Ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh r nnghiệp đến hiệu suất doanh nghiệp tại các r ncông ty niêm yết trên thị trường chứng r nkhoán việt nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến hiệu suất công ty niêm yết tại Việt Nam. Phân tích tác động CSR lên hiệu quả tài chính.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

81
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan

1.1.1. Nghiên cứu quốc tế

1.1.2. Nghiên cứu trong nước

1.1.3. Kết quả đạt được từ các nghiên cứu đã thực hiện

1.1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.2. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Quản trị công ty (Corporate Governance)

2.1.2. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)

2.1.3. Hiệu suất doanh nghiệp (Firm performance)

2.2. Lý thuyết và mô hình liên quan

2.2.1. Lý thuyết người đại diện (Agency Theory)

2.2.2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Xác định phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

3.2. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

3.3. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

3.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Kết quả mô hình và thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2.1. Kiểm định sự tương quan giữa CSR và HSDN

4.2.2. Kiểm định vai trò điều tiết của QTCT trong mối tương quan giữa CSR và HSDN

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kiến nghị và hàm ý

5.2. Định hướng cho các nghiên cứu sau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Ảnh hưởng CSR đến Hiệu suất Doanh nghiệp

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhận thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững gia tăng, các doanh nghiệp (DN) chịu áp lực lớn hơn trong việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR). Các vụ bê bối liên quan đến CSR đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh thương hiệulợi nhuận. Ví dụ, vụ bê bối khí thải của Volkswagen gây thiệt hại ước tính 33 tỷ USD (Lâm Phong, 2016). Ở Việt Nam, Formosa Hà Tĩnh và Vedan Việt Nam là những ví dụ điển hình về tác động tiêu cực của việc thiếu trách nhiệm xã hội. Nhiều quốc gia đã yêu cầu công bố thông tin về CSR, nhưng ở Việt Nam, việc này vẫn còn tự nguyện. Do đó, các DN Việt Nam cần sớm công bố thông tin CSR để tiếp cận thị trường quốc tế. CSR không chỉ thu hút sự chú ý của công chúng mà còn được giới học thuật quan tâm (Aguinis & Glavas, 2012).

1.1. CSR Khái niệm Tầm quan trọng và Các Khía cạnh

CSR được định nghĩa bởi Carroll (1999) bao gồm 4 khía cạnh: kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện. Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc định nghĩa CSR là "quá trình kết hợp các vấn đề xã hội, môi trường, đạo đức, nhân quyền và các vấn đề người tiêu dùng vào hoạt động kinh doanh". Các nghiên cứu về CSR chủ yếu tập trung ở các nước phát triển (Brammer, Brooks & Pavelin, 2006). Ở Việt Nam, nghiên cứu còn hạn chế và tập trung ở giai đoạn trước năm 2015 (Vu & Buranatrakul, 2018). Những nghiên cứu trước đây cũng đưa ra các kết quả không đồng nhất về vai trò của CSR đối với hiệu suất doanh nghiệp (HSDN) (Brammer et al., 2006).

1.2. Mục tiêu Nghiên cứu CSR và Hiệu suất Doanh nghiệp

Nghiên cứu này nhằm đo lường và xác định mối liên hệ giữa CSRHSDN, cũng như vai trò điều tiết của quản trị công ty (QTCT) trong mối quan hệ này. Nghiên cứu sẽ là tài liệu thiết thực đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2015-2018.

II. Vấn đề CSR và Hiệu quả Doanh nghiệp Niêm yết

Một trong những vấn đề nổi bật là sự khác biệt về kết quả nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa CSRhiệu suất doanh nghiệp. Một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực, trong khi những nghiên cứu khác lại tìm thấy mối quan hệ tiêu cực hoặc không có mối quan hệ nào. Điều này tạo ra sự không chắc chắn cho các nhà quản lý về việc liệu đầu tư vào CSR có thực sự mang lại lợi ích về mặt tài chính hay không. Sự khác biệt về văn hóa, thể chế và mức độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Do đó, cần có những nghiên cứu cụ thể tại thị trường chứng khoán Việt Nam để hiểu rõ hơn về mối quan hệ này.

