Luận văn đối ngoại công chúng biên giới Việt - Trung tại Hà Giang (2015 - 2021)

Nghiên cứu hoạt động đối ngoại công chúng khu vực biên giới Việt - Trung tại Hà Giang giai đoạn 2015-2021, thực trạng và giải pháp phát triển hiệu quả.

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động đối ngoại công chúng biên giới Việt Trung tại Hà Giang

Hoạt động đối ngoại công chúng khu vực biên giới Việt - Trung tại tỉnh Hà Giang từ năm 2015 đến 2021 diễn ra đa dạng nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa, kinh tế và an ninh quốc phòng. Đây là giai đoạn quan trọng khi Hà Giang triển khai nhiều sáng kiến hợp tác xuyên biên giới, tận dụng vị trí chiến lược của tỉnh. Các hoạt động tập trung vào giao lưu nhân dân, trao đổi thương mại, quảng bá văn hóa và giải quyết vấn đề an ninh biên giới. Theo thống kê, tỉnh đã tổ chức hơn 150 sự kiện đối ngoại công chúng, thu hút sự tham gia của hàng nghìn người dân hai nước. Hoạt động này góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ song phương Việt - Trung ngày càng phát triển. Chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Bộ đội Biên phòng và các cơ quan liên quan để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

1.1. Bối cảnh lịch sử và vị trí chiến lược của Hà Giang

Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc, có đường biên giới dài 265 km giáp Trung Quốc. Vị trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa và an ninh. Từ năm 2015, tỉnh đã tận dụng lợi thế này để triển khai các hoạt động đối ngoại công chúng. Theo tài liệu của Sở Ngoại vụ tỉnh, Hà Giang có 4 cửa khẩu quốc tế và 12 cửa khẩu phụ, đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa hai quốc gia. Bối cảnh lịch sử cũng ghi nhận nhiều hoạt động giao lưu truyền thống giữa cư dân hai bên biên giới. Sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn này đã tạo nền tảng vững chắc cho các hoạt động đối ngoại.

1.2. Khái niệm và vai trò của đối ngoại công chúng

Đối ngoại công chúng là hoạt động giao lưu, trao đổi giữa người dân, tổ chức phi chính phủ hai nước nhằm xây dựng lòng tin và hợp tác bền vững. Tại Hà Giang, hoạt động này được thực hiện thông qua các chương trình giao lưu văn hóa, trao đổi thương mại và tuyên truyền hình ảnh địa phương. Theo nghiên cứu của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đối ngoại công chúng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc. Hoạt động này giúp giảm căng thẳng, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.

II. Phân tích thực trạng hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang

Giai đoạn 2015-2021, Hà Giang đã triển khai nhiều hoạt động đối ngoại công chúng nhằm tăng cường hợp tác với Trung Quốc. Theo báo cáo của Sở Ngoại vụ, tỉnh đã tổ chức 152 sự kiện, trong đó 68% tập trung vào giao lưu văn hóa, 22% vào trao đổi thương mại và 10% vào an ninh biên giới. Các hoạt động như Lễ hội giao lưu văn hóa biên giới, hội chợ sản phẩm địa phương và chương trình giao lưu thanh niên hai nước đã thu hút sự tham gia đông đảo. Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực, hạ tầng chưa đồng bộ và tác động của dịch bệnh COVID-19. Theo đánh giá của tác giả luận văn, hiệu quả hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

2.1. Những nhân tố tác động đến hoạt động đối ngoại

Hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chính sách của Trung ương, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương và quan hệ quốc tế. Theo nghiên cứu, các chính sách của Đảng và Nhà nước về đối ngoại đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh triển khai hoạt động. Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế của Hà Giang với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7,5% giai đoạn 2015-2020 cũng góp phần nâng cao năng lực tài chính cho các hoạt động đối ngoại. Tuy nhiên, dịch bệnh COVID-19 từ năm 2020 đã gây gián đoạn nghiêm trọng, buộc tỉnh phải điều chỉnh phương thức hoạt động sang hình thức trực tuyến.

2.2. Đánh giá hiệu quả và hạn chế trong triển khai

Theo báo cáo của Đài Truyền hình Hà Giang, hoạt động đối ngoại công chúng đã góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, thúc đẩy du lịch và thương mại. Các sự kiện như hội chợ sản phẩm OCOP, giao lưu thanh niên hai nước đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn tồn tại nhiều hạn chế như thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, nguồn lực tài chính hạn chế và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu. Theo tác giả luận văn, hiệu quả hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang còn thấp do chưa tận dụng hết tiềm năng của các kênh truyền thông.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại công chúng

Để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại công chúng tại khu vực biên giới Việt - Trung tỉnh Hà Giang, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, nguồn lực và phương thức hoạt động. Theo đề xuất của tác giả luận văn, tỉnh cần xây dựng kế hoạch dài hạn gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Cụ thể, tăng cường hợp tác với các tỉnh biên giới Trung Quốc như Vân Nam, Quảng Tây để tổ chức các chương trình giao lưu quy mô lớn. Bên cạnh đó, tỉnh cần nâng cấp hạ tầng giao thông, đặc biệt là các cửa khẩu, để thuận lợi cho hoạt động giao thương. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức sự kiện cũng là giải pháp quan trọng.

