chương 1, phần mục tiêu nghiên cứu và thảo luận kết quả. Chương 5: Kết luận, kiến nghị. Chương này sẽ trình bày tổng quát lại các vấn đề mà bài nghiên cứu đạt được, đồng thời đưa ra và trình bày một số hạn chế cũng như hướng phát triển tiếp theo của đề tài. 123doc 4 Kết luận Chƣơng 1 Bên cạnh nguồn vốn đầu tư nội địa thì đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia.
Nguồn vốn này góp phần bổ sung thiếu hụt cho nguồn vốn trong nước, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh cho quốc gia trên thị trường. Bên cạnh đó, nguồn vốn này giúp các quốc gia tiếp cận nền khoa học kỹ thuật hiện đại và hội nhập càng sâu rộng vào thị trường thế giới. Và để có những chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tác giả đã nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn này. Và ở chương này tác giả cho thấy cái nhìn tổng quan về bài nghiên cứu thực hiện.
123doc 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư. Theo IMF (1993) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là một khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ dài hạn, phản ánh sự quan tâm lâu dài và được kiểm soát bởi những thực thể cư trú của nền kinh tế này (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) vào một công ty cư trú của một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Theo WTO (1996) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Các lợi ích lâu dài này ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp, doanh nghiệp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến quản lý của doanh nghiệp.
Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và tất cả các giao 123doc 6 dịch vốn giữa họ và giữa các doanh nghiệp trực thuộc, trong trường hợp cả hai hợp nhất hay chưa hợp nhất. Theo Luật Đầu tư (2014) của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp để tiến hành hoạt động đầu tư. Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư góp vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác vào các nước khác với nước của các nhà đầu tư nhằm mục đích hoạt động, tìm kiếm lợi nhuận lâu dài và gắn liền với quyền điều hành của doanh nghiệp. Phân loại đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Duce và Espana (2003) phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài thành 3 nhóm chính sau đây: Đầu tư vốn chủ sở hữu: đầu tư vào các công ty con, chi nhánh, cũng như các phần góp vốn vào các công ty khác.
Tái đầu tư thu nhập: mở rộng đầu tư bằng các nguồn lợi nhuận chưa phân phối như lợi nhuận của công ty con, công ty liên kết. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp khác: bao gồm vay và cho vay các nguồn vốn khác như chứng khoán nợ, tín dụng thương mại giữa nhà đầu tư và công ty đầu tư, giữa các công ty đầu tư với nhau. Đặc điểm của nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Theo Dunning (1993) đã chỉ ra có 3 nhân tố chính của dòng vốn FDI dựa vào động cơ sau sự đầu tư đó là sự trông mong của các nhà đầu tư: Yếu tố thứ nhất của dòng vốn FDI chính là tìm kiếm thị trường. Dòng vốn FDI chủ yếu này hướng tới các thị trường trong nước và trong khu vực hay còn gọi là dòng vốn FDI thay thế.
123doc 7 Dòng vốn FDI thứ hai đó là dòng vốn tìm kiếm nguồn lực, dòng vốn này nhằm hướng đến tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ. Một dòng vốn nữa đó là tìm kiếm hiệu quả. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nƣớc Helpman và Sibert, Richard S.Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được dùng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thì thường có năng suất cận biên thấp hơn, còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn.
Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là hoạt động nào có năng suất cận biên cao hơn mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thị họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó có năng suất cận biên thấp. Chu kỳ sản phẩm Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới, giai đoạn sản phẩm chín mùi, giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu của thị trường bản địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách dựa vào nguồn vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín mùi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành dòng vốn FDI.
Raymond Vernon (1966) 123doc 8 lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc sản phẩm này có nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước có chi phí sản xuất thấp hơn. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia Stephen H.
(1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế mạnh về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước có sẵn nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và có thị trường tiêu thụ tiềm năng. Tiếp cận thị trƣờng và giảm xung đột thƣơng mại Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương.
Chẳng hạn Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Để đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và Châu Âu để giảm xuất khẩu cho các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
Khai thác chuyển giao công nghệ Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ các nước phát triển sang nước kém phát triển hơn, chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Chẳng hạn, Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở 123doc 9 Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô ở Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính Nhật Bản cũng vậy.
Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ mà các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự, Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ như việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM để tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên Để có nguồn tài nguyên thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản trong những năm của thập niên 1950 là vì mục đích này và hiện nay thì Trung Quốc cũng có những chính sách tương tự. Vai trò của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 2.
Bổ sung nguồn vốn trong nƣớc Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.