Chương 1: KCN, CCN và những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào KCN, CCN. - Chương 2: Phân tích thực trạng thu hút đầu tư vào các KCN, CCN tỉnh Tiền Giang - Chương 3: Giải pháp thu hút đầu tư vào khu công nghiệp các KCN tỉnh Tiền Giang đến năm 2020. 123doc -4- CHƢƠNG 1 KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƢ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP 1 Ề KCN, CCN 1 1.1 Khái niệm sống và do Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc thành phố ra quyết định thành 1 - - - nước ngoài. - KCN có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động.
- thuê đất, phí điều hành KCN. - nh nghiệp,… 1 Cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về CCN, tùy theo các nhà nghiên cứu, tùy địa phương và tùy thời điểm. CCN có thể định nghĩa như sau: 123doc -5- 1.1 Khái niệm Việc phát triển các CCN đều có chủ trương lãnh đạo của tỉnh và được đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương 1 - - Ngành nghề thường gắn liền với vùng nguyên liệu, với ngành nghề truyền thống của từng địa phương. - CCN do UBND cấp tỉnh, thành phố quyết định thành lập.
- Cơ chế quản lý: Đầu mối quản lý các CCN khá đa dạng do chưa có quy định chung của Chính phủ. Một số địa phương thì giao cho Ban Quản lý các KCN địa phương quản lý như Hà Nội, Quảng Nam, Phú Yên, Tiền Gi ơng.3 Doanh nghiệp KCN, CCN Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, CCN, bao gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. 1 Đối với DN kinh doanh hạ tầng CCN thì do UBND tỉnh, thành phố quyết định sau khi có chủ trương của Chính phủ. 1 123doc -6- sử dụng con dấu Quốc Huy.6 Lý thuyết phát triển KCN 1.1 Đầu tƣ là một hoạt động kinh tế của đất nƣớc Một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở, một vấn đề trong cuộc sống được mọi gia đình, mọi cá nhân quan tâm khi có điều kiện nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình.
Bản chất thuật ngữ “đầu tư” là sự bỏ ra, sự chi phí, sự hy sinh và hoạt động đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh sự chi phí các nguồn lực (tiền, của cải vật chất, sức lao động,.) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt được những kết quả lớn hơn (các chi phí đã bỏ ra) trong tương lai 1.2 Phân loại đầu tƣ: * Đầu tư tài chính Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư (đánh bạc nhằm mục đích thu lời cũng là một loại đầu tư tài chính nhưng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội. Công ty mở sòng bạc để phục vụ nhu cầu giải trí của người đến chơi nhằm thu lại lợi nhuận về cho Công ty thì đây lại là đầu tư - phát triển nếu được Nhà nước cho phép và tuân theo đầy đủ các quy chế hoạt động do Nhà nước quy định để không gây ra các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được luân chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác).
Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. * Đầu tư thương mại Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán.
Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), 123doc -7- mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung (chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư thương mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lý lưu thông phân phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi của người tiêu dùng). * Đầu tư phát triển Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.7 Sự cần thiết trong việc thu hút đầu tư xây dựng các khu công nghiệp Đầu tư nước ngoài vào KCN, CCN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho nguồn vốn phát triển kinh tế.
Đối với Việt Nam, để tăng trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn trong nước chưa thể đáp ứng nổi nhu cầu đó. Do đó thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN là rất quan trọng vì KCN phản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của quốc gia đó. Do vậy việc thu hút thêm nguồn vốn đầu tư vào các KCN là rất quan trọng. Thu hút công nghệ: Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý, kinh nghiệm là điều rất quan trọng đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Thông qua việc thu hút thêm đầu tư vào KCN sẽ là những hoạt động chuyển giao công nghệ, qua đó chúng ta có thể có được những công nghệ tiên tiến hiện đại cũng như kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. 123doc -8- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH: Việc thu hút được nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các KCN sẽ làm cho cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp. Thực tế đã có rất nhiều nước thành công trong công cuộc CNH- HĐH đất nước thành công nhờ một phần không nhỏ vào hoạt động của KCN, KCX như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…Tại VN, sự phát triển và lớn mạnh của các KCN, KCX đã góp phần quan trọng đưa đất nước ta tiến nhanh trên con đường CNH - HĐH đất nước.2 VAI TRÒ CỦA KCN, CCN Đặc biệt một số nước trong khu vực này đã thành công rất lớn trong việc sử dụng các hình thức KCN, KCX, KCNC để phát triển kinh tế của quốc gia. Điển hình là KCNC ở Tân Trúc – Đài Loan, được xây dựng năm 1980 với diện tích xây dựng 650 ha trên tổng diện tích quy hoạch 2.100ha, với tổng số vốn đầu năm 1995 lên tới 7 tỷ USD, sau 15 năm hoạt động tổng doanh số hàng hóa và dịch vụ đạt được 10,94 tỷ USD chiếm 3,6% GDP Đài Loan.
Đến năm 1992, trên Thế giới đã có 280 KCX được xây dựng ở 40 quốc gia, trong đó có khoảng 60 khu đã hoạt động mang lại hiệu quả cao. Cụ thể: tổng số người làm việc trong các KCX từ các nước đang phát triển đạt trên 500.000 người, tổng trị giá xuất khẩu các sản phẩm chế biến của các nước đang phát triển là 258 tỷ USD, chiếm khoảng 80% xuất khẩu của KCX, trong đó chủ yếu từ các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan. Giá trị xuất khẩu được tính trên người công nhân là hơn 30.500 USD ở Đài Loan, 67.800 USD ở Hàn Quốc, 72.000 USD ở 123doc -9- (khu Baguio City) Philippines. Các KCX đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, phần lớn tập trung vào các ngành điện tử, sản xuất ô tô.
Các KCN hình thành, đã thu hút các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy, xí nghiệp sản xuất, cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Đồng thời với vốn đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư đã trang bị cho các KCN những dây chuyền công nghệ và phương pháp sản xuất mới, trực tiếp góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh tiến trình CNH – HĐH đất nước. Cụ thể như sau: 1.1 Thu hút nhiều nguốn vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế Đặc điểm của mô hình phát triển các KCN, KCX và CCN (gọi chung KCN) là các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh của nguồn vốn trong và ngoài nước. Việc xây dựng và phát triển các KCN sẽ giúp cho đất nước thu hút được một nguồn vốn khá quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia.
Trong việc quy hoạch lại các mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp, Chính phủ rất khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN. Thực tế ở Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu đối với sự nghiệp CNH, HĐH là vốn. Trong những năm qua phát triển KCN đã huy động được nguồn vốn khá lớn cho nền kinh tế, đi liền với nó là hệ thống các chính sách đầu tư.