3.1. Nâng cao năng lực tổ chức và nguồn lực tài chính

Theo nghiên cứu, hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang cần được đầu tư nhiều hơn về nguồn lực tài chính và nhân lực. Tỉnh cần xây dựng quỹ hỗ trợ hoạt động đối ngoại, huy động nguồn vốn từ doanh nghiệp và cộng đồng. Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp đa văn hóa. Theo đề xuất của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tỉnh nên thành lập trung tâm đối ngoại công chúng để điều phối các hoạt động. Nâng cấp hạ tầng công nghệ, ứng dụng phần mềm quản lý sự kiện cũng giúp nâng cao hiệu quả tổ chức.

3.2. Đa dạng hóa phương thức hoạt động đối ngoại

Hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang cần đa dạng hóa phương thức triển khai để thu hút sự tham gia của đông đảo người dân. Theo tác giả luận văn, tỉnh nên kết hợp các hình thức trực tiếp và trực tuyến, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh. Tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, thể thao, ẩm thực hai nước để tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Bên cạnh đó, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thông qua báo chí, truyền hình và mạng xã hội. Theo đánh giá của Sở Ngoại vụ, việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động đối ngoại sẽ giúp mở rộng phạm vi tiếp cận, nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho hoạt động đối ngoại công chúng

Hoạt động đối ngoại công chúng tại khu vực biên giới Việt - Trung tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015-2021 đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy hợp tác hữu nghị giữa hai dân tộc. Theo nghiên cứu, hoạt động này đã giúp quảng bá hình ảnh địa phương, thúc đẩy du lịch và thương mại. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động vẫn còn hạn chế do thiếu nguồn lực, hạ tầng chưa đồng bộ và tác động của dịch bệnh. Để nâng cao hiệu quả, tỉnh cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, nguồn lực và phương thức hoạt động. Theo khuyến nghị của tác giả luận văn, tỉnh nên xây dựng kế hoạch dài hạn, đa dạng hóa phương thức hoạt động và nâng cấp hạ tầng giao thông.

4.1. Đánh giá chung về hoạt động đối ngoại công chúng

Theo nghiên cứu của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, hoạt động đối ngoại công chúng tại Hà Giang đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Các sự kiện như Lễ hội giao lưu văn hóa biên giới, hội chợ sản phẩm địa phương đã thu hút sự tham gia đông đảo. Theo báo cáo của Sở Ngoại vụ, hoạt động này đã giúp quảng bá hình ảnh địa phương, thúc đẩy du lịch và thương mại. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên.

4.2. Định hướng phát triển trong giai đoạn tới

Trong giai đoạn tới, Hà Giang cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại công chúng thông qua việc đa dạng hóa phương thức triển khai. Theo đề xuất của tác giả luận văn, tỉnh nên xây dựng kế hoạch dài hạn gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Tăng cường hợp tác với các tỉnh biên giới Trung Quốc để tổ chức các chương trình giao lưu quy mô lớn. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức sự kiện để nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Hoạt động đối ngoại công chúng khu vực biên giới việt trung tại tỉnh hà giang từ năm 2015 đến năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CÔNG CHÚNG TẠI CÁC TỈNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM 1.1 Khái niệm đối ngoại công chúng Đối ngoại công chúng là một lĩnh vực đã có từ lâu trên thế giới dưới những tên gọi và hình thức khác nhau tại mỗi quốc gia, trong mỗi thời kỳ. Dưới mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những quan điểm về khái niệm khác nhau về đối ngoại công chúng. Trong cuốn Đối ngoại công chúng – Mô hình hoạt động của một số nước lớn trên thế giới và đề xuất đối với Việt Nam, PGS,TS Phạm Minh Sơn đã đưa ra 3 loại ý kiến phổ biến về đối ngoại công chúng, cụ thể: Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, đối ngoại công chúng là công việc của riêng công chúng, nhân dân của nước này tác động vào chính phủ và nhân dân nước khác nhằm cảm hóa chính phủ và nhân dân nước đó thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho mình. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, đối ngoại công chúng là nỗ lực của chính phủ một quốc gia trong việc tảo ảnh hướng tới công chúng của một nước khác để từ đó công chúng tác động tới chính phủ làm chính phủ nước đó thay đổi chính sách đối ngoại có lợi cho mình.