2.1. Thiếu Bằng chứng Thực nghiệm Tại Thị trường Việt Nam

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về CSR trên thế giới, số lượng nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế. Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước năm 2015, trong khi bối cảnh kinh tế và xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi kể từ đó. Cần có những nghiên cứu mới để đánh giá lại mối quan hệ giữa CSRHSDN trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào giai đoạn 2015-2018 để cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cập nhật.

2.2. Khung Pháp lý và Tiêu chuẩn CSR Còn Hạn chế

Khung pháp lý về CSR tại Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển và chưa có những quy định bắt buộc đối với các công ty niêm yết. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp thực hiện CSR một cách hình thức, không thực chất, và không tạo ra những tác động tích cực đến hiệu suất doanh nghiệp. Cần có những chính sách khuyến khích và quy định cụ thể hơn để thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện CSR một cách hiệu quả.

III. Cách CSR Tác động Hiệu suất Phân tích Mô hình Nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các công ty niêm yết trên HNX và HOSE trong giai đoạn 2015-2018. Mẫu nghiên cứu bao gồm 150 DN không thuộc ngành tài chính, có báo cáo tài chính đầy đủ và không bị khuyết thông tin về các chỉ số tài chính. Phương pháp nghiên cứu sử dụng phân tích định lượng, bao gồm thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định đa cộng tuyến, và phân tích hồi quy. Các kiểm định như Hausman, Modified Wald và Wooldridge test được sử dụng để đảm bảo tính hợp lệ của kết quả nghiên cứu. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để ước lượng mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

3.1. Phương pháp Thu thập và Xử lý Dữ liệu CSR HSDN

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty niêm yết. Các chỉ số tài chính được sử dụng để đo lường hiệu suất doanh nghiệp (HSDN), bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Thông tin về các hoạt động CSR được thu thập từ báo cáo thường niên hoặc báo cáo phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Sau khi thu thập, dữ liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê để thực hiện các phân tích cần thiết.

3.2. Giả thuyết Nghiên cứu Ảnh hưởng của CSR và QTCT

Nghiên cứu đặt ra hai giả thuyết chính: (1) CSR có ảnh hưởng tích cực đến HSDN của các công ty niêm yết tại Việt Nam; (2) Quản trị công ty (QTCT) có vai trò điều tiết mối quan hệ giữa CSRHSDN. Giả thuyết thứ hai cho rằng QTCT tốt hơn sẽ giúp các doanh nghiệp tận dụng hiệu quả hơn các lợi ích của CSR đối với hiệu suất doanh nghiệp. Các biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và ngành nghề kinh doanh.

IV. Kết quả Tương quan CSR và Hiệu suất tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa CSRHSDN tại các công ty niêm yết Việt Nam. Các doanh nghiệp thực hiện CSR tốt hơn thường có ROAROE cao hơn. Tuy nhiên, mối quan hệ này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như quản trị công ty (QTCT), quy mô doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh. Cần phân tích kỹ hơn để xác định vai trò điều tiết của QTCT trong mối quan hệ này. Các doanh nghiệp Việt Nam nên xem xét CSR như một công cụ để cải thiện hiệu suất doanh nghiệp và tạo dựng uy tín thương hiệu.

4.1. Kiểm định Tương quan giữa CSR và Hiệu suất

Kết quả kiểm định cho thấy có mối tương quan dương giữa CSRHSDN. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp thực hiện CSR tốt hơn có xu hướng có HSDN cao hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây chỉ là tương quan, không phải là quan hệ nhân quả. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để xác định liệu CSR có thực sự là yếu tố quyết định đến HSDN hay không.

4.2. Vai trò Điều tiết của Quản trị Công ty QTCT

Kết quả kiểm định vai trò điều tiết của QTCT cho thấy rằng QTCT có tác động đến mối quan hệ giữa CSRHSDN. Các doanh nghiệp có QTCT tốt hơn có khả năng tận dụng hiệu quả hơn các lợi ích của CSR đối với hiệu suất doanh nghiệp. Điều này cho thấy rằng việc cải thiện QTCT có thể giúp các doanh nghiệp tối đa hóa lợi ích từ việc thực hiện CSR.

V. Kiến nghị Nâng cao CSR cho Doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của CSR đối với hiệu suất doanh nghiệp tại Việt Nam. Các nhà quản lý nên xem xét CSR như một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về CSR và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện CSR một cách hiệu quả. Các nhà đầu tư nên xem xét các hoạt động CSR của doanh nghiệp như một tiêu chí quan trọng để đánh giá tiềm năng đầu tư.

