NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CON NGƯỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ ĐỜI TRẦN • GV hướng dẫn: PGS. Đoàn Thị Thu Vân • Nhóm thực hiện: Nhóm 2 (K31CHVB) Mục lục Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.Văn học Việt Nam thời Trần 1. Khái niệm “nhân văn” và “con người nhân văn” Chương II NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CON NGƯỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ ĐỜI TRẦN. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình 2.
Khát vọng tự do sống hết mình với vạn vật và tha nhân. Tấm lòng trong sáng, thanh cao, sự xung đột giữa nhiệt tâm cống hiến và mong muốn trở về. Sự mẫn cảm tinh tế của tâm hồn trước thiên nhiên, cuộc sống và những giây phút buông mình, hoà điệu cùng vạn vật, vũ trụ. Sự gặp gỡ giữa con người thiền sư và con người nghệ sĩ trong tâm hồn đa cảm, chan chứa tình đời.
Cảm hứng phiêu du và những trầm tư trước cuộc đời trong giai đoạn tiếp nối giữa thịnh Trần và vãn Trần. Vẻ đẹp của lương tri người tri thức thời vãn Trần. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Văn học Việt Nam thời Trần • Giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225-1400) • Đạt được thành tựu trên nhiều phương diện khác nhau.
Văn học Việt Nam thời Trần Nhiều nhà văn, thơ kiệt xuất phát triển Nhiều thiên tài quân nền văn hóa thuần túy sự chiến công Việt Nam, tự tin và ý thức độc lập 1. Văn học Việt Nam thời Trần Hai lí do dẫn đến thành tựu của văn học: + Tuy trải qua nhiều tai biến binh đao, các vua nhà Trần không hề xao lãng trong việc khuyến khích sự học + Từ đời Thuận Tông trở về trước, việc học chú trọng về kinh thuật, đào tạo cho người học có bản lĩnh suy luận cơ bản, không chú trọng lối học từ chương Văn học khí cốt, không uỷ mị, non nớt 1. Văn học Việt Nam thời Trần Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng: + Sự ảnh hưởng và tác động của Phật giáo + Không ít các vị vua, quan là thiền sư hoặc thiền gia, cư sĩ (Trần Nhân Tông, trường phái Trúc Lâm) + Thơ Thiền được vinh dự là một bộ phận văn học 1. Văn học Việt Nam thời Trần Nếu như thơ Thiền thời kì đầu (thời Lí) mang đậm chất triết lí sâu xa có phần khó hiểu, thể hiện trí tuệ uyên áo của các nhà sư, thì thơ Thiền thời kì sau (thời Trần) cũng những triết lí ấy, cũng biểu hiện trí tuệ ấy nhưng có phần “cởi mở” hơn, nghĩa là gần gũi và dễ hiểu hơn, chan hòa hơn, ở đó, ranh giới giữa thơ và Thiền dường như không phân định rõ, nó vừa là thơ mà cũng vừa là triết lí của đạo Phật.
Văn học Việt Một số tác giả tiêu biểu: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Nam thời Trần Khải, Trương Hán Siêu, Hồ Quý Ly….2 Khái niệm “nhân văn” và “con người nhân văn” • “Nhân bản” là lấy con người làm gốc • “Nhân đạo” là đường đi của con người • “Nhân văn” có thể hiểu như là những giá trị đẹp đẽ của con người thể hiện con người với những nét đẹp của nó, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách… • “Con người”: hình tượng nghệ thuật về con người 1.2 Khái niệm “nhân văn” và “con người nhân văn” • “Con người nhân văn” được hiểu như là hình tượng nghệ thuật về con người mang tính nhân văn, tức con người mang vẻ đẹp người (về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh…) • Tiêu chí để đánh giá giá trị thơ ca của một thời đại, đồng thời cho thấy thiên hướng nghệ thuật của thơ ca thời đại bấy giờ. Khát vọng thẩm mỹ Chương II: Những đặc trưng của con người nhân văn trong thơ đời Trần 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con • Bên cạnh những vần người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình thơ hào hùng ca ngợi chiến thắng oanh liệt của nhà Trần, còn có vần thơ mang đậm triết lí của nhà Phật chứa đựng những tư tưởng nhân văn sâu sắc về con người hướng nội để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp người, sự tồn tại của đời người. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Trần Thái Tông thì luôn trăn trở về thân phận con người, ngẫm nghiệm và cảm nhận con người bằng nhiều hình ảnh khác nhau.
