Tổng quan luận án
Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006", thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01). Luận án do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Quỳnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trần Kim Đỉnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2014.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy quá trình mở cửa, hội nhập của các quốc gia vào nền kinh tế thế giới. Đối với Việt Nam, một quốc gia bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh và khủng hoảng kinh tế - xã hội, việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại trở thành chỗ dựa thiết yếu và động lực để tranh thủ nguồn lực bên ngoài, vượt qua nguy cơ tụt hậu. Mặc dù Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng và lãnh đạo đạt được những thành quả lớn sau 20 năm đổi mới, thực tế hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện vẫn bộc lộ những bất cập như thiếu chiến lược tổng thể quốc gia, khả năng cạnh tranh thấp và tình trạng nhập siêu kéo dài. Do đó, một công trình tổng kết toàn diện, có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế đối ngoại giai đoạn 1986 - 2006 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng là yêu cầu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006, từ đó rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu để vận dụng vào thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Làm rõ những nhân tố tác động và nhu cầu cấp thiết về đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại; phân tích yêu cầu mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006.
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng từ năm 1986 đến năm 2006.
- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại những năm 1986 - 2006.
Đối tượng nghiên cứu là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, bao gồm các quan điểm, chủ trương cùng những giải pháp, biện pháp chỉ đạo thực hiện của Đảng.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung khoa học: Tập trung vào các lĩnh vực nòng cốt của kinh tế đối ngoại gồm hợp tác đầu tư với nước ngoài (FDI, ODA); ngoại thương và hoạt động xuất - nhập khẩu; hợp tác khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ (du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế).
- Về thời gian: Giới hạn trọng tâm từ năm 1986 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI) đến năm 2006 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X), có liên hệ khái quát giai đoạn trước 1986 và sau 2006 để đảm bảo tính liên tục của lịch sử.
- Về không gian: Không gian của chủ thể thực hiện hoạt động kinh tế đối ngoại (Việt Nam) trong mối quan hệ tương tác với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả đã tiến hành khảo cứu, phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước thành ba nhóm chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu có đề cập đến hoạt động kinh tế đối ngoại quốc tế và khu vực.
Nhóm này gồm các nghiên cứu tiêu biểu:
- Lê Hồng Phục và Đỗ Đức Định (1988), Một số vấn đề kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển châu Á, Nxb Khoa học Xã hội, phân tích xu hướng mở cửa và tự do hóa kinh tế đối ngoại của các nước châu Á.
- Mohamed Ariff và Hal Hill (1992), Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: Kinh nghiệm của ASEAN, Nxb Khoa học Xã hội, tổng kết hai giai đoạn công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu.
- Bùi Tất Thắng (1995), bài viết "Chính sách kinh tế đối ngoại của các nước châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ sau Chiến tranh lạnh" (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 6).
- Masahiko Aoki, Hyung-Ki Kim và Masahiro Okuno-Fujiwara (1998), The Role of Government in East Asian Economic Development: Comparative Institutional Analysis, Nxb Đại học Oxford.
- Arkhipov (1998), bài viết "APEC - những ưu, nhược của sự hội nhập" (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4).
- Eun Mee Kim (1999), The Four Asian Tigers: Economic Development and the Global Political Economy, Nxb Emerald.
- Takatoshi Ito và Anne O. Krueger (2000), The Role of Foreign Direct Investment in East Asian Economic Development, Nxb Đại học Chicago.
- Masahisa Fujita (2008), Economic Integration in Asia and India, Nxb Palgrave Macmillan.
- Linda Yueh (2010), The Future of Asian Trade and Growth: Economic Development with the Emergence of China, Nxb Routledge.
- Anthony D'Costa (chủ biên, 2012), Globalization and Economic Nationalism in Asia, Nxb Đại học Oxford.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam.
Nhóm này tiếp cận kinh tế đối ngoại chủ yếu dưới góc độ kinh tế học, chính sách và thể chế:
- Ngô Bá Thành (1987), bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế (số 4) về phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa.
- Nguyễn Thế Uẩn (chủ biên, 1991), Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nxb Sự thật.
- Nguyễn Trần Quế (1991), Kinh tế đối ngoại Việt Nam thực tiễn và chính sách, Nxb Khoa học Xã hội.