5.1. Hàm ý chính sách cho Phát triển CSR tại Việt Nam

Chính phủ nên xây dựng các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện CSR, chẳng hạn như giảm thuế hoặc cấp chứng nhận cho các doanh nghiệp có hoạt động CSR tốt. Đồng thời, cần tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

5.2. Hướng Nghiên cứu Tiếp theo về CSR và Hiệu suất

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc xác định các yếu tố cụ thể của CSR có ảnh hưởng lớn nhất đến HSDN tại Việt Nam. Ngoài ra, cần có những nghiên cứu định tính để hiểu rõ hơn về động cơ và rào cản của các doanh nghiệp trong việc thực hiện CSR. Các nghiên cứu cũng nên mở rộng phạm vi sang các doanh nghiệp chưa niêm yết để có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình CSR tại Việt Nam.

20/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Trong những bối cảnh nghiên cứu khác nhau về địa lý, thể chế chính trị cũng như văn hoá kinh doanh và các đặc điểm khác, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR và HSDN cũng đưa ra những kết quả không đồng nhất. Các khoảng trống nghiên cứu của các nghiên cứu trước cũng được liệt kê ra và từ đó định hướng cho nghiên cứu này hay các nghiên cứu sau cách khắc phục. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Quản trị công ty (Corporate Governance) Thuật ngữ “Corporate Governance” được dịch sang tiếng Việt thành nhiều nghĩa như điều hành công ty hay chỉ đạo công ty. Tuy nhiên, để thống nhất với cách gọi chính thức của UBCKNN và BTC, người viết sẽ sử dụng thuật ngữ “QTCT” để dịch cụm từ “Corporate governance”.

QTCT được giới học thuật đưa ra rất nhiều định nghĩa, phụ thuộc vào mục đích của tác giả, mối quan tâm của họ và bối cảnh thể chế chính trị và hệ thống pháp lý của quốc gia đó. Claessens (2006) cho rằng: “các định nghĩa về QTCT rất khác nhau. Chúng có xu hướng chia thành hai loại. Nhóm định nghĩa đầu tiên liên quan đến các hành vi thực tế của tập đoàn, xét về các thước đo như hiệu suất, hiệu quả, tăng trưởng, cấu trúc tài chính và cách cư xử với cổ đông và các bên liên quan khác.

Nhóm thứ hai liên quan đến khuôn khổ quy chuẩn là các quy tắc mà công ty đang áp dụng, với các quy tắc đến từ các nguồn như hệ thống luật pháp, hệ thống tư pháp, thị trường tài chính và thị trường lao động. Loại định nghĩa đầu tiên phù hợp với các nghiên cứu về quốc gia hoặc công ty đơn lẻ, hướng đến xem xét các vấn đề như cách thức hoạt động của HĐQT, vai trò của ban lương thưởng trong việc xác định hiệu suất của công ty, mối quan hệ giữa chính sách lao động và hiệu quả hoạt động của DN và vai trò của các cổ đông”. Trong khi đó, theo Florackis (2008) QTCT liên quan đến việc tìm cách để giảm mức độ xung đột của nhà quản lý và cổ đông cũng như tác động tiêu cực của chúng đến giá trị DN. Một định nghĩa rộng hơn xác định QTCT như một tập hợp các cơ chế mà qua đó trong các hoạt động của công ty quyền sở hữu được tách biệt với quyền quản lý.

Điều này gần với định nghĩa được sử dụng của Hội đồng Cadbury: “QTCT là hệ thống mà các công ty được định hướng và được kiểm soát”. Trong khi đó, Gompers và cộng sự (2003) đưa ra định nghĩa rằng: QTCT có thể được hiểu là một tập hợp các quy tắc ngầm hiểu hoặc rõ ràng các định mối quan hệ giữa ba nhân tố chính trong công ty: chủ sở hữu thường là cổ đông, người quản lý và người kiểm soát. 15 Một định nghĩa khác của QTCT được đưa ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trong tài liệu “Các nguyên tắc QTCT” như sau: “QTCT là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các DN. Cấu trúc QTCT chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty cổ phần như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan.

