Chương 1 NHỮNG YEU TO CƠ BẢN TÁC ĐỘNG DEN QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUOC NHỮNG NĂM DAU THE KỶ XXI 1. Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ sau bình thường hóa (1991-2000) Có thể nói, mười năm đầu sau khi quan hệ hai nước bình thường hoá, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục. với những kết quả tốt đẹp. Đặc biệt là hai nước đã giải quyết được hai van đề do lich sử dé lại là phân giới trên đất liền và trong Vịnh Bắc Bộ.
Về chính trị, hàng năm hai bên tiến hành các cuộc trao đổi giữa những nhà lãnh đạo cao cấp nhất. Hai bên đã đề ra nguyên tắc chung trong quan hệ giữa hai nước là “láng giéng thân thiện, 6n định lâu dai, hợp tác toàn diện, hướng tới tương lai”. Dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sông hoà bình (tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đăng cùng có lợi, chung sông hoà bình) hai bên đã tiến hành hợp tác mọi mặt kinh tế - văn hoá - khoa học - giáo dục. Ngoài các cuộc thăm viếng chính thức của các đoàn cấp cao, các doan đại biểu ở các ngành địa phương, các đoàn thê, tổ chức xã hội cũng có sự trao đổi, giao lưu nhăm tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Qua đó, nhân dân hai nước có thêm hiểu biết về nhau, về tình hình kinh tế - xã hội của nhau, góp phan thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước. Năm 1999, Tổng Bí th hai Đảng đã xác định ph ong châm 16 chữ phát triển quan hệ hain ớc trong thế kỷ XXI là: “láng giềng thân thiện, ôn định lâu dài, hợp tác toàn diện, hướng tới tương lai”. Điều này phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai n ớc, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Để thực hiện có hiệu quả ph ơng châm chỉ đạo 16 chữ, không ngừng thúc đẩy quan hệ hai n ớc b ớc sang một giai đoạn phát triển mới trong thế kỷ 21; năm 2000, hai nước đã ra Tuyên bố về hợp tác toàn diện Việt Nam - Trung Quốc: “hai bên khẳng định lại, tiếp tục căn cứ theo tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến ch ơng Liên Hợp quốc, 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và các nguyên tắc quan hệ quốc tế đã đ ợc thừa nhận, thúc đẩy quan hệ hai n ớc phát triển toàn diện.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị trên cơ sở các nguyên tắc: độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc s9) nội bộ của nhau”`” và đồng ý tăng c Ong va mở rộng hợp tác trong mọi lĩnh vực. Về quan hệ kinh tế: Thương mại và đầu tư giữa hai nước phát triển mạnh mẽ. Sự khai thông của tuyến đường sắt, đường biển và hàng không đã góp phần quan trọng cho sự phát triển mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước. Về thương mại song phương, kim ngạch mậu dịch giữa hai nước có sự tăng trưởng đáng kể, năm 1991 chỉ có trên 32 triệu USD, đến năm 1999 đã tăng lên 1318 triệu USD, riêng trong năm 2000 tăng lên 2.
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Trung Quốc Chung Dung Cơ nhân dịp Thủ tướng sang thăm Trung Quốc tháng 9/2000, hai Thủ tướng đã nhất trí đây mạnh hơn nữa trao đổi kinh tế - thương mại trong những năm tới, nâng tông kinh ngạch xuất nhập khẩu tăng trên 2 tỷ USD. Phía Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp có thực lực, có tín nhiệm khai thác thị trường Việt Nam với chính sách ưu đãi và ủng hộ về tiền vốn. Công tác xuất nhập khâu các mặt hàng truyền thống giữa hai nước sẽ được tăng cường. Việc buôn bán qua biên giới được chan chỉnh quản lý chặt chẽ.
Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1999 khăng định: trên nguyên tắc bình đăng cùng có lợi, chú trọng hiệu qua va chất lượng, hình thức da dang, cùng nhau phát triển, hai bên quyết tâm cùng nỗ lực phát ® Tuyên bốchung về hợp tác toàn diện Việt Nam - Trung Hoa, ký tại Bắc Kinh này 25 tháng 12 năm 2000 6 huy hơn nữa vai trò chủ đạo của các công ty lớn, mở rộng mậu dịch với khối lượng và kim ngạch lớn, khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp của hai bên triển khai hợp tác các dự án lớn, tạo điều kiện thuận lợi đề họ đầu tư lẫn nhau; thúc đây mậu dịch biên giới hai nước phát triển lành mạnh có trật tự. Như vậy, việc mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước còn nhiều tiềm năng to lớn và triển vọng sáng sủa. Sự phát triển quan hệ chính trị - thương mại đã góp phần thúc đây quan hệ hợp tác về văn hoá, giáo dục, thể thao và du lịch Việt Nam và Trung Quốc ngày càng phát triển, trở thành các hoạt động thường xuyên thê hiện tình hữu nghị giữa hai nước. Hai bên tiến hanh trao đổi các đoàn nghệ thuật biểu diễn, phối hợp trong hợp đồng du lịch; tăng cường các hoạt động tuyên truyền về nước này tại nước kia.
