đức Tiến và Thái Văn Lai (2021) phân tích thuật ngữ lợi ích đan xen phục vụ bảo vệ Tổ quốc nhưng thiên về lý luận chung.

Thứ năm, nghiên cứu về quan hệ đối tác và mô hình đối tác chiến lược: Nguyễn Thị Thìn (2023) nghiên cứu thực tiễn thiết lập đối tác của Việt Nam, Trung Quốc, Đức; Sean Kay (2000) làm rõ khái niệm đối tác chiến lược trong chính sách của Mỹ; Ronald W. McQuaid (2000) phân tích các loại hình đối tác; Lucyna Czechowska và cộng sự (2019) nghiên cứu đối tác giữa quốc gia và tổ chức quốc tế; Anna Michalki (2019) xem xét vai trò của đối tác chiến lược trong định hình trật tự thế giới; Lucyna Czechowska (2013) đưa ra ba điều kiện của mô hình đối tác chiến lược (đặc quyền hợp tác, thể chế hóa nhiều cấp, quan hệ thân thiết dựa trên lòng tin). Tại Việt Nam, các tác giả Lê Thế Mẫu (2016), Đinh Công Tuấn (2013), Lena Lê và Hoàng Khắc Nam (2021), Nguyễn Thị Thúy Hà (2018), Nguyễn Hùng Sơn (2011), Trần Việt Thái (2013) đã phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn của khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam.

Thứ sáu, nghiên cứu về tư duy "đối tác - đối tượng": Hoa Nguyễn (2021), Phạm Quang Minh và Nguyễn Hồng Hải (2021), Đặng Đình Quý (2023) làm rõ nội hàm, nguyên tắc nhận diện đối tác và đối tượng trong tình hình mới.

Thứ bảy, quan điểm của một số quốc gia: Feng Zhongping và Huang Jing (2014), Elizabeth Wishnick (2010) phân tích ngoại giao đối tác của Trung Quốc; Daniel S. Hamilton (2014) làm rõ phương thức đối tác của Hoa Kỳ; Sarita Azad, Shashank Mathur và Arvind Gupta (2012) áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) đánh giá quan hệ chiến lược của Ấn Độ; Vidya Nadkarni (2010) nghiên cứu quan hệ Nga - Trung - Ấn; cùng các đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Vụ Chính sách đối ngoại, Bộ Ngoại giao (năm 2017 và năm 2022).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết bao gồm:

  1. Thiếu một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bản chất của "chiều sâu" và quy luật vận hành của việc "đưa quan hệ đi vào chiều sâu".
  2. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận theo dạng đánh giá từng quan hệ song phương riêng lẻ hoặc dừng lại ở việc mô tả khuôn khổ danh xưng, chưa khái quát thành khung lý thuyết đánh giá có tính phổ quát.
  3. Chưa có khung phân tích tích hợp ba yếu tố đan xen lợi ích, lòng tin và cơ chế hợp tác để đánh giá sự chuyển hóa thực chất giữa các cấp độ quan hệ.
  4. Các công trình trước đây chưa kịp thời cập nhật những biến chuyển sâu sắc của bối cảnh quốc tế (cạnh tranh chiến lược nước lớn, xung đột địa chính trị tại Ukraine, biến động chuỗi cung ứng hậu COVID-19) và chưa gắn kết với các mốc mục tiêu phát triển quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, 2030 và 2045.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án khai thác các nền tảng:

  • Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Khẳng định tính quy định của quan hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước; nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nhà nước có chế độ chính trị khác nhau. Về mặt phương pháp luận, tác giả sử dụng các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng (Nguyên nhân - Kết quả, Khả năng - Hiện thực, Bản chất - Hiện tượng) và đặc biệt là quy luật Lượng - Chất để luận giải quá trình tích lũy từ những kết quả hợp tác cụ thể (lượng) tạo tiền đề nâng cấp khuôn khổ quan hệ lên tầm mức chất lượng mới (chất).
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế: Quan điểm "thêm bạn, bớt thù", kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền; là nền tảng hình thành tư duy biện chứng về "đối tác - đối tượng".
  • Các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế:
    • Chủ nghĩa Hiện thực: Nhấn mạnh trạng thái vô chính phủ, an ninh quốc gia và sự phân bổ quyền lực; xem hợp tác là biện pháp tạm thời nhằm cân bằng quyền lực hoặc phòng ngừa đe dọa.
    • Chủ nghĩa Tự do: Đề cao sự phụ thuộc lẫn nhau phức hợp, vai trò của thể chế và luật pháp quốc tế (liberal institutionalism); thuyết hòa bình qua thương mại và thuyết hòa bình qua thể chế cho thấy các cơ chế hợp tác giúp giảm thiểu thông tin bất đối xứng, nâng cao chi phí xung đột và tạo động lực đan xen lợi ích bền vững.
    • Chủ nghĩa Kiến tạo: Coi trọng yếu tố bản sắc quốc gia, bản sắc xã hội và nhận thức chung về vai trò; việc đưa quan hệ vào chiều sâu là quá trình kiến tạo bản sắc quan hệ mới dựa trên sự chia sẻ giá trị, gia tăng lòng tin và định vị đối tác.