- Đỗ Đức Định (1993), Kinh tế đối ngoại: Nghiên cứu so sánh các nước đang phát triển châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Thị Minh Tâm (1994), luận án phó tiến sĩ về mối quan hệ giữa kinh tế đối ngoại và tăng trưởng kinh tế.
- Vũ Phạm Quyết Thắng (1994), Kinh tế đối ngoại Việt Nam, nội dung - giải pháp - hiệu quả, Nxb Thống kê.
- Nguyễn Trọng Xuân (1995, 2002) với các công trình trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế và sách chuyên khảo về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Võ Đại Lược (chủ biên 1995, bài viết 2003) với các công trình về đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế.
- Lưu Văn Đạt, Dương Văn Long và Lê Nhật Thức (1996), Đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại, Nxb Chính trị Quốc gia.
- Cao Sỹ Kiêm (1999) trên Tạp chí Cộng sản (số 7); Hà Xuân Vấn (2000), luận án tiến sĩ kinh tế; Võ Hùng Dũng (2002) trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế (số 293, 294); Lê Nguyễn Đương (2002), luận án tiến sĩ kinh tế.
- Lê Thanh Bình (2002), Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia; Ngô Văn Lương (2003) trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới; Ngô Văn Điểm (chủ biên, 2004), Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
- Hoàng An Quốc (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ, 2004); Võ Văn Đức (2004), sách về lợi thế so sánh trong xuất khẩu; Phan Huy Đường (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ 2005, sách năm 2007); Trần Xuân Tùng (2005) về thực trạng FDI; Nguyễn Thường Lạng (2007) trên Tạp chí Kinh tế và phát triển; Nguyễn Hồng Hải (2009), luận án tiến sĩ kinh tế; Đinh Xuân Lý (2013), Đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (1945 - 2012).
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại.
Bao gồm các bài viết trên các tạp chí lý luận chuyên ngành:
- Lâm Đình Ngọc (2001) trên Tạp chí Cộng sản (số 11) về ngoại giao phục vụ kinh tế.
- Phan Trọng Thức (2003, 2004) trên Tạp chí Cộng sản (số 26) và Tạp chí Kinh tế và phát triển (số 88).
- Vũ Khoan (2004, 2006) trên Tạp chí Quản lý nhà nước (số 1/2004) và Tạp chí Lý luận chính trị (số 11/2006).
- Hoàng Ngọc Hòa (2005) trên Tạp chí Lịch sử Đảng (số 1); Phan Xuân Sơn (2005) trên Tạp chí Lịch sử Đảng (số 11, 12).
- Nguyễn Thị Thủy (2009) trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại (số 34); Nguyễn Thị Thu Hiền (2010) trên Tạp chí Lịch sử Đảng (số 7).
Khoảng trống nghiên cứu: Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu phân tích dưới góc độ kinh tế học, kinh tế chính trị hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi một nhiệm kỳ Đại hội riêng lẻ (như Đại hội IX). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại trong suốt 20 năm đổi mới (1986 - 2006) dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khái niệm, luận án tiếp cận kinh tế đối ngoại là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ của một quốc gia với các quốc gia khác hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại mang hai đặc trưng căn bản: là quan hệ kinh tế có yếu tố bên ngoài với cơ cấu nhiều tầng nấc (cấp chính phủ, địa phương, doanh nghiệp); và là lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều hình thức hoạt động liên kết chặt chẽ (ngoại thương, hợp tác đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, dịch vụ thu ngoại tệ) nhằm xác định vị trí của nền kinh tế quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khung phân tích của luận án đặt sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: Vận dụng phương pháp lịch đại và đồng đại để dựng lại tiến trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng qua từng giai đoạn cụ thể.
- Phương pháp lôgíc: Khái quát hóa, hệ thống hóa các sự kiện lịch sử để làm rõ bản chất quy luật và đúc rút bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê số liệu và tiếp cận liên ngành giữa sử học với kinh tế học.