Từ đó, nhân dân hai nước có thêm sự hiểu biết về nhau, củng có thêm một bước tình hữu nghị giữa hai nước. Hai bên còn tiễn hành các hoạt động trao đôi về hoạt động hợp tác về giáo dục như tao đối lưu học sinh, thực tập sinh, cùng nhau nghiên cứu về các van đề hai bên cùng quan tâm. Thành tựu đặc biệt quan trọng trong mười năm đầu sau khi quan hệ Việt - Trung được bình thường hoá là hai bên đã ký Hiệp ước về biên giới trên bộ (1999), Hiệp định phân giới Vịnh Bắc Bộ (năm 2000), Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ (2000). Việc ký kết các Hiệp định này có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giéng hữu nghị, hop tác toàn diện giữa hain Gc phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ XXI.
Trong các van dé do lịch sử dé lại giữa Việt Nam và Trung Quốc có ba van đề liên quan đến biên giới lãnh thổ. Đó là: xác định đường biên giới trong đất liền; phân định Vinh Bắc Bộ và van đề biên Đông (van dé Hoàng Sa, Trường Sa cũng như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam). Sau nhiều vòng đàm phán các cấp về giải quyết các van đề tranh chấp biên giới lãnh thỏ, hai nước đã tìm được tiếng nói chung, đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Vẫn đề biên giới trên đất liền: Biên giới Việt - Trung tồn tại nhiều tranh chấp, hơn 100 điểm, gây khó khăn cho quan hệ hai nước, đặc biệt là giao lưu giữa các tỉnh vùng biên.
Theo thoả thuận của lãnh đạo cấp cao, hai nước đã khẩn trương đàm phán, giải quyết vẫn đề biên giới trên đất liên trước năm 2000. Sau 6 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 16 vòng đàm phán cấp chuyên viên, ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại Hà Nội, Hiệp ước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được Bộ trưởng ngoại giao hai nước ký kết, tạo cơ sở cho việc thực hiện phân giới cắm mốc xác định biên giới và thúc đây hoạt động trao đôi thương mại, đặc biệt là hoạt động mậu biên. Đến cuối năm 2008, hai bên đã hoàn thành phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền theo đúng kế hoạch và thời gian đề ra. Về vấn đề tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ: Là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là hải sản và dầu mỏ, là cửa ngõ giao lưu hang hải lớn, Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về kinh tế, quốc phòng và an ninh.
Khu vực này cũng đã từng chứng kiến hợp tác của hai nước đánh bắt thuỷ hải sản, nghiên cứu khoa học những năm 1960s. Mặc dù ngay sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết năm 1973, Việt Nam đã chủ động đề nghị đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ nhưng do lập trường của hai nước khác xa nhau, đàm phán không đi đến kết quả, từ đó gây nên sự không rõ ràng về chế độ pháp lý của Vịnh, ảnh hưởng đến quan hệ hai nước. Sau khi bình thường hoá quan hệ năm 1991, hai nước đã ký “Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết van đề biên giới lãnh thổ” năm 1993, tạo cơ sở pháp lý mang tính nguyên tắc cho việc giải quyết về sau. Hai nước đã thống nhất sẽ “áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công băng”.
Trải qua 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp không chính thức cấp trưởng đoàn đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đám phán cấp chuyên viên nhóm cộng tác liên hợp, 10 vòng họp tổ chuyên gia đo vẽ phục vụ phân vịnh và xây 8 dựng tổng đồ Vinh Bắc Bộ”. hai nước đã chính thức ký kết Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ năm 2000 tạo điều kiện thuận lợi duy trì 6n định, quản lý, phát triển và hợp tác quốc tế trong Vịnh. “Đây là thành tựu của hai nước, là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dau bước phát triển mới hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước láng giềng””” Còn về van dé tranh chấp trên Biển Đông (Trung Quốc gọi là “Nam Hải”) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), do nhiều nguyên nhân hai bên chưa đi đến những giải pháp dé giải quyết tranh chấp ngoài việc cam kết sẽ tiếp tục giải quyết bằng con đường thương lượng, hoà bình. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thế kỷ, lãnh đạo hai nước đã ra “Tuyên bồ về hợp tác toàn diện trong thé kỷ mới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước Cộng hoa nhân dân Trung Hoa” tạo tinh than hữu nghị và cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác giữa hai nước trong những năm đầu thé kỷ XXI.
Bối cảnh lịch sử những năm đầu thé kỷ XXI 1. Tình hình thế giới và khu vực 1.