Chương 1: Cơ sở lý luận và quan niệm vé sức mạnh mềm của Trung Quốc Tác giả đề cập đến cơ sở lý luận và quan niệm về sức mạnh mềm của các học giả nước ngoài và các học giả Trung Quốc và đưa ra khái niệm được sử dụng nhiều nhất và quá trình phát triển của khái niệm đó, đồng thời bên cạnh đó cũng chỉ ra các loại hình sức mạnh mềm và quá trình phát triển của các sức mạnh mềm đó mà Trung Quốc đang sử dụng và nêu lên các vai trò sức mạnh mềm của Trung Quốc đang sử dụng. Chương 2: Cách thức triển khai sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á Đề cập đến cách thức triển khai sức mạnh mềm của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á tại trong các lĩnh vực văn hóa, ngoại giao và mô hình, tư tưởng mà Trung Quốc đang triển khai và thúc đầy. Chương 3: Đánh giá về sức mạnh mềm của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á và dự báo Đánh giá về đặc điểm cũng như những tác động tiêu cực và tích cực trong quá trình Trung Quốc triển khai sức mạnh mềm tại Đông Nam Á, từ đó rút ra dự báo và bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong quan hệ song phương với Trung Quốc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA QUAN NIỆM VE SỨC MANH MEM CUA TRUNG QUOC 1.
Khái niệm và loại hình sức mạnh mềm 1. Khái niệm “Sức mạnh mềm ° trên thé giới Giới học thuật quốc tế đã đưa ra những quan điểm về sức mạnh mềm từ khá sớm. Khởi nguồn cho những thảo luận học thuật này là ý kiến của học giả người Anh Edward Hallett Carr (1892-1982). Ngay từ thập nhiên 30-40 của thế kỷ 20, [Carr, 1939] đã đưa ra nhận định, để đạt tới mục đích chính trị thì sức mạnh quan điểm cũng đóng vai trò quan trọng không kém so với sức mạnh quân sự và kinh tế.
Vào năm 1970, ông Robert Jervis đã làm rõ hơn quan điểm trên với quan điểm “hình ảnh quốc gia có thé có giá trị to lớn hơn nhiều so với sự gia tăng sức mạnh quân sự và kinh tế. Đến năm 1973 học giả Klaus Knorr — Giáo sư nghiên cứu kinh tế chính trị học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Princeton, Mỹ trong cuốn “Quyền lực và thịnh vượng: kinh tế chính trị học trong quyên lực quốc tế” đã nhắc đến “sức mạnh mềm” như một khải niệm trong chính tri học. Các nghiên cứu đầu tiên về sức mạnh mềm đã cho thấy: yêu cầu trước tiên có tính phương pháp trong nghiên cứu sức mạnh mềm của các cường quốc là phải đặt sức mạnh mềm trong toàn bộ “sức mạnh tổng hợp quốc gia”. Bởi sức mạnh của một quốc gia không chỉ bao gồm sức mạnh cứng (địa lý, kinh tế, quân sự) mà còn cả các yếu tố được coi là sức mạnh mềm bao gồm các nhân tố chính như: (thé chế chính trị, tư tưởng và chiến lược quốc gia, lãnh đạo Nhà nước), ý chí của nhân dân trong thực hiện chiến lược (hệ giá trị xã hội, quan hệ quốc tế).
Ông Ray Cline (Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và Viện nghiên cứu quốc tế của Đại học Georgetown, Mỹ) đưa ra công thức tính sức mạnh tổng hợp quốc gia như sau: P, = (C+E+M) x (S+W) Trong đó: C (Country): thực thé cơ bản gồm dân số và lãnh thé. E (Economy): thực lực kinh tế gồm GDP và cơ cấu kinh tế. M (Military): thực lực quân sự bao gồm lực lượng hạt nhân chiến lược và lực lượng chính quy. 11 S (Strategy): ý đồ chiến lược do lãnh đạo quốc gia vạch ra.