Nguồn tư liệu thực hiện luận án gồm:
- Các văn kiện Đại hội, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết và Quyết định của Bộ Chính trị (như Nghị quyết số 13-NQ/TW năm 1988, Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 1989, Cương lĩnh năm 1991, Nghị quyết số 03-NQ/TW năm 1992, Nghị quyết số 01-NQ/TW năm 1996, Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2001).
- Văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo tổng kết của Nhà nước: Hiến pháp năm 1992, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật Thuế xuất - nhập khẩu năm 1991, các Nghị định của Chính phủ/Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư của các Bộ chuyên ngành lưu trữ tại Văn phòng Chính phủ và các Bộ.
- Số liệu từ Niên giám thống kê và các công trình nghiên cứu khoa học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đảng lãnh đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 1995
Chương này trình bày bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng trong thập niên đầu đổi mới.
Về bối cảnh tác động: Sau năm 1975, Việt Nam bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với hậu quả chiến tranh nặng nề (chịu hơn 7.000 tấn bom đạn của Mỹ, gần 2 triệu người thiệt mạng, hơn 2 triệu người tàn tật, khoảng 5 vạn trẻ em bị dị dạng do chất độc da cam), bị bao vây cấm vận và lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Trước năm 1986, quan hệ kinh tế đối ngoại chủ yếu dựa vào viện trợ và hợp tác trong khối SEV, nhưng mô hình kế hoạch hóa tập trung phi thị trường cùng sự trì trệ của các nước xã hội chủ nghĩa (năng suất lao động kém 4 lần so với các nước tư bản; xuất khẩu chỉ chiếm 12 - 15% tổng thu nhập quốc dân so với 40% của phương Tây) đã làm suy giảm nguồn lực viện trợ. Trên thế giới, cách mạng khoa học - công nghệ thúc đẩy phân công lao động toàn cầu; vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) dẫn tới việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 01/01/1995 với 136 thành viên; các liên kết khu vực như AFTA (1992), EU (1993), NAFTA (1994) hình thành; Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa từ tháng 12/1978.
Về chủ trương của Đảng: Đại hội VI (12/1986) xác định đổi mới mô hình kinh tế, coi việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại là nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa. Các chủ trương tiếp tục được cụ thể hóa:
- Tháng 12/1987: Ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (có hiệu lực từ tháng 01/1988 gồm 41 điều).
- Ngày 20/05/1988: Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13-NQ/TW với chủ đề "giữ vững hòa bình phát triển kinh tế", chuyển từ đối đầu sang hợp tác cùng tồn tại hòa bình.
- Ngày 29/03/1989: Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) chủ trương xây dựng chiến lược kinh tế đối ngoại mở cửa.
- Cương lĩnh năm 1991 và Đại hội VII (1991) khẳng định đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuất khẩu.
- Hiến pháp năm 1992 (các Điều 16, 24, 25, 81) chính thức xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền ngoại thương, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài.
- Tháng 06/1992: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) xác định khai thông quan hệ với IMF, WB, ADB.
- Ngày 22/11/1994: Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 1005-CV/VPTW giao Chính phủ gửi đơn gia nhập WTO và chuẩn bị tham gia APEC.
Về sự chỉ đạo thực tiễn: Đảng chỉ đạo đổi mới cơ chế xuất - nhập khẩu, chuyển từ quản lý hành chính sang sử dụng thuế quan, bãi bỏ chế độ hạn ngạch nhập khẩu, chỉ giữ hạn ngạch xuất khẩu cho hàng dệt may và sắn lát; thực hiện kế hoạch định hướng đầu mối (50 - 70% mức hàng hóa giao cho doanh nghiệp đầu mối, 30 - 50% dành cho các doanh nghiệp khác). Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và tham gia AFTA, kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN năm 1995 chiếm 23,9% tổng kim ngạch cả nước.
Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu kinh tế đối ngoại tiêu biểu giai đoạn 1986 - 1990 được văn bản ghi nhận:
| Năm |
Kim ngạch xuất khẩu (Triệu USD) |
Tăng trưởng xuất khẩu (%) |
Xuất khẩu gạo (Triệu tấn) |
Dòng vốn FDI đăng ký (Triệu USD) |
Tăng trưởng FDI (%) |
| 1986 |
798,1 |
+12,9% |
Nhập siêu lương thực |
- |
- |
| 1988 |
1.038,4 |
+21,56% |
Phải nhập 50 vạn tấn |
341,7 |
- |
| 1989 |
- |
- |
1,4 (thứ 2 thế giới) |
525,5 |
+53,8% |
| 1990 |
2.404,0 |
+23,5% |
1,6 |
735,0 |
+39,9% |
(Đến tháng 10/1989, Việt Nam đã cấp phép cho 96 dự án FDI với tổng vốn 755,272 triệu USD từ hơn 2.500 đoàn khách quốc tế vào tìm hiểu).
Chương 2: Đảng lãnh đạo mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1996 đến năm 2006
Chương 2 phân tích sự chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Về hoàn cảnh và chủ trương: Giai đoạn này thế giới chứng kiến xu thế toàn cầu hóa sâu rộng cùng cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á (1997 - 1998). Đảng ban hành các nghị quyết quan trọng: Nghị quyết số 01-NQ/TW năm 1996 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; các quan điểm tại Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) – lần đầu tiên xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế riêng biệt – và Đại hội X (2006) với đường lối "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế".
Về chỉ đạo các lĩnh vực kinh tế đối ngoại:
- Hoạt động xuất - nhập khẩu: Mở rộng thị trường, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng hàng chế biến, giảm xuất khẩu khoáng sản thô; duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu trung bình từ 15 - 20%/năm (cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/năm).
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Tăng cường thu hút vốn FDI và khai thông các nguồn vốn ODA từ các tổ chức tài chính quốc tế và các nước tài trợ, phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài: Từng bước hình thành và chỉ đạo hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang các thị trường trong khu vực.
- Hợp tác khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và dịch vụ thu ngoại tệ: Phát triển các ngành dịch vụ quốc tế như du lịch, hàng không, vận tải biển, bảo hiểm và xuất khẩu lao động.
Đánh giá thành tựu và hạn chế: Đảng lãnh đạo đưa nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cả 3 cấp độ (nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm) còn thấp, cơ cấu xuất khẩu còn phụ thuộc vào tài nguyên và nông sản thô, tình trạng nhập siêu lớn chưa được giải quyết triệt để.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương này tổng kết các đánh giá mang tính khái quát lịch sử và rút ra các bài học kinh nghiệm:
Về nhận xét:
- Đảng có sự phát triển nhận thức ngày càng rõ hơn về tầm quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, chuyển từ ngoại giao chính trị đơn thuần sang ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế.
- Không ngừng hoàn thiện hệ thống quan điểm, chủ trương, luật pháp và chính sách về kinh tế đối ngoại phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Luôn kiên định chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại đi đôi với giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Bảo đảm tính đồng bộ trong chỉ đạo các lĩnh vực kinh tế đối ngoại nhưng biết lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm theo từng thời kỳ.
- Luận án chỉ ra các hạn chế: Hoạch định chủ trương có phần chậm trễ, chưa xây dựng được chiến lược tổng thể quốc gia về kinh tế đối ngoại, chưa có lộ trình mở cửa cụ thể cho từng ngành; năng lực điều hành quản lý còn bất cập; khả năng cạnh tranh kém dẫn đến nhập siêu lớn.
Về bài học kinh nghiệm: Tác giả đúc kết 5 kinh nghiệm chủ yếu:
- Chú trọng tính thống nhất trong chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại với chủ trương cải cách kinh tế trong nước.
- Hoạch định chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với đặc điểm kinh tế khu vực và thế giới.
- Hoạch định chủ trương về kinh tế đối ngoại gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
- Bảo đảm nguyên tắc độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa trong lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Chú trọng các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế đối ngoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học chủ yếu sau:
- Về mặt lý luận và lịch sử: Hệ thống hóa một cách toàn diện và làm rõ quá trình phát triển đường lối, chủ trương cùng sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 1986 - 2006. Dựng lại bức tranh khách quan về thực trạng kinh tế đối ngoại của đất nước trong 20 năm đầu đổi mới.
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, chỉ rõ những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng; từ đó đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho việc hoạch định và thực thi chính sách kinh tế đối ngoại, hội nhập quốc tế hiện nay.
