CHƯƠNG I SỰ THÀNH LẬP CÔNG TY ĐÔNG ÁN ANH NĂM 1600 13 1. Nước Anh đến cuối thế kỷ XVI Trong số những quốc gia hình thành ở Tây Âu sau khi dé chế Tay La Mã sụp đồ (476 CN), nước Anh ra đời khá muộn. Những tiêu quốc của người Anh cùng chung ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo đã tồn tại từ khá sớm, nhưng phải đến cuối thé kỷ IX mới diễn ra sự thống nhất về mặt lãnh thé và chính tri dé trở thành một quốc gia thống nhất. Tuy nhiên, sự thống nhất trên không đưa lại sự phát triển trội vượt cho nước Anh.
Trong những thế kỷ tiếp theo đó, nước Anh luôn vướng phải những bat 6n chính trị và những cuộc chiến tranh. Sau những xung đột với người Đan Mạch trong nửa cuối thế kỷ XI, Anh tiếp tục có những mâu thuẫn và chiến tranh với Pháp ở thé kỷ tiếp theo. [71, 136- 224] Những bat ổn về chính trị là nguyên nhân chính của sự trì trệ của nền kinh tế Anh thời kỳ này. Nền nông nghiệp của đảo quốc không thực sự mạnh trong khi nền thủ công thương nghiệp cũng không cạnh tranh được với các trung tâm thương mại ở phía bắc và phía đông Địa Trung Hải - cửa ngõ thông thương chính của khu vực Tây Âu với thế giới phương Đông.
Tuy nhiên, trong trào lưu hình thành và phát triển của các thành thị Tây Âu từ sau thế kỷ X, nước Anh cũng thực sự chuyển mình. Mặc dù không thực sự nổi bật như những thành thị-quốc gia của Ý như Venice hay Genoa., những thành thị của Anh như Luân Đôn, Oxford. ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với sức mạnh của vương quốc. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, từ thế kỷ XIII trở đi, các thành thị ở Anh ngày càng hội nhập mạnh vào hệ thống chính trị của vương quốc.
Nền thủ công nghiệp khởi sắc với những sản phẩm len da và vải sợi được xuất khẩu ra nhiều khu vực ở Tây Âu đã góp phan đáng ké vào sự phát triển của nền hải thương Anh thời kỳ này. Các thành thị ra đời đồng thời đưa đến sự phổ biến của đời sống kinh tế và văn hóa thị dân, sự ra đời của hệ thống giáo dục đại học, sự phát triển của những hệ tư tưởng mới và, vê sau, là phong trào cải cách tôn giáo ở Anh trong bôi 14 cảnh những cuộc cải cách tôn giáo râm rộ ở Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan. nửa cuối thé ky XVI [55, 87-137].' Luân Đôn cuối thế kỷ XVI Giữa thế kỷ XV, xã hội phương Tây bắt đầu một cuộc bành trướng đài khoảng 250 năm giúp châu Âu khám phá gần hết thé giới. Nếu không ké đến một số những cuộc viễn du day tính thần thoại của người Viking, đây có lẽ là lần đầu tiên người châu Âu vượt han ra khỏi quỹ đạo Dia Trung Hải của họ dé tiếp xúc với vô số những giống người, tôn giáo và văn hóa khác nhau, từ kẻ mọi ro trần truồng đến người Trung Hoa học thức.” Lich sử Tây Âu đứng trước biến chuyền lớn của thời đại.
Những khoản đầu tư lớn về tiền bạc và công sức nhằm tìm ra con đường đi sang phương Đông của hai dân tộc trên bán đảo Iberia cuối cùng cũng thành công vào cuối thế kỷ XV với việc người Tây Ban Nha tìm ra châu Mỹ và người Bồ Đào Nha tìm ra con đường đi qua mũi Hảo Vọng dé sang An Độ. Đánh giá về ý nghĩa của sự kiện này Adam Smith viết: “Việc tim ra châu Mỹ và việc khám phá ra con đường sang Đông An bằng cách dong thuyén qua mũi Hảo vọng là sự kiện lớn nhất và quan ' Xem thêm từ: Stevenson (ed.), The History of Europe, pp. ? Xin xem thêm từ: Orane Brinton, Lịch sử phát triển văn hóa văn mình nhân loại, Văn mình phương Tây, Nxb. VHTT, Hà Nội, 2003, tr.