QTCT cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty. Bằng cách này, QTCT cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.” Becht, Jenkinson & Mayer (2005) cho rằng QTCT liên quan đến việc giải quyết các vấn đề tập thể giữa các nhà đầu tư phân tán và hòa giải xung đột lợi ích giữa các chủ sở hữu công ty. Chức năng quan trọng nhất của QTCT là giám sát và giải quyết các vấn đề bắt nguồn từ xung đột lợi ích giữa nội bộ DN và cổ đông bên ngoài (Fama, 2012; Fama & Jensen, 2005). Những tiến bộ gần đây trong lý thuyết kinh tế cho thấy rằng HĐQT là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu quản trị của các tập đoàn kinh doanh lớn.

HĐQT, có quyền thuê, sa thải và quyết định lương thưởng cho các quản lý cấp cao nhằm giải quyết xung đột lợi ích giữa những người ra quyết định và những người chịu rủi ro còn lại - thường là các cổ đông (Baysinger & Bulter, 1985). Từ những định nghĩa QTCT, có thể thấy được tầm quan trọng cũng như sự phức tạp của QTCT. Chính vì sự phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều bên liên quan, các vấn đề về QTCT là không thể tránh khỏi. Ở cấp độ cơ bản nhất, vấn đề QTCT phát sinh bất cứ khi nào một nhà đầu tư bên ngoài mong muốn thực hiện quyền kiểm soát khác với người quản lý phụ trách công ty.

Phân tán quyền sở hữu phóng đại vấn đề bằng cách làm phát sinh xung đột lợi ích giữa các các chủ sở hữu công ty và bằng cách tạo ra một vấn đề hành động tập thể giữa các nhà đầu tư (Becht et al. Các nghiên cứu đều thừa nhận định nghĩa được sử dụng bởi các nguyên tắc của OECD (2004) vì định nghĩa này toàn diện và bao quát toàn bộ khuôn khổ QTCT. Theo các nguyên cứu cho rằng các công ty không chỉ kiểm soát và hướng vào mối quan hệ giữa các cổ đông, nhà quản lý và Hội đồng quản trị, mà còn có trách nhiệm đối với tất cả các bên liên quan. Do đó, quan điểm các bên liên quan được ủng hộ bởi 16 các nguyên tắc của OECD về QTCT cũng sẽ được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu này.2 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) Nhiều nhà học thuật trên thế giới đã đưa ra định nghĩa về CSR, tuy nhiên để đưa ra một định nghĩa đủ rộng và chính xác về CSR thì vẫn còn là một vấn đề phức tạp (Sheehy, 2014).

Một cách khái quát, có ba cách tiếp cận cổ điển được đưa ra đối với định nghĩa CSR: phía cổ đông, phía các bên liên quan và phía xã hội. Theo cách tiếp cận từ phía cổ đông, “CSR là tăng lợi nhuận” (Friedman, 1970). Cách tiếp cận này cũng có thể được hiểu là các DN kinh doanh quan tâm đến CSR “chỉ trong chừng mực nó đóng góp vào mục tiêu kinh doanh, đó là tạo ra giá trị lâu dài cho chủ sở hữu của DN” (Marrewijk, 2017). Theo cách tiếp cận từ phía các bên liên quan, các DN không chỉ chịu trách nhiệm trước những người nắm giữ cổ phần mà còn phải cân bằng nhiều lợi ích của các bên liên quan có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của DN (Freeman, 1984).

Theo cách tiếp cận từ phía xã hội, đây được coi là quan điểm rộng hơn về CSR, các công ty có trách nhiệm với toàn xã hội, trong đó các DN là một phần không thể thiếu. Các DN hoạt động theo sự đồng ý của công chúng (giấy phép hoạt động) nhằm “phục vụ các nhu cầu của xã hội và vì sự hài lòng của xã hội” (Marrewijk, 2017). Cách tiếp cận này đòi hỏi DN phải phản ứng (đưa ra chiến lược) đối với những hoàn cảnh thay đổi và những thách thức mới của công ty mà trước đây chưa từng xảy ra. Nó đòi hỏi các tổ chức phải xem xét lại về vị trí của họ và hành động trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay.