W (Will): ý chí của toan dân đối với ý đồ chiến lược do lãnh đạo quốc gia vạch ra. Mỗi tham số sẽ được tính điểm và giá trị cao nhất của Pp mà một quốc gia có thé đạt được là 1000 thì: P,/1000 = (C/100 + E/200 + M/200) x (S+W) Đến những năm 1990, khi mọi người nghĩ rằng quyền lực tổng hợp quốc gia của Mỹ đang từ từ giảm dần, Joseph Nye kết hợp kinh nghiệm thực tế của chính mình, với tình hình quốc tế dé mồ xẻ và phân tích lại quyền lực tổng thé của Mỹ, lần đầu ông đề xuất khái niệm sức mạnh mềm. Joseph Nye có sáng tạo mới khi chia sức mạnh tổng thê quốc gia thành sức mạnh mềm và sức mạnh cứng. Ông chỉ ra rằng quyền lực của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các sức mạnh cứng gồm kinh tế, quân sự v.v mà còn cả sức mạnh mềm.
Do đó, Mỹ không suy yếu như mọi người nghĩ. Ké từ đó, Joseph Nye chỉ ra rang sức mạnh mềm trong bối cảnh tình hình quốc tế có những thay đổi to lớn tương ứng với sức mạnh cứng có sức mạnh không thé coi nhẹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, sức mạnh mềm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyền lực, tăng khả năng ảnh hưởng của những quốc gia. Năm 2004, Nye đã nhắn mạnh chi ra rang sức mạnh mềm “không chỉ là sức ảnh hưởng và sức thuyết phục, mà còn là sức thu hút” [XIl£## (Lưu Giáng Hoa), 2007].
Từ đó, Nye đã khái quát sức mạnh mềm là: sức ảnh hưởng, sức thuyết phục và sức hấp dẫn, bao gồm ba yếu tố văn hóa, hình thái ý thức và hệ thống quốc tế [#šä£Z#, Bd 4 (Cảnh Chí Vinh, Đào Huy), 2010]. Sau khi khái niệm sức mạnh mềm được đề ra, ngày càng nhiều học giả cũng đưa ra quan điểm của riêng họ. Học giả nỗi tiếng Michael Porter phân chia các yếu tố sản xuất thành các “yếu tố sản xuất sơ cấp” và “yếu tố sản xuất cao cấp”, trong đó yếu tố sau là sức mạnh mềm lẫy sự sáng tạo là tính năng cót lõi. Trong “Phương trình quyền lực quốc gia” của mình, Klein đã lấy yếu tố đặc biệt của quyền lực quốc gia với các chỉ số mềm là: “mục tiêu chiến lược” “ý chí nhân dân” nhân với các chỉ số cứng như kinh tế quân sự.
Trong phương trình của Klein, có thé suy luận rằng sức mạnh mềm có thể đóng vai trò chủ đạo sức mạnh cứng. Chủ tịch Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc 12 tế Jos Hua Kuritzitzke trên cơ sở khái niệm ban đầu do Joseph Nye đề xuất đã làm rõ hơn nội ham và mở rộng của sức mạnh mềm, kết hợp trường hợp thực tế dé ra một số mệnh dé cơ bản của sức mạnh mềm [lú: Ỳ tt (Trần Nghĩa Chính), 201 1]. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, khi nói về lý thuyết sức mạnh mềm thì những lý luận của Josheph Nye vẫn nhận được sự quan tâm và ứng dụng rộng rãi nhất. Sự phát triển lý thuyết sức mạnh mềm của Josheph Nye được chia làm 3 giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn manh nha (năm 1990 — năm 2000).