15 trong nhất trong lịch sử nhân loại”. Hơn thế, sau các cuộc phát kiến địa ly thành công không những đã đưa lịch sử Tây Âu bước sang giai đoạn phát triển mới “giai đoạn Cận dai sơ kỳ” (1500-1789) ma còn ghi dấu một loạt những chuyên biến chung mang tính nội tại “Sự nổi lên của các trung tâm quyên lực tập trung hóa cao độ sự khởi nguôn của các quá trình hình thành các quốc gia dân tộc, làm nên tảng cho các quốc gia hiện đại”. Trong suốt thế kỷ XVI, trong khi người Tây Ban Nha tìm cách độc quyền khai thác khu vực Tân thế giới, người Bồ Đào Nha cũng nhanh chóng thụ hưởng nền độc quyền buôn bán với phương Đông. Mặc dù chưa đủ sức pha vỡ vi tri thương mại hàng đầu của các cảng thị nước Ý như Venice, Genoa, Florence, Milan trong buôn bán với phương Đông qua miền đông Địa Trung Hải., những chuyến tàu chở đầy hương liệu của người Bồ Đào Nha về Lisbon ngày càng thu hút được sự quan tâm của các thương nhân vùng bắc Tây Âu - những người trước đây phụ thuộc vào hàng hóa của các thương cảng Địa Trung Hải.
Thương thuyền Tây Âu đến Lisbon thu gom hàng hóa phương Đông ngày cảng tăng. Cùng với Lisbon, hang loạt các trung tâm thương mai lớn ở phía bắc như Luân Đôn (Anh), Antwerp (Bỉ), Amsterdam (Hà Lan). cũng trỗi dậy, cạnh tranh với các thương cảng truyền thống của Ý [59, 145]. Thế kỷ XVI đánh dấu một giai đoạn phát triển sôi động, với những biến cố có ý nghĩa thời đại đối với nền kinh tế của vương quốc Anh.
Là một quốc gia có truyền thống hàng hải từ lâu đời, thương nhân Anh khó có thể chấp nhận việc hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha độc quyền các tuyến buôn bán với miền Đông Ấn và Tây Ấn. Mục tiêu thương mại luôn là động lực thôi thúc người Anh tìm đường sang buôn bán với phương Đông. Tuy nhiên, thương mại không phải là động cơ duy nhất. Trước năm 1600, những thứ tình cảm mang tính dân tộc chủ nghĩa luôn chiếm một vi tri đáng ké trong các chuyến đi sang phương Đông: lật đồ vị trí độc tôn của người Tây Ban Nha ! Xem thêm từ: Adam Smith, Sự giàu có của các quốc gia, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.
? Xem thêm từ: Merry E. Wiesner-Hanks, Early modern Europe 1450-1789, (Cambridge Press: NewYork and Cambridge, 2006), pp. 16 và Bồ Đào Nha. Một số chuyến đi thậm chí còn đề cao mục tiêu tôn giáo: truyền bá Thiên chúa sang châu Phi và An Độ dé bao vây đạo Hồi [69, 68].
Bên cạnh đó, người Anh cũng hi vọng sử dụng vũ lực để cướp đoạt những đoàn thuyền buôn giàu có trên biển. Cuối cùng, nhu cầu khám phá và niềm đam mê phiêu lưu cũng góp phần không nhỏ vào việc tô chức tìm đường đi về phương Đông. Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XVI, lòng khao khát buôn ban với phương Đông của người Anh được khích lệ mạnh mẽ sau khi nhà hàng hải Francis Drake thực hiện thành công chuyến đi vòng quanh thế giới trong các năm 1577-1580. Cùng với viễn cảnh tươi sáng về việc dong thuyền sang các vùng đất phương Đông, một lần nữa thứ tình cảm dân tộc chủ nghĩa lại trỗi dậy với người Anh khi họ nghĩ đến khả năng sức mạnh của Thanh giáo sẽ lật đỗ sự độc quyền của các thé lực Cơ đốc giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha [56, 2].