Loại ý kiến thứ ba cho rằng, đối ngoại công chúng là sự nỗ lực của chính phủ một quốc gia và toàn thể nhân dân quốc gia đó tạo ảnh hưởng đến chính phủ và công chúng của một quốc gia khác nhằm làm cho chính phủ nước đó thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho mình. [42, tr19] Có thể thấy mỗi cách tiếp cận sẽ có một ý kiến hợp lý về đối ngoại công chúng song trong cả 3 ý kiến đã đề cập đến 3 yếu tố sau [42, tr20]: 10 - Chủ thể hoạt động đối ngoại công chúng: là chính phủ hoặc công chúng hoặc cả chính phủ và công chúng cùng kết hợp - Phương thức của hoạt động đối ngoại công chúng: là gây ảnh hưởng trực tiếp đến chính phủ hoặc gây ảnh hưởng đến công chúng để công chúng tác động trở lại chính phủ. - Mục đích của hoạt động đối ngoại công chúng: là nhằm làm cho chính phủ thay đổi chính sách có lợi cho chính phủ, công chúng tiến hành hoạt động đối ngoại công chúng theo phương châm đôi bên cùng có lợi, đôi bên cùng chiến thắng. Nhìn nhận dưới góc độ học thuật, khái niệm về hoạt động đối ngoại công chúng còn khá mới mẻ tại Việt Nam.

Trong các nghiên cứu về đối ngoại thường nhìn nhận và tiếp cận công tác đối ngoại dưới các góc độ: - Chủ thể thực hiện (cách gọi khác là kênh đối ngoại): gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân - Lĩnh vực hoạt động: gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa [42, tr20] Đối ngoại công chúng là một khái niệm rộng [15], có những điểm chung và khác biệt đối với một số khái niệm thường được dùng trong nghiên cứu về đối ngoại và quan hệ quốc tế. Để hiểu rõ được khái niệm về hoạt động đối ngoại công chúng, cần phân biệt và làm rõ những khái niệm gần gũi và liên quan đó mà đặc biệt là khái niệm “ngoại giao nhân dân”, “ngoại giao công chúng”. “Ngoại giao nhân dân” được giải thích trong từ điển Bách khoa Việt Nam là “một hình thức thực hiện quan hệ đối ngoại, do các tổ chức hoặc cá nhân (thuộc nhiều lĩnh vực) tiến hành, không mang tính chất chính thức của chính phủ các nước. Ngoại giao nhân dân được thể hiện dưới nhiều hình thức như các chuyến thăm hữu nghị, hội thảo, hội đàm trao đổi ý kiến, thông tin, hội nghị quốc tế, fesstival.

Ngoại giao nhân dân ngày càng đóng vai trò quan trọng 11 trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác có hiệu quả giữa các quốc gia, tạo sự đồng tình của dư luận thế giới đấu tranh vì hòa bình. [49, tr120] “Ngoại giao công chúng” là khái niệm rất phổ biến trong các nghiên cứu về quan hệ quốc tế trên thế giới.Morrow – Giám đốc Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (USIA) thời ký Tổng thống J.Kennedy đã định nghĩa ngoại giao công chúng là những tương tác không nhằm đến chính phủ nước ngoài và chủ yếu hướng đến các cá nhân và tổ chức phi chính phủ và thường xuyên thể hiện sự đa dạng trong quan điểm cá nhân bổ sung và quan điểm của chính phủ.Nye (Hoa Kỳ) đã viết trong cuốn Quyền lực mềm: Chuyển tải thông tin và truyền bá hình ảnh tích cực chỉ là một phần của ngoại giao công chúng, tuy nhiên ngoại giao công chúng còn liên quan đến xây dựng những quan hệ lâu dài nằm kiến tạo môi trường khả dĩ cho chính sách của nhà nước. [16] Ngoại giao công chúng còn được hiểu là hoạt động ngoại giao hướng tới công chúng nhằm tạo ảnh hưởng trong các tầng lớp xã hội khác nhau. Khác với các hình thức hoạt động ngoại giao truyền thống có đối tượng là nhà nước, ngoại giao công chúng có đối tượng là nhân dân (công chúng).

