Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KHU VỰC ĐÔNG Á 1. Một số vấn đề lí luận về liên kết khu vực 1. Lý thuyết về liên kết khu vực Thuật ngữ liên kết khu vực hay khu vực hoá hoặc chủ nghĩa khu vực, “ở các mức độ khác nhau, phản ánh tiến trình hợp tác, liên kết về an ninh - chính trị, kinh tế và hình thành bản sắc ở các khu vực. Những thuật ngữ này được đề cập ngày càng nhiều như những thành tố quan trọng của hệ thống quan hệ quốc tế” [27].
Tuy nhiên, hiện nay, khi tìm kiếm một định nghĩa chính xác vể chủ nghĩa khu vực (Regionalism) không phải là dễ. “Về mặt chính trị của thuật ngữ có thể coi chủ nghĩa khu vực là nguyên tắc hay hệ thống để phân chia một khu vực địa lý thành một khu vực cụ thể, có những đặc trưng lịch sử, văn hóa, vị trí chiến lược riêng. Chủ nghĩa khu vực có những yếu tố tích cực (thúc đẩy chủ nghĩa khu vực) và tiêu cực (khiêu khích chủ nghĩa khu vực) trong sự phát triển của khu vực và quan hệ với các khu vực khác. Có người cho rằng chủ nghĩa khu vực là một mối đe dọa tiềm tàng nhưng người khác lại coi chủ nghĩa khu vực là yếu tố tích cực, một sự hứa hẹn lâu dài” [27].
Chủ nghĩa khu vực là kết quả của sự phát triển lịch sử, được hình thành trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa từ sau đại chiến thế giới thứ hai, bắt đầu xuất hiện từ khi hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sụp đổ, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các hệ thống thế giới và ở ngay trong lòng các hệ thống đó. “Chủ nghĩa khu vực xuất hiện như một phản ứng trước xu hướng toàn cầu hoá, xảy ra do tác động của một số cường quốc, cũng như chủ nghĩa quốc gia “thái quá” ở mỗi quốc gia - dân tộc” [28]. Trong các điều kiện lịch sử khác nhau thì chủ nghĩa khu vực cũng biểu hiện khác nhau. Quá trình phi tập trung hoá hệ thống quốc tế đã củng cố thêm các ý tưởng ủng hộ chủ nghĩa khu vực phát triển.
Khi ảnh hưởng của các cường quốc theo kiểu cũ mất đi, thì cũng tạo thuận lợi hơn cho một thế giới đa cực và giúp tạo nên một hệ thống quốc tế trong đó các thoả thuận khu vực đóng vai trò quan trọng hơn. Với sự phát triển của chủ nghĩa khu vực mới trong các thập kỷ gần đây, các tổ chức khu vực trở thành 10 nhân tố trọng yếu trong kiến trúc an ninh toàn cầu. Đây là kết quả của sự khu vực hoá và rộng hơn là toàn cầu hoá. Về thuật ngữ liên kết khu vực, dựa trên cách tiếp cận khu vực hóa, có thể hiểu “ Liên kết khu vực là kiểu liên kết đa phương giữa nhiều nước có sự gần gũi về mặt địa lý, theo đó các nước láng giềng có sự khác nhau về chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển kinh tế và tôn giáo - văn hoá vẫn có thể liên kết, hợp tác với nhau nhằm hướng đến các giá trị, lợi ích chung.
Chính nhu cầu nội tại của mỗi nước, trong đó cốt lõi là các nhu cầu về phát triển và nâng cao vị thế, đảm bảo an ninh là động lực thúc đẩy quá trình liên kết khu vực” [12]. Như vậy, đó là “Sự gắn kết hay hợp nhất một cách tự nguyện của hai hay nhiều chủ thể vào một cơ chế hay tổ chức mới, mà ở đó các chủ thể tham gia cùng chia sẻ những luật lệ, nguyên tắc và giá trị chung, nhưng lại không mất đi giá trị bản sắc đặc trưng riêng của mình” [12]. Hay cũng có thể hiểu, liên kết khu vực là việc các quốc gia riêng lẻ trong một khu vực gắn kết lại với nhau thành một khối lớn hơn. Trong khi đó, thuật ngữ khu vực hoá lại được nhìn nhận là “quá trình làm tăng tính khu vực, làm thay đổi những sự khác nhau tương đối sang những yếu tố giống nhau ngày càng nhiều, được xúc tiến bởi sự hợp tác và liên kết sâu rộng của các quốc gia-dân tộc trong khuôn khổ tổ chức khu vực, nhằm tạo ra khối sức mạnh, có một bản sắc riêng khác với khu vực khác” [12].
Như vậy, liên kết khu vực có thể hiểu là “tiến trình chung, khái niệm chủ nghĩa khu vực thường được xem như tiến trình liên kết về chính trị do các quốc gia dẫn dắt còn khu vực hoá là hình thức liên kết kinh tế được thúc đẩy bởi các hoạt động của các doanh nghiệp, mặc dù chịu sự tác động của các chính sách của nhà nước” [12]. Những mô thức cơ bản trong liên kết khu vực Lịch sử thế giới đã chứng kiến không ít những xung đột về tư tưởng, về quân sự giữa một nhóm nước hoặc khu vực, thậm chí trên phạm vi toàn thế giới. Bên cạnh đó, lịch sử cũng từng ghi nhận những hình thức phong phú của sự hợp tác giữa các quốc gia, nhóm các quốc gia trong khu vực. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hợp tác, liên kết khu vực.
