Chương 1: Những nhân tố tác động quan hệ chính trị - an ninh Việt Nam — Australia Chương này phân tích các yếu tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Australia. Các yếu tố khách quan bao gồm tình hình thế giới và cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực. Các yêu tố chủ quan bao gồm lịch sử quan hệ giữa hai nước và những tương đồng trong lợi ích quốc gia của Việt Nam và Australia. Chương 2: Quan hệ chính trị và an ninh Việt Nam - Australia (2009-2019) Chương 2 là nội dung chính của luận văn.
Do đó, nội dung sẽ tập trung vào phân tích những kết qua đạt được trong quan hệ Việt Nam-Australia trên lĩnh vực chính trị an ninh, đặc biệt nhân mạnh vào các sự kiện lớn trong quan hệ giữa hai nước, các chương trình hành động và các văn kiện đã ký kết giữa hai bên trong giai đoạn này. Chương 3: Xu hướng phát triển quan hệ chính trị-an ninh Việt Nam-Australia Chương này đưa ra những đánh giá về bối cảnh tình hình thế giới trong thời gian tới có tác động tới quan hệ quốc tế, đánh giá lại những thành tựu và hạn chế trong quan hệ chính tri, an ninh Việt Nam-Australia (2009-2019). Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số dự báo, đánh giá về quan hệ hai nước trong thời gian tới. NHỮNG NHÂN TO TÁC DONG QUAN HE CHÍNH TRỊ - AN NINH VIỆT NAM - AUSTRALIA 1.Yếu tố khách quan 1.
Tình hình thế giới Thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Xu thé hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế chung tuy nhiên vẫn tiềm ân những nguy cơ bất ổn đến từ xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế, chiến tranh cục bộ, chiến tranh kinh tế, chiến tranh mạng, tranh chap chủ quyên, lãnh thổ, tài nguyên diễn ra dưới những hình thức mới, gay gắt hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau quyết liệt, giành vị thé và lợi ích gây ra tình hình phức tạp tại nhiều khu vực và nhiều nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là hai xu thé lớn, chi phối sâu sắc tiến trình phát triển của nhân loại.
Những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống như: an ninh lương thực, an ninh năng lượng, anninh nguồn nước, an ninh tai chính, an ninh mang, biến đôi khí hậu, thiên tai, dich bệnh diễn biến ngày càng nghiêm trọng. Có thé nói thế giới giai đoạn 2009- 2019 nổi lên một số điểm sau: Thế giới chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh té nghiêm trọng, tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, chính trị quốc tế và chính sách đổi ngoại của các nước. Trước hết phải kế đến suy thoái kinh tế nghiêm trọng diễn ra vào cuối năm 2009 ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình kinh tế, chính trị các nước trên thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng. Sau đó, kinh tế có dau hiệu phục hồi trở lại tuy nhiên đặt ra nhiều van đề mà các quốc gia phải đối phó đặc biệt là khả năng phản ứng của quốc tế trước khủng hoảng toản câu cũng như vai trò của các tô chức thê giới.
Vân đê khoảng cách giàu nghèo 14 giữa các quốc gia cũng hiển hiện rõ nét trong khủng hoảng. Ngay sau cuộc suy thoái kinh tế là khủng hoảng nợ công châu Âu diễn ra từ nửa sau năm 2009 với sự gia tăng mức nợ công của các quốc gia: Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Tây Ban Nha. Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này với mức thâm hụt ngân sách dat tới 13,6% GDP. Thang 11 năm 2010, Ireland là quốc gia thứ hai bị ảnh hưởng và phải cầu viện sự hỗ trợ từ EU và IMF.
Đến năm 2011, Bồ Đào Nha là quốc gia thứ 3 rơi vào khủng hoảng nợ công với mức thâm hụt ngân sách lên tới 8,5%, nợ công vượt quá 90% GDP. Các nước châu Âu khác cũng ở trong vòng nguy hiểm với mức thâm hụt ngân sách đáng báo động. Nguyên nhân chính từ cuộc khủng hoảng nợ công là do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ giữa các quốc gia. Nguyên nhân khác khiến cho cuộc khủng hoảng lan rộng và có nguy cơ trầm trọng hơn chính là việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tới nền kinh tế thé giới cho thay nợ công là van đề toàn cầu mà bat cứ quốc gia nào dù mạnh hay yếu cũng có nguy cơ gặp phải. Có thể nói các cuộc khủng hoảng đã đặt ra vấn đề đó là ngay cả những quốc gia phát triển cũng không thể tự mình giải quyết khủng hoảng và mối liên kết thế giới ngày càng trở nên chặt chẽ hơn. Điều này đã thúc đây xu hướng hợp tác giữa các quốc gia với nhau, cả trên bình điện song phương và đa phương. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mở ra cơ hội cải cách thể chế kinh tế quốc tế và các nước mới nổi sẽ thúc đây việc tái cấu trúc lại các thé chế kinh tế và luật chơi toàn cầu [Phạm Binh Minh, 2010, tr.