• “Thân như băng gặp nắng trời, Mệnh tựa ngọn đèn trước gió” , “Kiếp người như cây nấm cứ tuần tự hết thịnh rồi suy”, “bóng ngả nương dâu chiều sắp muộn”, “cỏ bồ, tơ liễu tạm bợ qua mùa thu” ý nghĩa nhân văn ở chỗ nhắc nhở mọi người quay đầu nhìn lại để sống thế nào cho có ý nghĩa, tránh lãng phí cuộc đời với những thứ phù du. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Cần biết vượt khỏi cái chấp vào không hay có để đạt đến một cuộc sống bình dị, ý nghĩa như lời Tuệ Trung: “Hành diệc thiền, tọa diệc thiền Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên” (Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền Trong lửa lò hồng một đóa sen) Đóa sen này là biểu tượng cho cái gì hằng thường bất diệt, vượt lên trên luật sinh diệt của cõi trần. Tâm giác ngộ thì không có lò lửa trần nào thiêu đốt được 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Cần phải học cách tu dưỡng tâm thiền: “Đốt đốt phù vân hề, phú quý! Hu hu quá khích hề, niên quang!” (Phóng cuồng ngâm) (Chà chà, giàu sang như áng mây nổi! Chao ôi, năm tháng như bóng ngựa chạy qua khe cửa!) (Bài ngâm cuồng phóng) 2.
Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Trần Thánh Tông thì nói về sự thể nghiệm chân lí cuộc đời của chính bản thân mình: Hơn bốn mươi năm đã tu vẹn được một tấm lòng, Đã nhảy ra khỏi vạn tầng cửa tù ngục. Khi động thì như gió vang trong hang trống, Khi tĩnh thì như ánh trăng lọt xuống đầm lạnh. Nghĩa lí của câu văn tự mình đã hiểu thấu được năm điều Trên con đường mặc sức dọc ngang với mười chữ Có người hỏi ta thế nào là sự biến diệt, Như mây trên trời xanh và như nước ở trong bình. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình Đạt đạo, thanh thản, an vui, không vướng mắc (lợi danh, tín điều,.) thấu trải ý nghĩa huyền diệu.
Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Trần Nhân Tông sau những thăng trầm, biến cải của cuộc đời đã nhận thức được lẽ “sắc không” của đời người, chấp nhận nó một cách tự nhiên như là quy luật tất yếu: Ai trói buộc mà phải đi tìm giải thoát? Không phàm tục thì cần gì phải đi kiếm thần tiên? Con vượn rảnh rỗi, ngựa mỏi, người cũng đã già, Một chiếc giường thiền ở nơi am mây vẫn như xưa 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Trong bài Xuân vãn, Trần Nhân Tông cũng đã nói về giây phút phản tỉnh của mình: Tuổi trẻ chưa từng hiểu rõ lẽ sắc không, Mỗi lần xuân đến vẫn gửi lòng nơi trăm hoa. Ngày nay khám phá ra bộ mặt thật của chúa xuân, Ngồi trên đệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa rụng Soi xét hành vi của bản thân, làm được gì, chưa làm được, để đánh giá chính mình và tự hiểu mình 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Con người trở về với chính mình, sống thực với mình vào những thời khắc hết sức nhạy cảm như đêm khuya, đêm mưa khi trong lòng mang đầy tâm sự hay khi gặp những điều thất bại trong cuộc sống,.
Trần Minh Tông tự phản tỉnh ngay khi mình đang ở trên ngôi cao, nắm giữ trong tay quyền cai quản thiên hạ. Tự biết sai lầm của mình ba mươi năm trước, Đành ôm nỗi sầu ngồi nghe mưa rơi 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình • Một nỗi buồn nào đó đang lẫn khuất trong không gian con người thức trắng để đếm thời gian, nghe giọt mưa tĩnh lặng tuyệt đối về lỗi lầm 3 năm trước (giết oan Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn) 2. Sự phản tỉnh để nhận thức rõ về thân phận con người, nỗi cô đơn, những giới hạn của đời người và những lỗi lầm của chính mình Một nền văn học giàu khí sắc, trong đó thơ ca đã để lại dấu ấn sâu sắc về tác giả - những con người từng tự hào cùng với gió lộng, trăng cao, đối diện, phản tư để cất lên tiếng nói của lương tri.2 Khát vọng tự do sống hết mình với vạn vật và tha nhân 2.2 Khát vọng tự do sống hết mình với vạn vật và tha nhân • Con người thời Trần luôn khát khao hướng đến sự tự do phóng khoáng.
Đó là sự thoải mái không ràng buộc về thân thể về hành động, tư tưởng suy nghĩ. • Con người đời Trần vượt qua những khuôn khổ mực thước chật hẹp để hướng đến sự rộng lớn khoáng đạt của thiên nhiên, vũ trụ 2.2 Khát vọng tự do sống hết mình với vạn vật và tha nhân Con người đời Trần hiện lên với khát vọng tự do thường hiện lên gắn với không gian rộng lớn khoáng đạt của thiên nhiên. “Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang, Sơn thanh thuỷ lục hựu thu quang. Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại, Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.2 Khát vọng tự do sống hết mình với vạn vật và tha nhân Trong không gian ấy chỉ còn con người cùng vạn vật đất trời không trói buộc không một mối vướng bận hiện ra.
“Triêu du phù vân kiệu, Mộ túc minh nguyệt loan.