Với sự xuất hiện của lý luận về suy yếu của Mỹ, Mỹ cần gấp một lý luận để duy trì vị thế siêu cường của mình. Trong thời ky này, Joseph Nye đã sử dụng khái niệm sức mạnh mềm dé bác bỏ “lý luận về sự suy yếu của Mỹ” và bù đắp cho sự suy giảm trong đánh giá của chủ nghĩa hiện thực về sức mạnh cứng. Năm 1990, trong tác phẩm nghiên cứu của minh Joseph Nye tiếp tục phân chia quyền lực theo phương thức trực tiếp và gián tiếp, tin rằng cái trước đạt được mục tiêu của mình thông qua sức mạnh cứng, và cái sau đạt được mục tiêu thông qua sự đồng hóa, vì vậy cái sau cũng được gọi là sức mạnh mềm. Ông còn thông qua trình bày và phân tích về vai trò của chính trị quốc tế trong việc thiết lập các quy tắc, dẫn dắt xu hướng những thay đổi của một quốc gia để chứng minh rằng sức mạnh mềm cũng quan trọng không kém.
Sau năm 1996, Joseph Nye chia quyên lực thành “quyền lực hành vi” (bao gồm sức mạnh mềm và sức mạnh cứng) và “quyền lực tài nguyên”. Trong số đó, sức mạnh mềm “là khả năng thu hút thông qua sự quyến rũ của văn hóa và ý thức hệ, cả sức mạnh mềm và cứng đều có hiệu quả, nhưng trong thời đại thông tin, sức mạnh mềm đã tạo ra điểm nhấn, thu hút sự chú ý hơn trước”. Nguồn gốc của sức mạnh mềm đến từ văn hóa, ý thức hệ, nó có khả năng đạt được các mục tiêu dự kiến thông qua sự hấp dẫn hơn là sự ép buộc. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển (năm 2001 — năm 2006).
Ở giai đoạn này, Joseph Nye đi sâu nghiên cứu lý thuyết cơ bản về sức mạnh mềm. Ông lần lượt xuất bản các cuốn: “Nghịch lý của quyền lực Mỹ”, “Sự Nghi ngờ của chủ nghĩa bá quyền Mỹ: Tại sao Mỹ không thé đứng một mình — The paradox of American power. Why the world’s only superpower can’t go it alone. “Sức mạnh mềm: 13 phương tiện dé giành thắng lợi chính trị thế giới”, “Trò chơi vương quyền” đi sâu thảo luận các van đề liên quan sức mạnh mềm, từng bước làm rõ nguồn gốc sức mạnh mềm, sắp xếp thành một khái niệm có tính hệ thống về sức mạnh mềm.
Trong công trình nghiên cứu “Sự Nghi ngờ của chủ nghĩa bá quyền Mỹ”, Joseph Nye (2002) đưa ra vai trò của các “giá trị quan” trong sức mạnh mềm trong đó đặc biệt là trong giá trị quan chính trị. Ông giải thích rang: các giá trị chính trị có thê được thông qua văn hóa, chính sách trong nước và phương thức xử lý với các vấn đề quốc tế dé thé hiện, và cũng có thé ảnh hưởng đến sở thích của các quốc gia khác. Trong cuốn “Sức mạnh mềm: phương tiện dé giành thang lợi chính trị thé giới” Joseph Nye so sánh một cách hình tượng sức mạnh cứng với củ cà rốt và cây gậy. Các nước thông qua hình thức dụ dỗ hoặc đe dọa để đạt được mục tiêu của riêng mình.
Trong đó, sức mạnh mềm là khả năng ảnh hưởng đến sở thích của người khác. Sau đó Nye (2006) trong “Tái suy ngẫm về sức mạnh mềm”, kết hợp sức mạnh mềm với sự cám dỗ và đe doa là ba cách dé dat được “làm cho người khác điều chỉnh hành vi của họ để thỏa mãn các yêu cầu mà nước khác muốn”[Jñj J# RE (Chu Hậu Hồ), 2012, tr. Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn chín mudi (năm 2006 — nay). Ở giai đoạn này, Joseph Nye tiến hành tích hợp sức mạnh mềm với sức mạnh cứng mà chủ nghĩa hiện thực, mở rộng ứng dụng lý thuyết sức mạnh mềm trong hiện thực cuộc song, biến nó thành cơ sở ly luận cho chính sách đối ngoại mới của chính quyền Obama [ERE (Vương Phat Long), 2011].