MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngày 18/1/1950 đánh dấu sự kiện quan trọng trong quan hệ Việt Nam — Trung Quốc, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Peoples Republic Of China) chính thức công nhận và thiết lập quan hệ với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là mốc son quan trọng trong quan hệ hai nước ở thời đại mới, kết quả tất yếu của tinh hữu nghị hai dân tộc, nhân dân hai nước được các nhà cách mạng tiền bối Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông dày công vung đắp trong quá trình cách mạng trước đó [61, tr. Trong suốt quá trình hình thành, xây dựng và phát triển giữa hai nước, quan hệ giữa hai nước đã có nhiều thành tựu quan trọng góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Lịch sử quan hệ Việt Nam — Trung Quốc đã ton tại những điểm khác biệt, bất đồng, song hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính. Tháng 11/1991, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hồi động Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đánh dấu bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, mở ra một thời kỳ quan hệ mới giữa hai nước. Ké từ đó, các chuyến thăm của lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên được duy trì. Qua các chuyến thăm đó, hai bên đã đưa ra nhiều nhận thức chung góp phan vào 6n định trong quan hệ của hai nước.
Việt Nam và Trung Quốc xác định quan hệ hai nước theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” vào năm 1999 và tinh than 4 tốt “láng giéng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” vào năm 2005. Năm 2008, hai nước thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiên lược toàn diện. Tuy nhiên, từ khi Tổng Bi thư Tập Cận Bình chính thức lên nắm quyền (11/2012), Trung Quốc đã có những sự điều chỉnh trong chiến lược đối ngoại đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ khi lên nắm quyền, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã chú trọng việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác đối ngoại.
Dai hội XIX DCS Trung Quốc nhắn mạnh mục tiêu của ngoại giao Trung Quốc trong giai đoạn sắp tới là phải đưa Trung Quốc “tiến gần đến vũ đài quyên lực thế giới” thông qua việc xây dựng “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”, xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới” đồng thời xây dựng “mạng lưới quan hệ đối tác toàn diện”. Là một nước có vị trí địa lý và quan hệ chính trị đặc biệt với Trung Quốc, Việt Nam cũng đã bị tác động nhiều với những điều chỉnh về chiến lược đối ngoại của Trung Quốc. Với những sự điều chỉnh đó, trong giai đoạn 2012 — 2017, quan hệ chính trị Việt Nam — Trung Quốc cũng đã có những biến động nhất định. Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Quan hệ chính trị Việt Nam — Trung Quốc giai đoạn 2012-2017” là luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam — Trung Quốc không phải là một hướng nghiên cứu mới nhưng di sâu vào nghiên cứu quan hệ chính tri giữa hai nước, đặc biệt là giai đoạn 2012 — 2017 là một van đề chưa được nhiều công trình nghiên cứu cụ thê được công bô, cụ thê: Nhóm công trình liên quan đến quan hệ chính trị quốc tế Thứ nhất, cuỗn sách The Oxford Handbook of International Relations (Oxford Handbooks) cua tac gia Christian Reus-Smit va Duncan Snidal. Cuốn sách cung cấp các kiến thức tổng quan về quan hệ quốc tế. Cuốn sách phân tích quan hệ quốc tế dưới các lý thuyết khác nhau, khảo sát bằng nhiều phương pháp nghiên cứu, đưa ra nhiều phương pháp thực nghệm, giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa học thuật và hoạch định chính sách đối ngoại của từng quốc gia. Thứ hai, cuỗn sách Giáo trình Quan hệ chính trị quốc té của tác giả Dương Xuân Ngọc và Lưu Văn An.
Nội dung cuốn sách đã trình bày và phân tích những chủ thé trong quan hệ chính trị quốc tế (bao gồm các quốc gia có chủ quyên, tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia, các phong trào chính trị — xã hội và các chủ thé — cá nhân với tư cách là các chính khách phi chính phủ). Trong đó, quốc gia — chủ thé chủ yếu của quan hệ chính trị quốc tế — được phân tích sâu về khía cạnh lợi ích quốc gia, sức mạnh quốc gia, chủ quyền quốc gia. Những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị quốc tế cũng được phân tích đầy đủ như: cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, địa — chính trị, khủng bố quốc tế. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng phân tích tình hình quan hệ chính trị quốc tế thời kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh, những xu hướng chủ yếu của quan hệ chính trị quốc tế đương đại và chiến lược “diễn biến hòa bình” của các nước tư bản; cơ sở hoạch định và sự vận hành chính sách đối ngoại của nhà nước — quôc gia cũng là những nội dung khá quan trọng trong cuôn sách.
Thứ ba, cuỗn sách Một số van dé chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay của tác giả Nguyễn Hoàng Giáp. Đây công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong đời sống chính trị quốc tế. Cuốn sách đã phân tích những khái niệm trong quan hệ chính trị quốc tế như: chính trị quốc tế, quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các phong trào chính trị trên thế giới,. Ngoài ra, cuốn sách đã đề cập tới những vấn đề mang tính thời sự của nền chính trị quốc tế hiện nay như: xu thé toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa các nước lớn, chủ nghĩa khủng bồ và trật tự thế giới mới.
