mở đầu bằng cách trình bày các lý do dẫn đến việc lựa chọn và hình thành đề tài nghiên cứu của tác giả, tiếp theo là phần tổng quan về tính hình nghiên cứu trong và ngoài nước. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng sẽ được trình bày lần lượt một cách ngắn gọn và đầy đủ nhất trong chương này. Bên cạnh đó, tác giả nêu ra ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn kỳ vọng sẽ đạt được thông qua nghiên cứu, cuối cùng là phần giới thiệu sơ lược về kết cấu của chung luận văn. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này thể hiện nội dung liên quan đến các khái niệm nghiên cứu, trình bày các lý thuyết nền tảng làm cơ sở xây dựng mô hình, đồng thời thông qua tổng quan các nghiên cứu trước đây tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố, từ đó đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho đề tài.1 Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu 2.1 Ví điện tử Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP nêu rõ: Ví điện tử (sau đây có thể gọi tắt là VĐT) là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính,…); cho phép lưu trữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.
Đồng thời, theo Điều 2 Thông tư 39/2014/TT-NHNN, Ví điện tử được xem là một trong các loại dịch vụ thanh toán trung gian, là một công cụ hỗ trợ cho dịch vụ thanh toán. Ví điện tử là một trong những đổi mới tài chính phát triển nhanh nhất, khái niệm về công nghệ này có thể được hiểu là nơi tiền có thể được lưu trữ và các giao dịch có thể được thực hiện kỹ thuật số thông qua thiết bị di động (Chawla & Joshi, 2019; Jenkins, 2008). Ví điện tử là một phương thức không dùng tiền mặt thuận tiện để thực hiện chuyển khoản/thanh toán cho người dân/người bán thông qua điện thoại thông minh và hoạt động bằng cách lưu trữ tiền từ tài khoản ngân hàng bằng thẻ ghi nợ/thẻ tín dụng hoặc ngân hàng trực tuyến vào tài khoản ví điện tử có sẵn trên một điện thoại thông minh hoặc máy tính (Bagla & Sancheti, 2018). Ví điện tử có thể được sử dụng để lưu trữ các thông tin như số thẻ tín dụng, danh tính chủ sở hữu, thông tin liên hệ, thông tin giao hàng hoặc thanh toán bao gồm địa chỉ khách hàng và các thông tin khác được sử dụng tại thời điểm thanh toán trên trang thương mại điện tử (Junadi, 2015).
14 Tại Việt Nam, ví điện tử được hiểu là một tài khoản điện tử định danh theo từng người dùng, được đăng nhập trên một ứng dụng (và/hoặc trang web) do đơn vị cung ứng dịch vụ ví điện tử phát triển để thực hiện các giao dịch chuyển/nhận tiền, thanh toán hàng hoá dịch vụ và các tiện ích mở rộng khác. Một số thương hiệu ví điện tử phổ biến và chiếm thị phần lớn trên thị trường hiện nay có kể kể đến như: MoMo, ZaloPay, ViettelPay, VNPAY, AirPay,… 2.2 Trò chơi hoá (Gamification) Trò chơi hoá (hay Gamification) đã được diễn giải theo nhiều cách, bắt đầu với những tuyên bố chung chung như việc tích hợp các cơ chế trò chơi (Hamari, 2013). Sau đó, khái niệm này phát triển thành thiết kế dịch vụ nhằm cung cấp cho người tiêu dùng trải nghiệm giống như trò chơi, phổ biến nhất là tác động đến hành vi của người dùng (Hamari & Koivisto, 2013). Trò chơi hoá được định nghĩa là việc triển khai áp dụng các yếu tố trò chơi trong bối cảnh phi trò chơi (Deterding & cộng sự, 2011) để thu hút người dùng và khiến họ thích thú khi sử dụng sản phẩm dịch vụ.
Trong thanh toán di động, các yếu tố trò chơi hoá có thể ở dạng thu thập điểm hoặc huy hiệu và nhận phần thưởng khi thanh toán, mua hàng, khi đó người dùng sẽ cảm thấy thú vị hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ (Putri & cộng sự, 2019). Trò chơi hoá là quá trình tích hợp trải nghiệm trò chơi vào một dịch vụ để hỗ trợ việc tạo ra giá trị tổng thể của người dùng (Huotari & Hamari, 2017). Tác động đáng kể nhất của trò chơi hoá là khả năng để nâng cao sự tham gia và động lực của người dùng (Nugroho, 2024), thúc đẩy và khuyến khích họ thực hiện nhiệm vụ cụ thể một cách thú vị (Koivisto & Hamari, 2019). Điều này liên quan đến việc thiết kế các sản phẩm được trò chơi hoá với các yếu tố như khuyến mại, phần thưởng, thành tích và sự thích thú để khơi gợi phản hồi tích cực của người dùng (Dang Thi Viet Duc & cộng sự, 2024).