Khung phân tích của luận án được kế thừa và phát triển từ mô hình của Đặng Đình Quý và Nguyễn Vũ Tùng (2011), xác lập ba tiêu chí cốt lõi:

  1. Đan xen lợi ích: Đo lường mức độ phụ thuộc lẫn nhau, tính chất song trùng lợi ích và sự ràng buộc qua lại về kinh tế, an ninh, phát triển.
  2. Lòng tin: Đo lường mức độ tin cậy chính trị, sự hiểu biết lẫn nhau, việc xử lý các vấn đề lịch sử tồn đọng và khả năng dự đoán hành vi chính sách của đối tác.
  3. Cơ chế hợp tác: Đo lường số lượng, tần suất hoạt động, mức độ thể chế hóa và hiệu quả thực thi thực tế của các kênh trao đổi từ cấp cao đến các bộ ngành, địa phương.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng cách tiếp cận định tính và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích chính sách: Là phương pháp chủ đạo để đánh giá các quyết sách đối ngoại của Việt Nam và đối chiếu với chính sách của các nước khảo sát.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động của tư duy chính sách từ năm 1986 và quá trình triển khai cụ thể từ năm 2006 đến năm 2023.
  • Phương pháp logic: Phân tích mối quan hệ giữa tích lũy lượng và chuyển hóa chất trong việc nâng cấp các khuôn khổ đối tác.
  • Phương pháp tổng hợp - so sánh: So sánh quan niệm, công cụ thực hiện của Việt Nam với các mô hình quốc tế; so sánh giữa các trường hợp đối tác song phương.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (theory building from cases): Xây dựng khung lý thuyết từ khảo sát trường hợp quốc tế (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Indonesia) và kiểm nghiệm khung lý thuyết qua ba nghiên cứu điển hình của Việt Nam (Trung Quốc, Hoa Kỳ, CHLB Đức).
  • Phương pháp dự báo: Phân tích xu thế vận động của cục diện quốc tế và bối cảnh đối nội để đề xuất khuyến nghị chính sách đến năm 2030.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại dữ liệu văn kiện, điều ước quốc tế, văn bản hợp tác song phương.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Tư liệu sơ cấp: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII), các nghị quyết chuyên đề của Trung ương (như Nghị quyết số 34 năm 2023), các tuyên bố chung song phương, văn bản hiệp định, tài liệu chuyên môn trong quá trình công tác của tác giả tại Bộ Ngoại giao.
  • Tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, sách học thuật, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ QUÁ TRÌNH ĐƯA QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ĐI VÀO CHIỀU SÂU

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở khái niệm và khung phân tích lý luận. Tác giả chỉ ra rằng trong từ điển tiếng Việt và tiếng Anh, "chiều sâu" (depth) phản ánh khoảng cách phía dưới bề mặt, sự thực chất không lộ ra ngoài. Dù chưa có định nghĩa phổ quát trong quan hệ quốc tế, cụm từ "làm sâu sắc thêm quan hệ" (deepening relations) thường xuyên được các quốc gia sử dụng để chỉ việc tăng cường hợp tác thực chất, hiệu quả, vươn tới các địa hạt an ninh - chính trị nhạy cảm.