Cục diện chỉnh trị thế giới chuyển sang xu thé da cực; cạnh tranh, co sát chiến lược giữa các nước lớn diễn ra mạnh mẽ trên các khu vực trên thé giới và tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị thể giới và các nước. Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị thế siêu cường độc tôn tuy nhiên sự trỗi dậy mạnh mẽ của các quốc gia khác trong đó có Trung Quốc, Nga, EU đe dọa 15 nghiêm trọng tới vị trí của Mỹ. Trên bản đồ địa chính trị toàn cầu xuất hiện tam giác quyền lực Mỹ-Nga-Trung ở cả ba khu vực châu Á-TBD, châu Âu và châu Đại Duong. Các nền kinh tế khác như Nhật Ban, An Độ cũng có những sự phát triển mạnh mẽ góp phần tạo nên xu thế đa cực [Phạm Thái Quốc, 2019, tr.
Cục diện chính trị thế giới thay đôi mạnh mẽ với sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn đặc biệt là sự đối đầu trực diện trong cạnh tranh kinh tế, chính trị và ảnh hưởng. Mỹ tích cực triển khai các chiến lược trên toàn thế giới của mình, lôi kéo tập hợp lực lượng nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc. Cạnh tranh Mỹ-Trung diễn ra âm i và toàn diện các lĩnh vực, gần đây nhất dưới thời Tổng thống Donald Trump, Mỹ đã có những hành động cứng rắng hơn thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế mạnh mẽ đối với Trung Quốc. Đây có thể coi là sự đối đầu trực diện và lớn nhất từ trước tới nay.
Mỹ còn tăng cường triển khai các biện pháp can thiệp vào tình hình khu vực nhằm tập hợp lực lượng chống lại Trung Quốc, trong đó có tập hợp bộ Tứ (Mỹ-Nhật- Australia-Án Độ) và triển khai chiến lược Án Độ Dương- Thái Bình Dương. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục thể hiện sự trỗi dậy mạnh mẽ của mình, đã có những đáp trả mạnh mẽ về kinh tế, chính trị. Trung Quốc tiếp tục có những hành động cứng rắn hơn trong khu vực đặc biệt là gây sức ép với các quốc gia vốn là đồng minh thân cận của Mỹ trong đó có Australia nhằm khẳng định vị thế và vai trò của mình. Trung Quốc tích cực triển khai chiến lược BRI nhằm thé hiện tham vọng bá chủ của mình.
Một quốc gia khác là Nga cũng đang tiếp tục nỗ lực tìm lại hình ảnh của một cường quốc thế giới bằng cách kiểm soát các khu vực cận kề với Nga, mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trên các diễn đàn trên thế giới. Nga trực tiếp cạnh tranh ảnh hưởng của Mỹ tại Trung Đông thông qua việc hậu thuẫn Iran đối đầu trực diện với Israel, một quốc gia là đồng minh thân cận của Mỹ tại Trung Đông, can thiệp trực tiép vào các vân dé tại khu vực này. Nga muôn lợi 16 dụng các van dé này dé làm Mỹ suy yếu, đồng thời phân tán sự chú ý của các quốc gia khác vào việc lấy lại vị thế cường quốc của Nga. Trong khi đó, Mỹ muốn lôi kéo một số quốc gia tham gia giải quyết vấn đề tại Afghanistan và Iraq.
Nga và Trung Quốc ngày càng thúc đây mối quan hệ hợp tác chiến lược trên nhiều lĩnh vực nhằm đối phó với sức ép từ Mỹ trong bối cảnh Mỹ tăng cường lệnh trừng phạt đối với Nga và tăng thuế đánh vào hàng hóa nhập khâu từ Trung Quốc. Tuy nhiên, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc là mối quan hệ phức tạp mà theo nhiều chuyên gia nhận định, mối quan hệ giữa hai cường quốc này thực chất là liên minh “bề nổi” do hai bên vẫn tồn tại nhiều vấn đề lịch sử cũng như căng thăng trong việc cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực [Phạm Thái Quốc, 2019, tr. Cạnh tranh ảnh hưởng và cọ sát chiến lược giữa các nước lớn có xu hướng ngày càng gay gắt và tác động không nhỏ đến từng quốc gia tạo sự phân hóa và chia rẽ trong quan hệ quốc tế. Đồng thời những cạnh tranh, thỏa thuận này tác động không nhỏ đến tình hình chính trị nội bộ và chính sách của từng quốc gia.
Trong bối cảnh đó, các nước nhỏ phải có những chính sách phù hợp nhằm phát triển và bảo vệ đất nước. Van dé an ninh phi truyền thong trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh thé giới. Do mặt trái của sự phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, van dé an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong việc ngăn chặn, ứng phó với các nguy cơ chiến tranh mà còn bao hàm nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống. Trong lịch sử, chưa bao giờ con người phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa đến chính sự tồn vong như bây giờ, đó là những vấn đề như: cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, khủng bó, tội phạm xuyên quốc gia.
đang đặt ra những yêu cau bức thiết phải có sự nỗ lực chung của cả công đồng quốc tế để đối phó, vì sự an nguy của mỗi quốc gia dân tộc cũng như của toàn nhân loại. 17 Các thách thức an ninh phi truyền thống có thé khiến một quốc gia sụp đồ mà không cần bất kỳ một hoạt động quân sự nào.