Trong hình thức hoạt động ngoại giao này, chủ thể tiến hành hoạt động ngoại giao là quốc gia nhưng có thể kết hơp với chủ thể phi quốc gia. Các biên pháp thực hiện cũng rất đa dạng, từ sử dụng phương tiện thông tin đại chúng đến tài trợ cho các dự án nhân đạo, từ giao lưu văn hóa tới cung cấp học bổng,. [30, tr 171-172] Năm 1987, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã định nghĩa lại: “ngoại giao công chúng” là “những chương trình do chính phủ bảo trợ, nhằm cung cấp thông tin hay tác động vào ý kiến công chúng các nước thông qua những công cụ chính là các ấn phẩm, phim ảnh, các hoạt động trao đổi văn hóa, đài phát thanh và truyền hình”. [16] Có thể thấy so với khái niệm “Ngoại giao công chúng” thì khái niệm “Đối ngoại công chúng” rộng hơn, bao gồm các hoạt động không những của 12 chính phủ, mà còn của các tổ chức khác, phi chính phủ, thậm chí là hoạt động do các cá nhân tiến hành.

Đối ngoại công chúng là một kiểu (dạng thức) hoạt động đối ngoại chủ yếu do chính phủ và công chúng (tổ chức hoặc cá nhân) tiến hành dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng, vừa không chính thức vừa chính thức, vừa truyền thống vừa hiện đại: gặp gỡ, các cuộc đi thăm hữu nghị, hội đàm, trao đổi ý kiến, hội thảo, hội nghị quốc tế, festival, giao lưu văn hoá… nhằm tạo ảnh hưởng đến công chúng của một quốc gia khác và qua công chúng khiến chính phủ của nước đó thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho việc hoạch định và thực thi chính sách của quốc gia tiến hành hoạt động đối ngoại. Từ những nghiên cứu, quan điểm và sự phân biệt với các khái niệm tương đồng và gần gũi trong quan hệ quốc tế ở trên, có thể hiểu Đối ngoại công chúng là nỗ lực hoạt động và quan hệ của chính quyền và nhân dân dưới sự chỉ đạo và định hướng của Đảng với công chúng nước ngoài để thực hiện chính sách đối ngoại quốc gia do Nhà nước và tổ chức, cá nhân phi nhà nước tiến hành. Từ đó có thể hiểu Đối ngoại công chúng tại các tỉnh biên giới là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại công chúng, là một dạng thức hoạt động đối ngoại chủ yếu do chính phủ và công chúng (tổ chức hoặc cá nhân) tại các tỉnh biên giới thực hiện nhằm thực hiện các mục tiêu đối ngoại.2 Vai trò của đối ngoại công chúng tại các tỉnh biên giới Việt Nam Biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc với các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền trên biển. Ranh giới này hoặc là đường ranh giới được ghi nhận trên bản đồ và được đánh dấu trên thực địa hoặc là mặt thẳng đứng đi qua đường ranh giới nói trên xác định giới hạn bên ngoài của lãnh thổ quốc gia.

Đây chính là giới hạn không gian của quyền lực tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đường biên giới quốc gia được quy định cụ thể tại Điều 1, Luật biên giới quốc gia năm 2003, có hiệu lực thi 13 hành từ ngay 01/01/2004. Theo đó, “Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ trên đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.[36] Dựa theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể chia ra thành các dạng biên giới gồm: - Đường biên giới quốc gia trên đất liền - Đường biên giới trên biển - Đường biên giới trên không - Đường biên giới bên trong lòng đất Khu vực biên giới là phần lãnh thổ nằm phía trong, tiếp giáp với đường biên giới quốc gia, có phạm vi và chế độ pháp lý riêng nhất định theo các quy định của pháp luật quốc gia hoặc các Điều ước quốc tế về quy chế biên giới được quốc gia ký kết. Khoản 1 Điều 6 Luật Biên giới năm 2003 quy định: "Khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền”.[36] Việt Nam tiếp giáp phía Bắc là Trung Quốc, phía Tây là Lào và Campuchia, phía nam là Vịnh Thái Lan, phía Đông là vịnh Bắc Bộ và biển Đông.

Đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài 1.449,566 km tiếp giáp giữa 07 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang- Quảng Tây/Trung Quốc. Phía Việt Nam có 168 xã, phường, thị trấn, 34 huyện, thị xã, thành phố biên giới, 72 đồn biên phòng. Phía Trung Quốc có 14 huyện biên giới, 09 trạm hội ngộ, hội đàm, 07 đơn vị, 29 tổ công tác và đài quan sát của lực lượng Bộ đội Biên phòng; 09 trạm kiểm soát biên phòng và 03 đơn vị của lực lượng công an biên phòng. [47] 14 Trong quan hệ quốc tế, hoạt động đối ngoại công chúng của các quốc gia trong đó có Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng đặc biệt là các hoạt động đối ngoại công chúng tại các tỉnh biên giới bởi tính chất địa chính trị: nhạy cảm chính trị, yếu tố chủ quyền và hoạt động của nhân dân, chính quyền của các tỉnh khu vực biên giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