Luận án khảo sát thực tiễn đưa quan hệ đi vào chiều sâu của ba quốc gia:

  • Trung Quốc: Sử dụng thuật ngữ chiều sâu (深度) và làm sâu sắc (深化); định hình mạng lưới đối tác với gần 100 quốc gia; áp dụng phương châm "thân, thành, huệ, dung" với láng giềng; xây dựng bản sắc quan hệ qua các danh xưng ("đồng chí tốt, bạn bè tốt", "Cộng đồng chia sẻ tương lai"); đẩy mạnh thể chế hóa qua các cuộc gặp cấp cao thường niên và gắn kết các đối tác thông qua các sáng kiến phát triển như Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI).
  • Hoa Kỳ: Sử dụng thuật ngữ "deepen cooperation/alliance" trong các chiến lược an ninh; ưu tiên làm sâu sắc quan hệ với các quốc gia cùng chí hướng (like-minded nations) để duy trì lợi ích toàn cầu; đo lường chiều sâu qua tần suất thăm cấp cao, phạm vi thể chế hóa, mức độ tương đồng hệ giá trị và khả năng hành động tập thể thông qua các liên minh và mạng lưới đối tác (hơn 60 quan hệ đối tác chiến lược chính thức, hơn 40 cơ chế đối thoại chiến lược, cùng các cơ chế nhóm như QUAD, AUKUS).
  • Indonesia: Xuất phát từ học thuyết ngoại giao "Độc lập và chủ động" (bebas-aktif) do Mohammad Hatta đề xướng năm 1945 và 5 nguyên tắc Pancasila; xác định làm sâu sắc quan hệ là ưu tiên (priority, enhance) nhằm bảo vệ lợi ích và vị thế quốc gia; không chọn phe trong cạnh tranh nước lớn; duy trì vai trò dẫn dắt tại khu vực Đông Nam Á và thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển.

Trên cơ sở đó, tác giả cụ thể hóa Khung phân tích quá trình đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu thông qua ba tiêu chí: đan xen lợi ích, lòng tin và cơ chế hợp tác; đồng thời phân tích mối quan hệ giữa cấp độ quan hệ ngoại giao (hình thức danh xưng) và chiều sâu thực chất của quan hệ.

Tiêu chí Nội dung cốt lõi Biểu hiện cụ thể trong đánh giá quan hệ
Đan xen lợi ích Sự phụ thuộc lẫn nhau và song trùng lợi ích Mức độ liên kết kinh tế, thương mại, đầu tư; sự phụ thuộc về chuỗi cung ứng; chia sẻ lợi ích an ninh và chiến lược.
Lòng tin Sự tin cậy chính trị và khả năng dự đoán chính sách Tần suất tiếp xúc cấp cao; giải quyết các bất đồng và vấn đề tồn đọng lịch sử; mức độ minh bạch và tôn trọng cam kết.
Cơ chế hợp tác Mức độ thể chế hóa quan hệ song phương Số lượng, cấp độ các cơ chế đối thoại, tham vấn; tính đều đặn và hiệu quả giải quyết vấn đề của các cơ chế thực thi.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆT NAM ĐƯA QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ĐI VÀO CHIỀU SÂU TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2023

Chương 2 phân tích tiến trình thực hiện của Việt Nam. Luận án chỉ ra sự phát triển tư duy chính sách: từ đường lối mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa tại Đại hội VI (năm 1986), bước sang giai đoạn Đại hội X (năm 2006) lần đầu tiên văn kiện Đảng đưa ra định hướng "đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững", tiếp tục được cụ thể hóa tại Đại hội XI, XII và Đại hội XIII (năm 2021).

Tác giả phân tích thực trạng qua ba trường hợp điển hình:

  • Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: Thiết lập khuôn khổ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện năm 2008. Về cơ chế hợp tác, hình thành hệ thống bao trùm gồm Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương, các cuộc gặp cấp cao thường niên giữa hai Tổng Bí thư, hai Thủ tướng, cùng các cơ chế giữa các ban Đảng, bộ ngành và địa phương biên giới (Phụ lục 3). Về lòng tin, nỗ lực củng cố thông qua các tuyên bố chung, kiểm soát bất đồng trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế. Về đan xen lợi ích, gia tăng kim ngạch thương mại hai chiều, kết nối hạ tầng trong khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai" và BRI.
  • Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Phát triển từ bình thường hóa (năm 1995), Đối tác Toàn diện (năm 2013) đến Đối tác Chiến lược Toàn diện (năm 2023). Về lòng tin, bước tiến căn bản là sự tôn trọng thể chế chính trị của nhau và hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh (tìm kiếm quân nhân mất tích POW/MIA, xử lý chất độc dioxin tại Đà Nẵng và Biên Hòa, rà phá bom mìn). Về đan xen lợi ích, thương mại song phương tăng trưởng vượt bậc, Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam; mở rộng hợp tác công nghệ bán dẫn, chuỗi cung ứng. Về cơ chế, duy trì Đối thoại Chính trị - An ninh - Quốc phòng, Đối thoại Kinh tế, Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA).
  • Quan hệ Việt Nam – CHLB Đức: Thiết lập Đối tác chiến lược năm 2011. Về đan xen lợi ích, Đức là đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong EU, hợp tác sâu về đào tạo nghề, năng lượng tái tạo, tận dụng Hiệp định EVFTA. Về lòng tin, giải quyết các bất đồng ngoại giao nảy sinh, duy trì cơ chế Đối thoại nhà nước pháp quyền. Về cơ chế, thực hiện Kế hoạch hành động chiến lược định kỳ hai năm một lần và các cơ chế tham vấn chính phủ.