Cuốn sách cũng đưa ra một bức tranh đa dạng về nên chính trị của mỗi quốc gia tham gia vào quá trình quan hệ chính tri quôc tê. Thứ tw, cuỗn sách Đại cương về chính trị học quốc tế do tác giả Ngô Phương Nghị chủ biên. Cuốn sách có hai phần chính bao gồm: Nhập môn chính trị học quốc tế và nền chính trị quốc tế đương đại. Trong đó, cuốn sách đã trình bày những điểm lớn của nên chính trị quốc tế với tư cách là quá trình nhận thức và quá trình hiện thực được trình bày rõ ràng, cụ thể.
Cuốn sách cũng đã phân tích những nội dung cơ bản của nền chính trị quốc tế đương đại với các van đề như toàn cầu hóa, xung đột và giải quyết các van đề kinh tế, môi trường, di cư, an ninh năng lượng, nhân quyền, các về đề an ninh phi truyền thống. Ngoài ra, có thé kế đến một số công trình tiêu biểu khác như: Mét số vấn đề quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam (2018) của Vũ Dương Huân; Quan hệ quốc tế-Những khía cạnh lý thuyết và van dé (2006) của Nguyễn Quốc Hùng, Hoàng Khắc Nam; Lý thuyét quan hệ quốc tế (2017) của tác giả Hoàng Khắc Nam chủ biên; Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử của (2014) của Hoàng Khắc Nam; Quan hệ Quốc tế-Các phương pháp tiếp cận (2003) của Đoàn Văn Thắng. Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ chính trị Việt Nam — Trung Quốc Thứ nhất, cuỗn sách Living Next to the Giant: The Political Economy of Vietnam's Relations with China under Doi Moi cua tac gia Lé Hồng Hiệp. Cuốn sách xem xét mối quan hệ Việt Nam — Trung Quốc trong tương quan giữa các yếu tố chính trị và kinh tế trong thời kỳ Đổi mới của Việt Nam.
Cuốn sách đã trình bày những chính sách của linh hoạt Việt Nam trong thời kỳ đổi mới góp phan vào tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước vào năm 1991 và tổng kết quan hệ Việt Nam — Trung Quốc từ khi bình thường hóa quan hệ đồng thời đưa ra dự báo về quan hệ Việt Nam — Trung Quốc trong giai đoạn toi. Thứ hai, cuỗn sách Quan hệ Việt — Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc của Nguyễn Đình Liêm. Cuốn sách đánh giá tổng quá quá trình xây dựng và phát triển quan hệ Việt Nam — Trung Quốc trước tác động của Trung Quốc đang trong quá trình trỗi dậy. Cuốn sách đã đánh giá toàn diện thực trạng quan hệ Việt Nam — Trung Quốc trước những nhân tố tác động trong khu vực và trên thế giới.
Đặc biệt nhắn mạnh đến những chính sách cụ thể của nước ta như kiên định giữ vững quan hệ hữu nghị — hợp tác quan hệ Việt Nam — Trung Quốc nhưng vẫn bảo đảm được lợi ích quốc gia — dân tộc. Thứ ba, cuỗn sách Chính trị Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những van dé đặt ra cho Việt Nam của tác giả Đỗ Tiến Sâm. Cuốn sách là công trình nghiên cứu về sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc trong những năm dau thế kỷ XXI. Với tu cách là đảng cầm quyền duy nhất, DCS Trung Quốc đã triển khai và thực hiện nhiều chính sách, trong có có vấn đề xây dựng và phát triển chính trị.
Cuốn sách đã đặc biệt nhắn mạnh đến mối quan hệ giữa sự phát triển chính và sự trỗi dậy trị của Trung Quốc, cụ thé được thé hiện ở ba phương diện chính: thứ nhất, van đề dân chủ hóa kinh tế, dân chủ hóa chính trị, giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Trung Quốc; thir hai, vẫn đề duy trì sự ôn định chính trị trong nước của Trung Quốc; thứ ba, giải quyết mối quan hệ giữa chính trị đối nội và đối ngoại của Trung Quốc. Thứ tu, cuôn sách Thế hệ lãnh dao thứ năm của Trung Quốc — Những điêu chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động tới khu vực Châu A — Thái Bình Dương do Nguyễn Thái Yên Hương làm chủ biên. Cuốn sách là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về nền chính trị Trung Quốc, đặc biệt là cơ chế “thế hệ lãnh đạo”. Tính đến nay, Trung Quốc đã trải qua bốn thế hệ lãnh đạo bao gồm: Mao Trạch Đông, Đặng Tiêu Binh, Giang Trạch Dân, Hồ Cam Dao.
Hiện nay Tập Cận Bình vừa là Tổng Bí thư, vừa là Chủ tịch nước của thế hệ lãnh đạo thứ năm. Với tính chất là một đảng cầm quyền duy nhất các lãnh đạo Trung Quôc có chung quan điêm nhât quán vê cơ chê, mục tiêu, cách thức triển khai đường lối đối ngoại nhất định, tạo thành bản sắc trong đối ngoại của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của DCS Trung Quốc.