Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ VÀ ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA 1. Khái quát về thương mại quốc tế 1. Khái niệm và các hình thức của thương mại quốc tế 1. Khái niệm thương mại quốc tế Có rất nhiều khái niệm về thương mại quốc tế.
Theo Wikipedia, Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Theo một định nghĩa khác thì Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Nếu xét trong phạm vi quan hệ kinh tế quốc tế thì Thương mại quốc tế (TMQT) là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế. Theo đó, có thể hiểu Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản trí tuệ giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm đem lại lợi ích tối đa cho các bên.
Trong đó, trao đổi hàng hóa phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người kinh doanh hàng hóa của các quốc gia. Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển: - Có sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp, kèm theo sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ. - Có sự ra đời của nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Thương mại quốc tế có vai trò to lớn, tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, thúc đẩy kinh tế phát triển và cải thiện đời sống người dân.
Do đó, thương mại quốc tế không đơn thuần là việc trao đổi hàng hóa mà quan trọng hơn còn giúp cho các quốc gia tăng cường phân công lao động quốc tế. Vì vậy, phải xem xét thương mại quốc tế là một nhân tố thiết yếu trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước trên cơ sở tập trung vào phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Trên nền tảng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế phải đồng thời khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối của đất nước 5 theo quy luật chi phí cơ hội. Khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế, các nước phải luôn tính toán cẩn thận phần thu được và phần thiệt hại khi so sánh chênh lệch giá để đưa ra phương pháp hợp tác hiệu quả nhất.
Theo đó, nếu muốn phát huy tính hiệu quả của thương mại quốc tế, các bên tham gia cần chú trọng mối quan hệ hợp tác, phát triển, đầu tư lâu dài, bền bĩ và đem lại thành công trên nhiều lĩnh vực. Có vậy, quan hệ thương mại giữa các quốc gia mới thật sự bền chặt, sự phụ thuộc giữa các bên ngày càng lớn. Các hình thức của thương mại quốc tế - Thương mại quốc tế về hàng hóa Thương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa hữu hình. Ví dụ: Những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hàng hóa là trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa.), nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc… - Thương mại quốc tế về dịch vụ Thương mại quốc tế về dịch vụ là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua hoạt động của con người.
Hiện nay, hoạt động thương mại dịch vụ ngày càng được đề cao trong thương mại quốc tế với nhiều lĩnh vực như tài chính, khách sạn, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, giải trí, viễn thông… - Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư là hình thức thương mại trong đó diễn ra sự trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với hoạt động đầu tư quốc tế. Với sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn đa quốc gia và sự tăng trưởng nhanh chóng của các dòng vốn đầu tư quốc tế, hình thức này ngày càng được xem trọng trong chính sách phát triển kinh tế của các quốc gia. - Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là hoạt động thương mại có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ. Ví dụ: quyền sáng chế, quyền tác giả, tác phẩm, bí quyết công nghệ… 6 1.
Các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế 1. Không phân biệt đối xử Nguyên tắc này được trình bày cụ thể trong hai quy định: Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và và chế độ đãi ngộ quốc gia: - Đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favoured Nation, viết tắt là MFN) là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Nguyên tắc này được quy định cụ thể trong điều I Hiệp định GATT, điều II Hiệp định GATS và Điều IV Hiệp định TRIPs. Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc đòi hỏi một quốc gia phải dành cho tất cả các quốc gia thành viên một chế độ ưu đãi thương mại như nhau.