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG ĐƯA QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ĐI VÀO CHIỀU SÂU CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030

Chương 3 đánh giá tổng thể thành tựu: Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện (tính đến năm 2023), bảo đảm môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và phục vụ phát triển kinh tế. Hạn chế gồm: hiệu quả khai thác một số khuôn khổ chưa tương xứng với tiềm năng, mức độ đan xen lợi ích kinh tế còn bất đối xứng, một số cơ chế hợp tác hoạt động còn hình thức, việc giải quyết các rào cản chính sách còn chậm.

Về dự báo bối cảnh đến năm 2030, luận án phân tích xu thế chuyển dịch trật tự thế giới đa cực, cạnh tranh nước lớn gia tăng; chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế chịu nhiều sức ép; phục hồi kinh tế hậu đại dịch gắn liền chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; các biến động phức tạp tại châu Á - Thái Bình Dương. Về đối nội, thế và lực của Việt Nam được nâng cao sau gần 40 năm Đổi mới, đặt ra yêu cầu đối ngoại phục vụ ba mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn 2045.

Luận án đề xuất hệ thống kiến nghị:

  • Xác định nguyên tắc: Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, dựa trên luật pháp quốc tế và các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
  • Điều kiện cần và đủ: Cần có sự song trùng lợi ích chiến lược và ý chí chính trị của cả hai bên; đủ năng lực nguồn lực và cơ chế triển khai thực thi.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể: (1) Tạo dựng đan xen lợi ích: Đẩy mạnh gắn kết chuỗi cung ứng, thương mại chất lượng cao, hợp tác công nghệ lõi và chuyển đổi năng lượng. (2) Thúc đẩy lòng tin: Duy trì tiếp xúc cấp cao thường xuyên, thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế, minh bạch hóa chính sách, khéo léo quản trị bất đồng. (3) Nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác: Rà soát, tái cấu trúc các cơ chế kém hiệu quả; nâng cao vai trò điều phối liên ngành; tăng cường giám sát thực thi các thỏa thuận đã ký kết.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ nội hàm khái niệm "chiều sâu" và "đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu" trong khoa học quan hệ quốc tế tại Việt Nam.
  • Cụ thể hóa khung phân tích ba tiêu chí (đan xen lợi ích, lòng tin, cơ chế hợp tác), tạo công cụ phương pháp luận khoa học để đánh giá thực chất mối quan hệ giữa các quốc gia, phân biệt rõ giữa việc nâng cấp danh xưng ngoại giao (hình thức) với chiều sâu hợp tác trên thực tế (nội dung).
  • Vận dụng quy luật Lượng - Chất của phép biện chứng duy vật để giải thích cơ chế nội sinh trong việc chuyển hóa từ các kết quả hợp tác cụ thể sang việc xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới.

Về mặt thực tiễn:

  • Phục dựng và hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển tư duy chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam về đưa quan hệ đi vào chiều sâu từ Đại hội X (năm 2006) đến Đại hội XIII (năm 2021).
  • Đánh giá thực chứng thực trạng triển khai qua ba mối quan hệ đối tác tiêu biểu (Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam - CHLB Đức), chỉ rõ những thành tựu đạt được, các điểm nghẽn hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ, xác định rõ điều kiện cần và đủ nhằm định hướng công tác triển khai đưa các quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi vào chiều sâu thực chất đến năm 2030, phục vụ việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Về phạm vi không gian: Luận án chỉ tập trung tiếp cận ở cấp độ quan hệ song phương, chưa đi sâu khảo sát việc đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu trong các khuôn khổ đa phương (như ASEAN, Liên hợp quốc, APEC).
  • Về phạm vi đối tượng: Phần thực nghiệm chỉ tập trung phân tích sâu ba trường hợp điển hình (Trung Quốc, Hoa Kỳ, CHLB Đức), chưa thể bao quát hết toàn bộ mạng lưới hơn 30 đối tác chiến lược và toàn diện của Việt Nam.
  • Về nguồn dữ liệu: Một số hồ sơ ngoại giao chuyên ngành và quy trình đàm phán cụ thể có tính chất bảo mật nội bộ nên chưa thể tiếp cận toàn diện để lượng hóa chi tiết.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng kiểm chứng khung phân tích ba tiêu chí đối với các nhóm đối tác khác, bao gồm các nước láng giềng đặc biệt (Lào, Campuchia) và các đối tác tiềm năng tại các khu vực Nam Á, Mỹ Latinh, Trung Đông - Châu Phi.
  • Ứng dụng khung lý thuyết để nghiên cứu tiến trình đưa quan hệ đi vào chiều sâu trong các thể chế hợp tác đa phương và các lĩnh vực ngoại giao chuyên biệt (ngoại giao kinh tế, ngoại giao số, ngoại giao khí hậu).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Chính trị học và Nghiên cứu chính sách đối ngoại.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu, hoạch định và thực thi chính sách tại Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương, các cơ quan ban ngành phụ trách công tác đối ngoại thuộc Đảng, Nhà nước và Quốc hội.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao bao gồm:

  • Khung phân tích ba tiêu chí (đan xen lợi ích, lòng tin, cơ chế hợp tác) tại Chương 1, có thể sử dụng làm công cụ phương pháp luận để đánh giá các mối quan hệ song phương khác.
  • Các phân tích trường hợp cụ thể giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hoa Kỳ và Đức tại Chương 2.
  • Phụ lục 1 về phương pháp xây dựng lý thuyết từ trường hợp nghiên cứu và Phụ lục 3 tổng hợp danh mục cơ chế hợp tác liên bộ ngành, địa phương giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thuật ngữ "đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu" lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong văn kiện nào của Đảng Cộng sản Việt Nam? Thuật ngữ này được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006), sau đó tiếp tục được bổ sung, phát triển tại các kỳ Đại hội XI, XII và Đại hội XIII (năm 2021).

  2. Khung phân tích lý luận của luận án xác định những tiêu chí nào để đo lường chiều sâu trong quan hệ đối ngoại? Khung phân tích kế thừa từ nghiên cứu của Đặng Đình Quý và Nguyễn Vũ Tùng (2011), xác lập ba tiêu chí cốt lõi gồm: (1) Mức độ đan xen lợi ích và song trùng lợi ích; (2) Mức độ lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau; (3) Số lượng, tính chất và hiệu quả thực thi của các cơ chế hợp tác.

  3. Trong Chương 1, luận án khảo sát kinh nghiệm quốc tế của những quốc gia nào? Luận án lựa chọn khảo sát thực tiễn chính sách của ba quốc gia: Trung Quốc (nước lớn láng giềng có mạng lưới đối tác rộng khắp), Hoa Kỳ (cường quốc toàn cầu với hệ thống đồng minh và đối tác đa dạng) và Indonesia (quốc gia Đông Nam Á có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và không liên minh, có bối cảnh tương đồng với Việt Nam).

  4. Yếu tố nào đóng vai trò then chốt trong việc củng cố lòng tin giữa Việt Nam và Hoa Kỳ theo phân tích của luận án? Theo luận án, nền tảng cốt lõi để củng cố lòng tin giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là sự tôn trọng thể chế chính trị của nhau và việc hợp tác giải quyết các vấn đề hậu quả chiến tranh (như tìm kiếm quân nhân mất tích POW/MIA, xử lý môi trường nhiễm dioxin tại các sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa và rà phá bom mìn tồn sót).

  5. Đến năm 2023, mạng lưới đối tác của Việt Nam đã đạt quy mô như thế nào? Tính đến năm 2023, Việt Nam đã thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược và Đối tác Toàn diện với 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và toàn bộ các thành viên nhóm G7.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Chí Trung đã giải quyết thấu đáo câu hỏi nghiên cứu về bản chất của chiều sâu và phương thức đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu thông qua việc xây dựng khung phân tích ba tiêu chí: đan xen lợi ích, lòng tin và cơ chế hợp tác. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích chính sách và nghiên cứu trường hợp điển hình (Trung Quốc, Hoa Kỳ, CHLB Đức), công trình đã phản ánh khách quan quá trình phát triển tư duy đối ngoại của Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2023. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam theo hướng thực chất, hiệu quả trong giai đoạn đến năm 2030.