Những nhận thức chung chung về hợp tác, liên kết khu vực chưa làm sáng tỏ được những vấn đề thuộc tính của nó như nguồn gốc, nội dung, chức năng, 11 vai trò, mức độ của các cơ chế trong đời sống xã hội quốc tế nói chung và cả những hình thức biến đổi của nó trong điều kiện lịch sử cụ thể. Chúng ta không bắt gặp thứ chủ nghĩa khu vực biểu hiện chưng chung mà chỉ thấy chủ nghĩa khu vực được biểu hiện cụ thể trong những điều kiện cụ thể. Muốn nhận thức một cách căn cơ về hợp tác khu vực, theo chúng tôi cần phải có thế giới quan duy vật biện chứng để khái quát được các mô thức liên kết trong quan hệ quốc tế. Mô thức liên kết được hiểu là kết cấu quyền lực được hình thành bởi so sánh lực lượng, tập hợp lực lượng giữa các quốc gia trong khu vực, là những nguyên tắc, quy phạm, phương pháp, khả năng xử lý các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong khu vực.
Mô thức liên kết khu vực gồm các tiêu chí chính là yếu tố địa lý, cộng đồng văn hóa, văn minh, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử; mục tiêu, tính chất hoạt động của các tổ chức khu vực. Mô thức liên kết chính trị: Mô thức này thể hiện qua các tổ chức chính trị khu vực. Sự xuất hiện các tổ chức chính trị khu vực dựa vào nhiều yếu tố. Trước hết là không gian chính trị khu vực.
Khu vực Tây Âu, nơi tập trung các nước tư bản công nghiệp có trình độ phát triển cao thì động cơ của tổ chức chính trị khu vực ở đây chỉ nhằm thực hiện sự đoàn kết chặt chẽ hơn nữa giữa các thành viên để bảo tồn các lý tưởng được coi là tài sản chung và phát triển sự hợp tác về kinh tế, xã hội. Nó càng trở nên bức thiết hơn khi Tây Âu trở thành một trong ba trung tâm lớn nhất của hệ thống tư bản thế giới vào đầu thập kỷ 70. Ngoài Tây Âu, môi trường chính trị phức tạp hơn nhiều. Bởi vì các khu vực này đều đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.
Việc thành lập các tổ chức chính trị nhằm vào mục tiêu trước tiên là bài thực dân dưới bất kỳ hình thức cũ hoặc mới. Muốn thế, các đất nước trong khu vực đó phải đồng lòng, cùng hành động và phát triển các mối quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hoá. Riêng ở châu Mỹ, môi trường chính trị khá đặc biệt, tổ chức chính trị ở đây không mang tính bài thực dân như ở châu Á, châu Phi mặc dù đa số các quốc gia châu Mỹ đều từng là thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp. Lý do là Mỹ muốn đặt toàn bộ châu Mỹ dưới sự bảo hộ của mình, ngăn ngừa sự can thiệp của các cường quốc châu Âu vào châu Mỹ.
12 Trong khi điểm diện các tổ chức chính trị khu vực trên thế giới, không thể bỏ qua một tổ chức chính trị khu vực điển hình khác ở châu Á là “Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” (ASEAN). Do môi trường chính trị của khu vực phức tạp, lại bị chi phối nặng nề bởi chiến tranh lạnh nên mục tiêu, tính chất hoạt động của ASEAN có nhiều thay đổi tuỳ theo các giai đoạn lịch sử. Các tổ chức khu vực theo đuổi những mục tiêu khác nhau. Nhưng mục tiêu then chốt nhất là xây dựng tình đoàn kết, hợp tác, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, có lập trường, thái độ chính trị thống nhất trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế.
Tất cả các tổ chức chính trị khu vực hầu hết đều phát triển các mối quan hệ hợp tác theo chiều rộng, từ các lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành như y tế, giáo dục, tư pháp…”Hiệu quả của các quan hệ hợp tác này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của toàn khu vực; đặc biệt phụ thuộc vào sự ổn định chính trị trong khu vực và mức độ can thiệp của các trung tâm quyền lực quốc tế vào khu vực” [3; tr. Mô thức liên kết kinh tế: Mô thức này được thể hiện qua các tổ chức kinh tế khu vực, trước hết là một hệ thống kinh tế, trong đó có sự thoả thuận của nền kinh tế các nước thành viên. Tính hiệu quả của hệ thống kinh tế đó phản ánh mức độ thành công của tổ chức kinh tế khu vực tương đương với nó. Nhưng muốn hình thành được một tổ chức kinh tế khu vực phải có những điều kiện cụ thể.
“Thứ nhất, việc áp dụng cơ chế thị trường đã phát triển và trở nên phổ biến ở các quốc gia trong khu vực. Thứ hai, có sức ép bên ngoài khu vực đòi hỏi các quốc gia trong khu vực phải có sự phối hợp, thống nhất hành động để đối phó và cạnh tranh với thế lực bên ngoài. Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia trong khu vực đã đạt tới mức đòi hỏi phải có sự phối hợp chính sách điều chỉnh các quan hệ kinh tế đó” [3; tr. Thực tế cho thấy, hầu hết các quốc gia trước đây vốn là thuộc địa cũ, sau khi giành được độc lập đã kết nối với nhau trong các tổ chức kinh tế khu vực.