Trò chơi hoá cũng có thể được hiểu là sự kết hợp phức tạp giữa các khía cạnh của dịch vụ và trò chơi, nó đã được sử dụng rộng rãi trong tiếp thị để đảm bảo nền tảng tích hợp được tiếp tục sử dụng (Kusumawardani & cộng sự, 2023). Theo Bittner & Shipper (2014), trò chơi hoá có thể gây ra phản ứng cảm xúc ở người dùng, chẳng hạn như cảm giác nghiện, nhận thấy tính hữu ích, sự thích thú và 15 tò mò. Khía cạnh thực dụng của trò chơi hoá thường gắn liền với tính hữu dụng và dễ sử dụng của nó, tuy nhiên, trò chơi hoá cũng bao gồm khía cạnh hưởng thụ vì trò chơi hoá cung cấp các yếu tố mang lại sự thích thú và tương tác vui tươi trong các ứng dụng không phải trò chơi (Hamari & Koivisto, 2015). Như vậy, trò chơi hoá trên ứng dụng ví điện tử có thể hiểu là việc các đơn vị cung ứng dịch vụ ví điện tử tích hợp vào ứng dụng của mình một số thiết kế có dạng trò chơi để tạo ra các cơ chế thử thách, nhiệm vụ liên quan đến sản phẩm của mình như chuyển tiền, thanh toán hoá đơn, mua sắm,…và các phần thưởng tương ứng kèm theo khi khách hàng vượt qua thử thách hoặc hoàn thành các nhiệm vụ đó theo quy định nhằm khuyến khích khách hàng tham gia tương tác với ứng dụng.
Tại Việt Nam, một số đơn vị cung ứng dịch vụ ví điện tử đã tích hợp rất thành công trò chơi hoá vào nền tảng của mình, trong đó phải kể đến hàng loạt trò chơi nổi bật của thương hiệu ví điện tử MoMo như Lắc xì (diễn ra vào dịp Tết âm lịch hàng năm), Heo Đất MoMo (khuyến khích nâng cao sức khoẻ và làm từ thiện), Học viện MoMo (trò chơi trả lời câu hỏi với kiến thức trong nhiều lĩnh vực),. Ngoài ra, một số trò chơi khác như Đua Thuyền Rước Ngọc trên ZaloPay, Sưu Tầm Ngọc Rồng trên Viettel Money, Rồng Vàng Phát Lộc trên VNPAY,.cũng được các đơn vị cung ứng dịch vụ ví điện tử này triển khai và được khá đông khách hàng ủng hộ trong những năm gần đây.3 Ý định hành vi khách hàng Ý định là một yếu tố tạo động lực, nó thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng, được quyết định bởi ý định hành vi (Ajzen & Fishbein, 1975). Ý định hành vi (Behavioural Intention) là một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định.
Ý định hành vi được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi, đồng thời cũng dựa trên thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. Do vậy, kết quả của việc phân tích ý định hành vi sẽ giúp ích rất nhiều cho việc dự đoán hành vi của con người (Oliver, Rust & Varki, 1997; Ajzen, 2002).1 Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ví điện tử Nghiên cứu của Bhattacherjee (2001) cho rằng, việc tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin (IS) sau khi chấp nhận ban đầu được định nghĩa là quyết định của người dùng về việc tiếp tục sử dụng một hệ thống thông tin cụ thể trong tương lai. Theo nghiên cứu này mô tả, ý định tiếp tục sử dụng là mức độ mà người dùng có ý định sử dụng lại một sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên những trải nghiệm sử dụng trước đó. Theo quan điểm của Ranaweera & Prabhu (2003), ý định hành vi tiếp tục sử dụng là xu hướng mà khách hàng ở lại với nhà cung cấp dịch vụ của họ trong tương lai.
Như vậy có thể thấy được, ý định là một yếu tố thúc đẩy con người thực hiện hành vi, mà hành vi trong trường hợp này là tiếp tục sử dụng dịch vụ ví điện tử. Vì thế, ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ví điện tử có thể được hiểu là trạng thái sẵn sàng của khách hàng để sử dụng liên tục dịch vụ ví điện tử trong tương lai.2 Ý định truyền miệng dịch vụ ví điện tử Truyền miệng là hình thức truyền thông trực tiếp từ một cá nhân này đến một cá nhân khác về một thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ hay vấn đề nào đó, mà giữa các cá nhân này được xem như là phi thương mại (Arndt, 1967). Hoạt động này là biểu hiện của hành động có chủ ý do các nhu cầu khác nhau (Berger, 2014). Truyền miệng cung cấp thông tin quan trọng liên quan đến một công ty cho người tiêu dùng, thường hỗ trợ họ trong việc quyết định có nên ủng hộ hay không (Yoo & cộng sự, 2015).
East & cộng sự (2008) cho rằng, lời truyền miệng tích cực sẽ khuyến khích sự lựa chọn thương hiệu, và ngược lại, truyền miệng tiêu cực làm nản lòng việc lựa chọn thương hiệu. Từ đó có thể hiểu, ý định truyền miệng dịch vụ ví điện tử trong nghiên cứu này là một trạng thái hay một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của khách hàng để lan truyền cho người khác những thông tin, trải nghiệm, nhận xét và đánh giá tích cực liên quan đến dịch vụ, thương hiệu ví điện tử mà họ sử dụng.2 Các lý thuyết và mô hình liên quan đến nghiên cứu 2.