Có lẽ định nghĩa phổ biến nhất về CSR đến từ học giả kinh doanh Archie Carroll. Carroll đã định nghĩa CSR bằng cách mô tả bốn trách nhiệm sau: kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện. Cụ thể đó là: (1) trách nhiệm kinh tế trong việc sản xuất hàng hóa và sinh lợi; (2) trách nhiệm pháp lý tuân theo pháp luật; (3) trách nhiệm đạo đức để làm những gì đúng và công bằng ngoài những gì luật pháp yêu cầu; và (4) 17 trách nhiệm tự nguyện đóng góp cho mục đích xã hội, giáo dục, giải trí hoặc văn hóa thông qua những việc như từ thiện (Carroll, 1979). Gần đây, World Bank đã định nghĩa: “CSR là cam kết của DN trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, bằng cách hợp tác với người lao động, gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội nói chung để nâng cao chất lượng cuộc sống theo cách vừa tốt cho DN vừa tốt cho sự phát triển bền vững.

Nhìn chung, mặc dù ngôn từ biểu đạt khác nhau, tuy nhiên, hầu như tất cả các định nghĩa đều có điểm chung là ngoài mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của DN thì DN còn phải gắn liền hoạt động của mình với mục tiêu chung của xã hội. Vì vậy, trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa “CSR là cam kết của DN trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, bằng cách hợp tác với người lao động, gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội nói chung để nâng cao chất lượng cuộc sống theo cách vừa tốt cho DN vừa tốt cho sự phát triển bền vững” của World Bank vì tính phù hợp cũng như hoàn chỉnh của nó.3 Hiệu suất doanh nghiệp (Firm performance) Thuật ngữ “Firm performance” được các học giả dịch sang tiếng Việt là “hiệu quả hoạt động DN”, “kết quả kinh doanh” hay “hiệu suất doanh nghiệp”. Tuy nhiên, để sử dụng thuật ngữ này một cách thống nhất trong xuyên suốt bài nghiên cứu thì người viết quyết định chọn thuật ngữ “Hiệu suất doanh nghiệp” vì tính phù hợp của nó trong bối cảnh bài viết cũng như cách đo lường sẽ được đề cập ở chương tiếp theo. Thuật ngữ HSDN đã được bắt đầu định nghĩa từ những năm 1950, lúc này, HSDN được xem như là tương đương với hiệu quả của tổ chức – là mức độ mà một tổ chức có thể đạt được mục tiêu của nó trong sự giới hạn về nguồn lực mà không mất quá nhiều nỗ lực từ phía các thành viên của tổ chức đó.

Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá hiệu suất là năng suất, tính linh hoạt và sự cạnh tranh giữa các tổ chức (Georgopoulos & Tannenbaum, 1957). Sau đó, vào những năm 1960 và 1970, các tổ chức bắt đầu đưa ra những cách thức mới để đánh giá HSDN. Trong thời gian này, HSDN được định nghĩa là khả năng của 18 một tổ chức trong việc khai thác môi trường của mình để tiếp cận và sử dụng các nguồn lực có hạn (Seashore & Yuchtman, 1967). Lupton, Gribbin và Warmington (1977) đã đưa ra khái niệm về HSDN một cách chi tiết và rõ ràng nhất so với các nhà nghiên cứu khác trong cùng thời kỳ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu hiện tại có tiêu đề trống, vì vậy chúng ta không thể tóm tắt nội dung cụ thể. Tuy nhiên, dựa trên danh sách tài liệu được cung cấp, có thể suy đoán rằng bạn đang tìm kiếm thông tin liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, luật pháp và marketing.

Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Nếu bạn quan tâm đến lĩnh vực tài chính và kinh tế, hãy xem xét Income inequality and financial stability how relevant is financial inclusion evidence from cross country analysis để hiểu rõ hơn về sự bất bình đẳng thu nhập và sự ổn định tài chính. Hoặc tìm hiểu Cấu trúc tài sản cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam để nắm bắt cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết.

Nếu bạn quan tâm đến mảng marketing và hành vi người tiêu dùng, tài liệu Sự thu hút của bao bì bánh kẹo màu nóng đến ý định mua hàng của người tiêu dùng thông qua tác động trung gian của các yếu tố cảm nhận hương vị nhận thức sức khỏe và cảm nhận niềm vui có thể cung cấp thông tin hữu ích về tác động của bao bì sản phẩm đến quyết định mua hàng.

Mỗi liên kết này là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề khác nhau, mở rộng kiến thức và có được những góc nhìn đa chiều.