Theo nguyên tắc này nếu một nước dành cho một nước thành viên một sư đãi ngộ hay miễn trừ nào đó thì cũng phải dành sự đãi ngộ và miễn trừ đó cho tất cả các quốc gia thành viên còn lại. Ví dụ, trong thương mại hàng hoá nếu một quốc gia thành viên A áp dụng một mức thuế quan ưu đãi cho sản phẩm của quốc gia thành viên B thì quốc gia thành viên A cũng phải áp dụng mức thuế này cho sản phẩm cùng loại của các nước thành viên khác. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ được WTO quy định cho các quốc gia thành viên khi áp dụng nguyên tắc MFN: + Quyết định của Đại hội đồng GATT ngày 26/11/1971 về “Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển” cho phép các nước đang phát triển đàm phán, ký kết những hiệp định thương mại để dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng mức thuế ưu đãi này đối với hàng hoá của các nước phát triển; + Quốc gia thành viên dành lợi thế cho các nước có chung đường biên giới nhằm tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hoá vùng biên giới. + Điều 24 của GATT quy định các quốc gia thành viên của các hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự ưu đãi hơn về thuế quan mang tính phân biệt đối xử với các quốc gia khác ngoài khu vực.
+ Quyết định của đại hội đồng GATT ngày 25/6/1971 về việc thiết lập hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) chỉ áp dụng cho hàng hoá xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển. 7 Ý nghĩa của Nguyên tắc Đãi ngộ tối huệ quốc : + Đáp ứng nhu cầu nhập khẩu theo cách hiệu quả nhất, thông qua lợi thế so sánh nâng cao hiệu quả giá thành. + Buộc các quốc gia phải xem nguyên tắc MFN là nghĩa vụ bắt buộc phải thi hành, nhờ đó có thể phát huy tính khả thi của việc cắt giảm thuế quan và thúc đẩy việc thực hiện đa biên hóa. + Các nước lớn buộc phải đối xử công bằng với các nước nhỏ.
+ Đơn giản hóa quy trình nhập khẩu và đảm bảo tính rõ ràng minh bạch cho các chính sách thương mại. - Đãi ngộ quốc gia (National Treatment, viết tắt là NT) Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia được quy định tại điều III Hiệp định GATT, điều XVII Hiệp định GATS và điều III Hiệp định TRIPs. Theo nguyên tắc này, hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ cùng loại trong nước. Nguyên tắc NT không cho phép các quốc gia thành viên áp dụng những hạn chế về số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ một số ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO, cụ thể: + Mất cân đối cán cân thanh toán (Điều XII và XVIII.b) + Nhằm mục đích bảo vệ nghành công nghiệp non trẻ trong nước (Điều XVIII.c) + Bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều (Điều XIX) + Vì lý do sức khoẻ và vệ sinh (Điều XX) + Vì lý do an ninh quốc gia (Điều XXI).
Bên cạnh đó, nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia còn ngoại lệ cho trường hợp trợ giá cho sản xuất hoặc xuất hay nhập khẩu. Đây được xem là một ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc NT. Nguyên tắc mở cửa thị trường và tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng Tự do thương mại ngày càng được xem trọng trong các mục tiêu đề ra của 8 WTO. Để làm được điều này, các rào cản thuế quan và phi thuế quan giữa các nước phải được dỡ bỏ để đẩy mạnh quá trình tự do hóa thương mại trong quan hệ buôn bán giữa các quốc gia.
Theo đó, các cuộc đàm phán đa phương với mục tiêu cắt giảm và tiến tới dỡ bỏ hoàn toàn những trở ngại về thuế quan và phi thuế quan phải được WTO tổ chức thường xuyên để các bên đề ra những thỏa thuận nhất định về vấn đề này. Sau khi đã giải quyết được vấn đề vế thuế quan và phi thuế quan thì cạnh tranh tự do, công bằng sẽ được thiết lập giữa các quốc gia thành viên. Qua đó, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng với năng suất lao động cũng sẽ được nâng cao thông qua việc cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra, sự tối giản can thiệp của nhà nước vào các hoạt động thương mại như trợ giá, bù lỗ cũng được xem là một khía cạnh cần được quan tâm trong nguyên tắc này.
Nguyên tắc minh bạch ổn định trong thương mại Nguyên tắc này được WTO quy định bằng cách yêu cầu các quốc gia thành viên phải rõ ràng, minh bạch trong các chính sách, luật pháp về thương mại quốc tế. Đồng thời, các nước này phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho thương mại quốc tế nhẳm đảm bảo tính ổn định rõ ràng và có thể dự báo được trong thương mại quốc tế.