- Về giải pháp đề xuất: Đề xuất các định hướng nhằm hoàn thiện thể chế quản lý, nâng cao sức cạnh tranh vĩ mô và vi mô, giải quyết hài hòa giữa mở cửa kinh tế với bảo đảm độc lập tự chủ và an ninh quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án chủ yếu tập trung phân tích tiến trình lịch sử sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 đến năm 2006; các giai đoạn trước 1986 và sau 2006 chỉ được trình bày mang tính chất khái quát, liên hệ tiếp nối.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế đối ngoại trong giai đoạn Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO từ năm 2007 trở đi) và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhằm đánh giá sự phát triển đường lối trong bối cảnh toàn cầu hóa ở nấc thang cao hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử kinh tế Việt Nam tại các học viện, trường đại học.
Các phần có giá trị tham khảo cao gồm:
- Hệ thống dữ liệu văn kiện Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về kinh tế đối ngoại giai đoạn 1986 - 2006.
- Bảng tổng hợp các sự kiện, chỉ tiêu thống kê về ngoại thương, xuất khẩu lương thực và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA) trong những năm đầu đổi mới.
- Hệ thống 5 bài học kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa mở cửa kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh.
Câu hỏi thường gặp
1. Đại hội VI (1986) đã đưa ra nhận thức mới nào về vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại?
Báo cáo Chính trị tại Đại hội VI xác định nhiệm vụ ổn định, phát triển kinh tế và tiến độ công nghiệp hóa phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại. Đây là bước chuyển hướng tư duy từ hoạt động ngoại giao chính trị đơn thuần sang ngoại giao chính trị kết hợp kinh tế, chủ trương tận dụng khả năng hợp tác quốc tế phục vụ công cuộc xây dựng đất nước.
2. Hiến pháp năm 1992 có những điểm mới nào thể chế hóa chủ trương kinh tế đối ngoại của Đảng?
Hiến pháp năm 1992 (các Điều 16, 24, 25, 81) đã chính thức bãi bỏ nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương; khẳng định Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng quan hệ kinh tế với mọi quốc gia; cam kết bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài và bảo đảm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa.
3. Sự chuyển biến trong hoạt động xuất khẩu lương thực của Việt Nam giai đoạn 1988 - 1990 diễn ra như thế nào?
Năm 1988, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 50 vạn tấn gạo. Nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước, đến năm 1989, lần đầu tiên sau 30 năm, Việt Nam xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, vươn lên đứng thứ hai thế giới; năm 1990 tiếp tục xuất khẩu 1,6 triệu tấn (tăng 14,3%).
4. Luận án chỉ ra những hạn chế chủ yếu nào trong sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế đối ngoại giai đoạn 1986 - 2006?
Luận án chỉ ra: Việc hoạch định chủ trương có phần chậm trễ, chưa xây dựng được chiến lược tổng thể quốc gia về kinh tế đối ngoại và lộ trình mở cửa cụ thể cho từng lĩnh vực; năng lực điều hành quản lý của bộ máy nhà nước còn bất cập; khả năng độc lập tự chủ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, dẫn đến tình trạng nhập siêu kéo dài.
5. Luận án đúc kết bao nhiêu bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo kinh tế đối ngoại 1986 - 2006?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm chủ yếu: (1) Bảo đảm tính thống nhất giữa chủ trương kinh tế đối ngoại với cải cách kinh tế trong nước; (2) Hoạch định chủ trương phù hợp với đặc điểm kinh tế khu vực và thế giới; (3) Gắn kinh tế đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh; (4) Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa; (5) Nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Đình Quỳnh là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, tái hiện có hệ thống quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại trong 20 năm đầu của công cuộc đổi mới (1986 - 2006). Bằng phương pháp lịch sử và lôgíc, tác giả đã làm rõ các bước chuyển biến về tư duy, chủ trương và kết quả chỉ đạo thực tiễn trên các lĩnh vực xuất nhập khẩu, thu hút FDI, ODA và hợp tác quốc tế. Những nhận xét và bài học kinh nghiệm được rút ra từ luận án cung cấp luận cứ lịch sử - khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và tham khảo trong quá trình tiếp tục mở rộng kinh tế đối ngoại của Việt Nam.