Khát vọng là vậy, nhưng kiến thức của người Anh về hải trình sang phương Đông lại hết sức mơ hồ. Từ nhiều thé kỷ trước, các sản vật nồi tiếng của phương Đông như tơ lụa, gốm sứ, hương liệu. đã phổ biến trong giới tiêu ding Anh nhờ có tuyến trao đổi qua sườn đông Dia Trung Hải. Những huyền thoại và những câu truyện ly kỳ về một xứ sở phương Đông giàu có luôn khơi dậy sự tò mò và thôi thúc người Anh thiết lập quan hệ trực tiếp với phương Đông, nhất là sau khi người Bồ Đào Nha đã thành công trong việc buôn bán với miền Đông An.
Tuy nhiên, cho đến khoảng đầu thập niên 80 của thé ky XVI, những kiến thức về phương Đông của người Anh thường có xu thế bị lãng mạn hóa hơn là những kiến thức thực tẾ trên cơ sở nhận thức; người Anh thậm chí còn chưa biết rõ các hàng hóa phương Đông được đưa về châu Âu qua đường bộ hay đường biển [57, 113]. Phải sau khi hai nhà hàng hải Anh Francis Drake và Thomas Cavendish hoàn thành chuyến đi vòng quanh thế giới (1577-1580), người Anh mới bắt đầu có được những thông tin chính xác - dù hết sức tản mạn về phương Đông. Những kiến thức và lập luận được Drake và Cavendish ghi chép và truyền bá góp phần quan trọng vào việc hiệu chỉnh những kiến thức sai lạc của người Anh về phương Đông trước đây. 17 Những nghiên cứu chuyên sâu của D.Hall cũng chỉ ra rằng: “Viéc người Anh khởi dau một cách muộn màng việc khai thác con đường từ mũi Hảo vọng tới Ấn Độ Dương và các vùng xa hơn không phải là do thiếu quan tâm đến buôn ban ở phương Đông.
Do phát hiện ra châu Mỹ người ta đã hoãn thực hiện các mục tiêu này khoảng một thé kỷ. Nhưng, những có gắng dé phát hiện con đường phương Bắc đi vòng qua châu Mỹ, hoặc qua nước Nga và Xiberi cho thấy người Anh luôn nghĩ đến mục tiêu ban dau là thâm nhập vào buôn bán ở châu A” [4, 442] Trong hai thập niên 80 và 90 của thế kỷ XVI, việc nghiên cứu về thế giới phương Đông của người Anh được tổ chức một cách ráo riết và hệ thống. Trong trào lưu này nổi lên vai trò và đóng góp quan trọng của một số nhân vật như cây bút Richard Hakluyt và nhà dịch thuật Thomas Hickock, John Dee, Richard Eden. Hakluyt thậm chí tin rằng tương lai và sự hùng mạnh của nước Anh phụ thuộc vào việc phát triển dé chế thương mại và thuộc địa ở hải ngoại.
Vi vậy, Ông tự đặt cho mình nghĩa vụ phổ biến kiến thức về phương Đông nhằm thúc đây mục tiêu đi sang Đông Án của nước Anh và sớm trở thành chuyên gia tư vấn của nhiều nhóm thương nhân và các công ty có chiến lược buôn bán với phương Đông. Có thé nói rang, đến năm 1600, người Anh đã khá tường tận về con đường sang phương Đông qua mũi Hảo Vọng. Tuy nhiên, kiến thức của họ về các vùng lãnh thổ cụ thể của phương Đông lại chưa thực sự tỏ tường; các tàu Anh sau khi vượt qua cực nam châu Phi thường không biết chắc những nơi sẽ ghé thăm.